Rome, Ý
Bước ra khỏi bệnh viện trong ráng chiều u ám ở nội ô thành Rome, trung úy Rachel Verona hít một hơi thật sâu khí trời hanh khô của mùa thu, dường như nỗi lo lắng cũng vơi đi. Mùi khó chịu của chất tẩy uế rõ ràng đã át mất mùi của những cơ thể nằm tiều tụy trên giường. Lúc nào ở bệnh viện cũng xộc lên một mùi đáng sợ.
Lần đầu tiên trong mấy năm qua, cô ước có một điếu thuốc, hoặc bất cứ thứ gì hút để có thể thổi ra nỗi sợ lớn dần trong cô khi từng giờ cứ trôi qua mà chú của cô vẫn hôn mêChú ấy được gắn mấy đường ống thở; thêm mấy cái điện cực nối máy theo dõi các dấu hiệu sự sống; và máy hô hấp nhân tạo làm cho ngực ông phình lên và xẹp xuống liên tục. Trông ông như già hơn chục tuổi, đôi mắt thâm đen, còn đầu thì bị cạo trọc và quấn băng. Các bác sĩ giải thích rằng chú cô đang trong tình trạng xuất huyết và nứt sọ nhẹ. Họ đang theo dõi kỹ áp lực trong sọ của ông. Xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh cộng hưởng từ MRI cho thấy không có tổn thương não, nhưng ông vẫn còn bất tỉnh làm các bác sĩ lo ngại. Theo báo cáo của cảnh sát và y khoa, cha Vigor đã được đưa đến đây trong tình trạng nửa hôn mê. Trước khi hoàn toàn bất tỉnh, ông cứ lặp đi lặp lại một từ, cứ như ông đã phát cuồng.
Morte.
Tức là cái chết.
Nhưng điều đó nghĩa là gì? Liệu cha Vigor có biết đã xảy ra chuyện gì với vị cha xứ kia không? Hay chỉ là cơn mê sảng?
Không ai có thể hỏi ông được. Ông vẫn chưa thể trả lời.
Điều đó khiến cô lo lắng. Cả ngày nắm bàn tay ông, thỉnh thoảng siết chặt, cô thầm cầu nguyện sẽ có chút dấu hiệu hồi phục. Nhưng mấy ngón tay ông vẫn buông thong, làn da lạnh ngắt, như thể không còn sự sống nữa.
Điều làm Rache đau đớn nhất là cô không thể giúp gì được chú mình. Chú Vigor đã một tay nuôi cô trưởng thành và cũng là người thân còn lại duy nhất của cô. Bởi vậy, cô ở bên ông suốt cả ngày, chỉ dành chút thời gian buổi tối để gọi điện đến Mỹ.
Gray sẽ đến đây vào sáng mai.
Đây là tin vui duy nhất trong suốt 24 tiếng qua. Dù không thể giúpgì về mặt y học, nhưng cô có thể dùng nguồn điều tra của mình để khám phá ra sự đến tổ chức Interpol và Europol. Mọi người dường như đều nhất trí cho rằng đây làcuộc tấn công khủng bố. Nhận định này chủ yếu xuất phát từ cuộc giải phẫu tử thi của vị cha xứ xấu số. Một dấu hiệu lạ đã được lưu lại bằng cách đốt trên trán ông.
Chắc chắn có người muốn để lại thông điệp gì đó. Nhưng nội dung của nó là gì và ai đã gửi nó? Cho đến bây giờ vẫn chưa nhóm nào đứng ra nhận trách nhiệm.
Rachel biết cách nhanh nhất để tìm ra sự thật là tự đi điều tra, như thu hẹp phạm vi lại, khoa học hơn so với cách làm phức tạp hiện tại của mấy tổ chức đó.
Do đó, cô dã gọi cho Gray. Dù lời cầu xin giúp đỡ như vậy thật khó xử về mặt cá nhân, nhưng cô nhận ra nếu muốn khám phá sự thật thì cô cần có nguồn thông tin toàn cầu của Sigma, cũng như cô không thể hành động một mình. Cô cần nhờ người có thể hoàn toàn tin cậy được. Đó chính là Gray.
Nhưng liệu cuộc gọi đó chỉ đơn thuần vì chuyên môn?
Cô dẹp suy nghĩ cuối đó sang một bên khi băng qua bãi đậu xe của bệnh viện. Đến chỗ đậu chiếc xe Mini Cooper màu xanh dương của mình, cô bước lên xe và lái một vòng thành Rome. Cô lướt qua đồi, làn gió tươi mát làm đầu óc cô nhẹ hẳn, cho đến lúc có chiếc xe bus nhỏ chạy ào xuống phía trước mặt cô, xả khói ào ạt.
Rachel ngoặt xe khỏi con lộ chính rồi rẽ vào mấy con đường nhỏ có đầy các cửa hiệu, quán cà phê, và nhà hàng ở bên đường. Trước đó, cô đã dự định lái thẳng về căn hộ của mình, nghỉ ngơi và suy nghĩ cho ngày mai, thay vào đó cô chạy xe về hướng sông Tiber. Sau vài ngã rẽ, vòm sáng của thánh đường Thánh Peter đã hiện ra ở phía bờ xa.
Cô tiếp tục theo dòng xe hướng đến mục tiêu. Toàn thành phố Vatican đã bị cấm lai vãng từ sau vụ nổ. Ngay cả Giáo hoàng cũng được đưa đến dinh thự mùa hè ở Castel Gandolfo vì lí do an ninh. Nhưng tất cả không ngăn được dòng người đến tham quan và dòm ngó. Nếu có thì chính là sự tò mò của đám đông.
Do tắc nghẽn nên Rachel phải mất thêm nửa tiếng mới tìm được chỗ đậu xe. Đến lúc cô tới chỗ cảnh sát đặt chướng ngại vật phong tỏa quảng trường danh tiếng thì màn đêm bắt đầu buông xuống. Quảng trường Thánh Peter thường rất đông đúc các tín đồ, con chiên, nhưng lúc này, gần như trống rỗng. Chỉ có vài người đàn ông mặc đồng phục tuần tra các cột và trong quảng trường mở. Một người đứng ngay dưới chân đài tưởng niệm của Ai Cập nằm giữa khu quảng trường. Mấy người họ đều có đeo súng trường trên vai.
Rachel xuất trình giấy ủy nhiệm tại hàng rào chắn.
Viên cảnh sát cau mày. Người nàytrông trung niên, bụng phệ, đứng hơi kiềng chân. Cảnh sát thành phố và cảnh vệ hoàng gia không phải lúc nào cũng hợp tác với nhau.
“Tại sao cô đến đây?” ông ta hỏi cộc lốc. “Tại sao vụ tấn công này lại làm Phòng Bảo tồn di sản văn hóa quan tâm chứ?”
Đây là một câu hỏi đúng. Cơ quan của cô chịu trách nhiệm giám sát bọn trộm tác phẩm nghệ thuật và thị trường chợ đen kinh doanh di vật cổ. Không việc gì họ phải quan tâm đến tình hình khủng bố trong nước cả. Cô không hề được ủy quyền tới đây. Thật sự, do có mối liên quan với một trong những nạn nhân, nên cô đã bị cảnh báo đặc biệt không được đến gần.
Nhưng cô lại muốn tận mắt chứng kiến hiện trường vụ án.
Rachel nuốt nước bọt và chỉ về phía trước. “Tôi đến đây để lập danh sách và báo cáo về khu vực phát nổ, kiểm tra xem có tác phẩm nghệ thuật nào bị mất cắp sau vụ nổ không?”
“Ra là công việc thư kí.” Giọng ông ta khinh khỉnh. “Thế mới cử phụ nữ đến đây.”
Rachel sẽ không mắc bẫy dễ vậy. Cô cố giữ bình tĩnh. “Nếu ông cứ làm khó thì sẽ muộn mất, tôi có nhiều việc cần phải làm.”
Ông ta miễn cưỡng nhún vai và khẽ nhích người sang một bên. Cô phải lách qua người ông ta mới vào được. Rồi ông ta như tựa vào cô, đè ép cô, cố hăm he cô bằng thân hình đồ sộ. Rachel biết rõ trò này. Làm việc trong tổ chức hầu hết là nam giới, cô đã quen với cách đối xử đe dọa hay ve vãn rồi.
Cơn giận chợt ngay lập tức đốt cháy nỗi lo âu của cô. Cô bước qua kẻ vũ phu mà chắc rằng đã đạp gót giày lên mu bàn chân hắn. Cô cố tình dậm mạnh chân lúc đi ngang qua hắn ta.
Hắn quát lên ngạc nhiên và nhảy lùi lại.
“Xin lỗi nha,” cô lạnh lùng xin lỗi, bước tiếp vào quảng trường mà không hề ngoái đầu lại.
“Chết tiệt!” hắn ta chửi với theo.
Cô không thèm để ý đến hắn khi băng qua khu quảng trường trống trải. Bên nào cũng có hàng cột của Bernini vây lấy cô. Cô thấy mình bước vội hơn khi lướt qua đài tưởng niệm và đài phun nước rồi tiếp bước về phía mấy cánh cửa chính dẫn đến nhà thờ. Phía trên đầu, khoảng rộng mái vòm của Michelangelo rực sáng dưới bầu trời đêm.
Lúc đi giữa hai bức tượng khổng lồ của Thánh Peter và Thánh Paul đứng canh gác trước nhà thờ, cô liếc thấy dòng chữ khắc dưới thanh gươm của Thánh tông đồ Paul. Theo tiếng Do Thái có nghĩa là Tôi có thể làm mọi thứ trong tay người truyền cho tôi sức mạnh. Cô không đọc được chữ Do Thái, nhưng chú Vigor đã dạy cho cô mấy chữ đó khi còn bé. Những thông điệp này cũng như kí ức về người chú như tiếp thêm nghị lực cho cô.
Với quyết tâm khám phá, cô theo lối bậc thang đến cửa vào Thánh đường Peter. Cửa không khóa. Băng qua cổng thờ, cô bước vào gian giữa giáo đường. Trải dài trước mắt cô là khoảng rộng gần hai trăm mét. Bên trong nhà thờ tối tăm chỉ lác đác có vài ánh nến thắp tạ ơn, còn ở phía cuối tít đằng xa là bàn thờ thánh được thắp sáng bởi những cây đèn Natri cầm tay. Ngay tại đây, Rachel đã phát hiện ra dấu chéo tội lỗi kia.
Vụ nổ xảy ra tại khu vực tụng niệm nằm phía sau bàn thờ chính. Cô tiến xuống lối đi ở giữa, không màng đến các tác phẩm nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử quý giá hiện diện xung quanh. Cô chỉ tập trung vào mục tiêu.
Đến bên bàn thờ chính, cô đứng sát bên ngoài hiện trường vụ án. Vào giờ này, nơi đây rất vắng vẻ. Trong hai ngày qua, các nhân viên điều tra và chuyên gia đã lui tới đây với túi đựng bằng chứng, bàn chải, giẻ lau, ống và nhiều lọ hóa chất. Người ta khám phá ra rằng chất nổ là một dạng hợp chất heptanitrocubane nén, một loại hóa chất mới với sức công phá khủng khiếp.
Rachel cảm thấy rùng mình khi nhìn xuống sàn cẩm thạch bị cháy sém. Đây là vết tích duy nhất còn sót lại của cuộc tấn công . Ngay cả vết máu cũng đã bị lau sạch. Còn sàn nhà vẫn được đánh dấu bằng dây, cho thấy kiểu rơi và ước tính đường ném của bom. Ở phía xa khu vực tụng niệm, cóđường phấn vẽ nơi cha Marco Giovanni trút hơi thở cuối cùng. Ông được tìm thấy tại chân bàn thờ Thánh Peter, phía trên là cửa sổ thạch cao tuyết hoa có hình chim bồ câu thể hiện tinh thần Thiên chúa giáo.
Rachel đã từng đọc bản lí lịch của vị cha xứ trẻ tuổi này. Ông từng là học trò của chú cô, cũng là đồng môn nghiên cứu khảo cổ ở Vatican. Theo hồ sơ thì ông từng sống ở Ailen trong 10 năm qua, nghiên cứu cội nguồn của dòng Cơ đốc giáo theo hệ Celti, cũng như sự hợp nhất trước đây giữa nghi thức hành lễ không theo đạo Cơ đốc và tín ngưỡng Cơ đốc. Ông chủ yếu tập trung vào truyền thuyết xung quanh Black Madonna, một nhân vật thường là hình mẫu của sự hợp nhất của Mẹ Trái đất không theo đạo Cơ đốc với Đức Mẹ Đồng trinh.
Tại sao nhà khảo cổ này lại trở thành mục tiêu bị ám sát? Hay chỉ là ngẫu nhiên? Liệu chú cô và học trò của ông có đến nhầm chỗ và nhầm lúc không?
Không có lập luận nào hợp lý cả.
Rachel đành chấp nhận và quay đi. Họ tìm thấy chú cô nằm bẹp rúm cạnh bàn thờ thánh, bị sức nổ thổi văng ra, nhưng còn khá tỉnh.
Không muốn phá hỏng hiện trường vụ án, Rachel đi vòng khu vực bên ngoài khu đánh dấu. Cô leo lên hai bậc thang về phía cánh trái của khu tụng niệm. Chỗ này rất hẹp. Cô len lỏi dọc theo tượng đài Giáo hoàng Paul III, cùng các tượng của thần Đức hạnh, Công bằng và Thận trọng, được xây theo hình mẫu người chị và người mẹ đã mất của Giáo hoàng.
Cô bước chậm lại.
Mình đang làm gì ở đây vậy?
Rachel chợt cảm nhận rõ không khí yên ắng như hầm mộ ở thánh đường này, của những niên đại và cái chết, của những cụm mồ mả xung quanh và dưới chân cô. Dọc khu tụng niệm, phía xa hiện trường, sự hiện diện của lăng mộ Giáo hoàng Urban VIII cũng chẳng giúp ích được gì trong việc làm nhẹ bớt cảm giác khó chịu này. Bức tượng đồng của Giáo hoàng ngự trên đỉnh của đài tưởng niệm, tay giơ raban phúc lành. Nhưng dưới chân ông lại là mộ của chính ông, trên đỉnh mộ có một bộ xương bằng bạc nữa. Một bàn tay xương xẩu giơ lên như bị đông cứng khi viết tên của vị Giáo hoàng quá cố trên một cuộn giấy mở.
Rachel run rẩy khi thấy cảnh đó.
Bình thường cô không mê tín lắm. Nhưng giờ chú Vigor đang cận kề cái chết như vậy. Nếu lỡ cô mất ông thì sao…?
Cô muốn quay đi, nhưng cứ mải nhìn bức tượng rùng rợn đó, biểu tượng của thần Chết. Rồi cô nhớ lại. Gió rít chợt lùa qua làm cô dựng tóc gáy.
Cái chết.
Cô lầm bầm thốt ra một từ mà chú Vigor đã không ngừng nói khi hôn mê. “Morte.”
Cô quan sát kĩ bức tượng bằng đồng thiếc đứng khom mình trên đỉnh lăng mộ. Liệu rằng chú Virgo có đang cố nói cho họ biết điều gì chăng, điêu mà chú đã biết?
Rachel vội vã trở lại hiện trường đã bị rào chắn và tiến tới phía bên kia của khu tụng niệm. Cô nhón gót để nhìn gần một bức tượng mà cô đã bỏ sót cho dù đã quan sát kỹ. Chính là cọng dây da màu nâu tiệp màu với màu đồng cũ.
Cô mang găng tay nhựa vào rồi leo lên bờ rìa của lăng mộ để lấy nó. Túm lấy sợi dây, cô phát hiện ra một chiếc túi nhỏ, khuất phân nửa phía sau bàn tay của Grim Reaper (Thần chết tàn ác). Cô nhảy xuống lại với chiến lợi phẩm. Phát hiện này liệu có giúp ích gì không? Hay đây chỉ là vật trang trí mà người mộ đạo hay du khách để lại thôi?

Cô chú ý thấy một dấu hiệu cháy sém vào da túi. Không có gì đáng kể. Đó chỉ là một đường xoắn ốc, như một loại bùa chú vậy.
Khá thất vọng, cô lật tiếp chiếc túi lên và bàng hoàng trước hình ảnh được khắc trên lớp da.

Một vòng tròn có dấu thập đè lên.
Cô đã thấy biểu tượng này rồi.
Trong báo cáo pháp y về thi thể của cha Marco Giovanni.
Ký hiệu tương tự đã được đóng lên trán người xấu số. Chắc hẳn rất quan trọng đây, nhưng có ý nghĩa gì chứ?
Rachel biết có một chỗ để tìm câu trả lời. Cô tháo chiếc túi và đổ hết vật bên trong ra lòng bàn tay. Cô lo lắng khi nhìn thấy một thứ. Nó tựa như một chiếc que nhỏ bị bôi đen. Cô đưa lại gần hơn - và chợt nhận ra mình đã phạm sai lầm.
Cái que có cái móng tay.
Hoảng sợ, cô đánh rơi nó.
Thứ cô cầm không phải là một cái que.
Mà là một ngón tay người.
★ ★ ★
2h55 chiều
Washington, DC.
Painter ngồi ở bàn làm việc trong văn phòng không có cửa sổ và lăn tròn lọ thuốc aspirin giữa hai bàn tayCơn đau làm mờ nhãn cầu cho ông biết mình sắp bị chứng đau nửa đầu. Ông lắc lọ aspirin và thầm ước có thứ gì mạnh hơn, cỡ như rượu mạch nha của Scotland.
Thế nhưng, ông muốn đổi tất cả để chỉ được cô bạn gái massage cổ mà thôi. Không may là bạn gái Lisa của ông đã sang Bờ Tây để thăm cậu em trai đang leo núi ở Yosemite. Đến tuần sau cô mới trở về. Vậy là ông phải tự mình tìm cách thư giãn ở Bayer Extra Strength.
Một tiếng vừa quaông đã liên tục phân tích dữ liệu và báo cáo, hầu hết vẫn còn nằm trên các màn hình LCD khổng lồ xung quanh bàn. Khi liếc nhìn một trong những màn hình, ông lại ước sao văn phòng mình có một cái cửa sổ. Có lẽ một phần trong con người Ấn của ông vẫn còn giữ bản chất của bộ lạc Mashantucket, muốn hòa mình vào thiên nhiên của trời xanh, cây cỏ, và nhịp điệu bình dị của cuộc sống thường nhật.
Nhưng điều đó vẫn chưa bao giờ xảy ra.
Cũng như các căn phòng còn lại trong bộ chỉ huy Sigma, phòng làm việc của ông nằm dưới lâu đài Smithsonian thuộc khuôn viên công viên quốc gia National Mall. Đây là khu vực ngầm nằm trong hầm tránh bom thời Thế chiến thứ hai của lâu đài. Địa điểm này được chọn vì vừa dễ tiếp cận tòa chính quyền lại vừa gần nhiều cơ sở nghiên cứu của Viện Smithsonian.
Lúc này, Painter chỉ ước ao có một ô cửa sổ. Cho đến nay, đây chính là ngôi nhà của ông trong suốt mấy năm qua. Nơi đây, ông được bảo vệ rất kỹ. Sau vụ đột kích năm ngoái, trung tâm Sigma vẫn còn đang được tu sửa. Tổn thất không chỉ dừng lại ở mấy bức tường bị cháy xém và thiết bị hư hại mà thực sự còn nặng nề hơn. Chính quyền bang Washington là một mạng lưới vô cùng phức tạp đan xen sự thù hằn,quyền lực, và tham vọng. Đây là nơi cá lớn nuốt cá bé xảy ra thường xuyên. Dù công bằng hay không thì vụ tấn công này đã làm lung lay vị trí của Sigma trong đội ngũ lực lượng tình báo Mỹ.
Tệ hơn nữa, Painter nghi ngờ rằng chủ đích của vụ phá hoại này còn ẩn chứa nhiều ẩn khuất. Có thể chủ mưu vụ này là chỉ huy của một phòng ban thuộc Cơ quan tình báo quốc phòng đã bị sa thải vì tội gián điệp, nhưng Painter không chắc lắm. Để thực hiện cuộc phá hoại này thì hẳn phải được hậu thuẫn, cũng có thể là thế lực ngầm trong mạng lưới chính quyền bang Washington.
Nhưng kẻ đó là ai?
Painter lắc đầu, rồi liếc nhìn đồng hồ. Câu hỏi đó cần có thời gian trả lời. Vài phút nữa đây, ông sẽ phải lao vào một cuộc chiến khốc liệt khác. Ông chưa sẵn sàng cho một cuộc đối đầu mới, nhưng không còn lựa chọn nào khác. Hai tiếng trước, ông đã có một cuộc tranh luận nảy lửa với Gray Pierce. Gray muốn Monk Kokalis tháp tùng mình tới Ý, nhưng Painter ngại rằng Monk chưa hồi phục để có thể thực hiện một điệp vụ lớn như vậy. Các kết quả y khoa và tâm lý chưa cho phép cộng sự của Gray có giấy chứng nhận sức khỏe tốt.
Hơn nữa, các thông tin từ Rome vẫn còn khá sơ sài. Painter còn do dự xem mật vụ nào của Sigma thích hợp đảm nhiệm trọng trách này nhất, và nguyên tắc khoa học nào có thể hỗ trợ Gray về mặt lý sinh học. Còn chuyên môn của Monk Kokalis là về pháp lý, vào lúc này có vẻ không cần thiết mấy. Nhận thấy điều này nên Gray đành chấp nhận, nhưng Painter cũng không để ông đi một mình. Cho đến khi thu thập được nhiều thông tin hơn thì điều Gray cần bây giờ là dưỡng sức.
Khi Painter cân nhắc có nên uống thêm một viên aspirin nữa không, thì hệ thống liên lạc trên bàn reo lên. Giọng Brant cất lên. “Thưa chỉ huy, có tướng Metcalf cần gặp.”
Painter đang mong chờ cuộc họp qua điện thoại. Ông đã đọc qua thư mật do Bộ chỉ huy DARPA gửi tới. Ông thở dài, nhấn nút nghe và xoay ghế lại đối diện với màn hình phía sau.
Màn hình đang tối bỗng sáng màu. Vị tướng ngồi phía sau bàn làm việc. Đó là Gregory Metcalf, một người Mỹ gốc Phi, đã tốt nghiệp trường West Point. Dù ở giữa độ tuổi năm mươi nhưng ông vẫn còn cường tráng và rắn rỏi như hồi giữ vị trí hậu vệ trong đội bóng của trường. Dấu hiệu tuổi già chỉ thể hiện qua mái tóc muối tiêu và cặp kính lão ông cầm bên tay trái. Sau khi Metcalf được bổ nhiệm làm chỉ huy của DARPA, thì Painter nhanh chóng nhận ra rằng không nên đánh giá thấp trí thông minh của ông ta.
Tuy nhiên vẫn còn sự dè chừng giữa hai người.
Vị tướng ngồi xích tới trước, không cần mào đầu mà vào thẳng vấn đề. “Anh đã đọc báo cáo tôi gửi về xung đột ở châu Phi chưa?”
Như vậy là đã lịch sự lắm rồi.
Painter đi tới một trong các màn hình. “Tôi đọc rồi, cũng như đã tham khảo báo cáo của NATO về vụ tấn công ở trại Chữ thập đỏ. Ngoài ra, tôi còn kiểm tra hồ sơ của công ty tiến hành cuộc thử nghiệm nông nghiệp ở đó nữa.”
“Rất tốt. Vậy thì tôi khỏi phải nói kể lại chi tiết nữa.
Painter cảm thấy khó chịu với sự hành hạ mình như vậy. “Nhưng tôi không hiểu có sự liên quan gì đến Sigma chứ?”
“Đó là do tôi chưa kịp nói với anh, ngài chỉ huy ạ.”
Cơn đau mắt của Painter càng nặng hơn.
Vị tướng gõ nhẹ vào bàn phím trước mặt. Màn hình biến mất, thay vào đó là một bức ảnh tĩnh điện hiện ra sát bên ông. Đó là bức ảnh của một thanh niên da trắng, bị lột sạch quần áo và treo trên một cột gỗ hình chữ thập ngay giữa cánh đồng bị thiêu rụi đầy khói. Cảnh tượng đó không giống hình ảnh Chúa bị đóng đinh mà giống một con bù nhìn ghê tởm. Painter chú ý thấy nền bức hình là khu hoang mạc châu Phi khổ nẻ.
“Tên chàng thanh niên này là Jason Gorman,” Metcalf cất giọng lạnh lùng.
Đôi mày Painter nhíu lại. “Gorman. Giống họ của Thượng nghị sĩ Gorman phải không?”
Cái tên của Thượng nghị sĩ này xuất hiện khi Painter tìm hiểu về công ty Viatus. Sebastian Gorman là người đứng đầu Ủy ban thượng nghị thuộc lĩnh vực nông nghiệp, dinh dưỡng và lâm nghiệp. Ông là người có thế lực ủng hộ những tiến bộ về thực phẩm biến đổi gen nhằm phục vụ cho thế giới nghèo đói cũng như cung cấp nguồn năng lượng sinh học mới.
Vị tướng hắng giọng nói tiếp trước sự kinh ngạc của Painter. “Đó là cậu con trai hai mươi ba tuổi của Thượng nghị sĩ Gorman. Anh ta có bằng thạc sĩ sinh học phân tử thực vật và đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ, nhưng anh ta đến Mali chủ yếu để thay cha mình giám sát dự án ở đó.”
Painter bắt đầu hiểu ra nguyên nhân tại sao vụ này lại có tầm ảnh hưởng đến vậy ở Washington. Vị Thượng nghị sĩ quyền lực này chắc chắn điên tiết tìm câu trả lời cho cái chết của con trai mình, có thể sẽ lật tung cả khu vực Đồi Capitol. Nhưng đến giờ Painter vẫn chưa rõ vai trò của Sigma trong vấn đề này. Theo báo cáo của NATO, vụ đột kích do lực lượng nổi loạn Tuareg thực hiện. Đây là một thế lực tàn bạo liên tục gây yêu sách đối với quốc gia công hòa Tây Phi này.
Metcalf nói tiếp, “Thượng nghị sĩ Gorman đã nhận được bức thư điện tử của cậu con trai vào sáng hôm bị tấn công. Trong đó mô tả ngắn gọn về vụ này. Theo mô tả của các phi công và đội ném bom napan, vụ đột kích rất quy mô về lực lượng và phạm vi.”
Painter ngồi thẳng dậy.
Đính kèm với bức thư đó là một bộ hồ sơ nghiên cứu. Ngài Thượng nghị sĩ cũng không rõ tại sao chúng lại được gửi đi, cũng như không thể giải mã nội dung khoa học bên trong. Không biết làm gì hơn, ông bèn gửi chúng cho tiến sĩ Henry Malloy - giáo sư hướng dẫn luận án của con trai mình ở trường đại học Princeton.”
“Tôi muốn tự mình xem bộ hồ sơ đó,” Painter nói, và bắt đầu hiểu ra lí do Sigma phải nhúng tay vào vụ này. Cuộc tấn công kì lạ, nghiên cứu bí ẩn, tất cả đều trong chuyên môn của Sigma. Trong đầu Painter đã bắt đầu phác họa phương án chuẩn bị và hành động. “Tôi có thể cử ai đó đến cánh đồng ở Mali trong vòng 24 tiếng nữa.”
“Không. Vai trò của anh trong vụ này rất hạn chế.” Giọng Metcalf gằn xuống như đe dọa. Rắc rối này đã leo thang tới mức độ cơn bão chính trị rồi. Thượng nghị sĩ Gorman đang tiến hành lùng sục, có thể quy trách nhiệm cho bất kì hay toàn bộ các tổ chức.”
“Thưa ngài –” Painter bắt đầu.
“Giờ thì Sigma cũng đang trong thế hiểm yếu. Chỉ cần một bước sai lầm cũng không ai cứu vãn nổi.”
Painter cố kiềm chế hơn, giấu đi sự thiếu tự tin trong nhóm ông. Ông phải tìm cách đối phó với người đàn ông này. Nhưng đây không chỉ là một cách hay.
“Vậy vai trò của Sigma là gì?”
“Là thu thập tin tức tình báo, xác định cơ sở chắc chắn để tiếp tục thực hiện các cuộc điều tra. Và bước đầu tiên là tiếp xúc tiến sĩ Malloy. Tôi muốn tiến hành phỏng vấn ông ta và xem xét lại hồ sơ.”
“Tôi sẽ cử một nhóm tới đó vào trưa mai.”
“Được lắm. Nhưng còn một việc nữa. Điều này cần anh phải cam kết cá nhân.”
“Gì vậy?”
“Có một thông tin được lưu giữ mật đến tận giờ. Tôi muốn anh tiếp nhận nó.” Viên chỉ huy gõ lên bàn phím, rồi bức hình lấy cận cảnh khuôn mặt của Jason Gorman. “Kẻ treo cậu thanh niên này lên cũng là kẻ làm hại anh ta.”
Painter đứng dậy và bước tới gần màn hình. Có một ký hiệu được đốt vào trán của nạn nhân như có ai đó đã ấn dấu sắt nung vào anh vậy. Một vòng tròn và một dấu thập.
“Tôi muốn biết tại sao họ làm vậy,” Metcalf lên tiếng. “Và ý nghĩa của nó là gì.”
Painter khẽ gật đầu.
Ông ta cũng vậy.
★ ★ ★
9h35 tối
Rome, Ý
Rachel lướt chiếc Mini Cooper vào bãi đậu xe ở khu phức hợp căn hộ của mình. Ngồi sau tay lái, cô ngồi suy ngẫm lại chuyện mình đã làm. Trên ghế hành khách có một chiếc túi nhựa trong nhỏ nhắn chứa một túi nhỏ bằng da và vật rùng rợn trong đó.
Cô đã rời khỏi thánh đường Thánh Peter mà không hé môi với ai về điều mà cô khám phá được.
Tối rồi,cô tự biện hộ trong đầu. Mình có thể giao nộp cho nhà điều tra vào sáng mai. Rồi sau đó lập báo cáo luôn thể.
Nhưng Rachel hiểu rõ ý đồ sâu xa của việc trộm này. Chính nhờ những lời của người chú đã dẫn lối cho cô đến chiếc túi được giấu kia. Cô cảm thấy không muốn chia sẻ phát hiện này chút nào. Nếu cô giao nộp chiếc túi cho chính quyền, thì cô không chỉ bị khiển trách vì tội vượt quá quyền hạn cho phép, mà còn bị loại hoàn toàn khỏi đội ngũ điều tra nữa. Như thế, cô có thể sẽ không bao giờ tìm ra được ý nghĩa của chiếc túi đó. Và hiển nhiên cô cảm thấy tự hào về phát hiện của mình. Không ai khác tìm được thứ này. Cô tin vào bản lĩnh của mình hơn là mớ bòng bong của cuộc điều tra mang tính chất liên bộ và quốc tế này.
Và linh tính mách bảo rằng cô không còn thuộc về nhóm điều tra của mình nữa. Cô cần sự giúp đỡ. Cô sẽ đợi đến khi Gray tới vào sáng mai, cô sẽ bàn giao lại toàn bộ vật chứng và tiến hành điều tra từ đây.
Với kế hoạch hành động vừa vạch ra, Rachel tóm lấy chiếc túi chứng cứ rồi nhét vào áo khoác. Sau đó, cô leo ra khỏi xe và tiến về phía cầu thang. Căn hộ của cô nằm ở lầu 3, tuy nhỏ nhưng từ ban công có thể nhìn ngắm Đại hý trường La Mã.
Đặt chân tới lầu 3, cô đẩy cửa đi qua lối cầu thang. Khi đang bước theo lối cầu thang, cô để ý thấy hai thứ. Bà Rosselli lại đang nấu ăn dùng quá nhiều tỏi, và có ánh sáng rực chiếu từ dưới cánh cửa nhà riêng của mình.
Rachel dừng lại. Cô luôn tắt đèn trước khi rời khỏi nhà mà. Nhưng có lẽ do cô quá đau buồn sáng nay nên quên chăng.
Không để mất thời gian, cô khẽ nhón gót rồi rón rén bước dọc hành lang. Thành phố này đầy rẫy trộm cắp, móc túi nên đột nhập vào nhà là chuyện bình thường ở khu này. Đôi mắt cô vẫn dán vào tia sáng dưới cánh cửa nhà mình. Khi cô lại gần hơn thì chợt có bóng người lướt qua ánh sáng đó.
Rachel toát mồ hôi lạnh.
Có ai đó đang ở trong căn hộ của cô.
Tin chắc là vậy, cô lùi ra sau. Giờ cô không hề có vũ khí. Cô định gõ cửa nhà bà Rosselli, hoặc chạy ra khỏi hành lang, nhưng mùi tỏi đã xộc thẳng vào mũi cô. Bên trong căn hộ chật chội của bà lão, chắc hẳn mùi đó không thoát ra được. Thay vào đó, cô thọc tay vào túi, lấy chiếc điện thoại di động .
Cô rút lui về phía cửa dẫn xuống cầu thang và lẻn vào đó, vẫn hướng mắt về cửa nhà mình. Khi cô bước lên bậc thang, chợt có thứ gì lạnh lẽo ấn lên phía sau gáy cô.
Cô nhận ra đó là nòng súng lục.
Một giọng nói cất lên đe dọa. “Đứng yên.”