Rockville, bang Maryland
Monk ẳm đứa con gái nhỏ trên đầu gối mình. Penelope khóc ré lên, với nụ cười ngờ nghệch giống như cha mình. May là cô bé chỉ giống ông mỗi điểm đó. Còn mái tóc xoăn màu nâu vàng sáng và dáng ngươi thanh tú của cô bé được hưởng từ mẹ.
“Monk, nếu anh cứ làm con bé gào khóc như vậy thì…”
Kat bước vội ra khỏi gian bếp, vừa lau tay vào chiếc khăn. Cô vẫn còn mặc chiếc đầm xanh. Cô mới trở về từ khu Đồi Capitol - được một giờ. Ở đó, cô đã lục lại một số liên lạc tình báo cũ của Sigma để giúp Painter Crowe che giấu bớt những sai lầm về chính trị của mình. Cô chỉ được về nhà chốc lát chải lại mái tóc và để xõa xuống bờ vai đàng hoàng.
Monk vẫn còn mặc chiếc quần lót và áo sơmi. Từ lúc tiễn Gray ở sân bay, anh đã về thẳng nhà mới ở ngoại ô bang Maryland. Còn ở đó làm gì nữa chứ? Anh biết Gray đã đấu tranh cho anh được cùng đi điều tra ở Ý. Nhưng thật vô ích.
Anh để con lên đùi mình.
“Em đã hâm nóng bình sữa của con rồi,” Kat vừa nói vừa tiến về phía chồng đang dang tay ra bế Penelope. Chợt cô vấp chân, bước loạng choạng rồi lấy lại thăng bằng. Cô liếc nhìn xuống sàn. “Monk, em đã nhắc bao nhiêu lần rồi sao anh cứ để bàn tay lung tung thế này?”
Monk xoa xoa cổ tay. “Bộ phận mới lắp vẫn còn làm phồng da mà em.”
Kat thở nặng nhọc rồi ẳm Penelope. “Anh có biết mỗi thứ tốn hết bao nhiêu không?”
Monk nhún vai. Bộ phận giả do DARPA thiết kế thật là một kỳ công về công nghệ sinh học, ứng dụng những cơ chế động cơ hiện đại nhất, cho người dùng có cảm giác khi cử động và di chuyển chính xác. Hơn nữa, chỗ cụt ở cổ tay của Monk được bọc trong hợp chất nhân tạo, mà về mặt y học kết nối với dây thần kinh và dây chằng ở các cơ.
Monk nắm bóp lớp bọc cổ tay bằng titanium. Trên sàn nhà, bàn tay rời đang di chuyển những ngón tay được điều khiển bằng các nút gắn trong lớp bọc. Bàn tay giả có thể là cơ bắp, còn cổ tay mới là bộ não. Monk điều khiển bàn tay trở lại ghế, nhặt nó lên rồi gắn lại vào cổ tay. Anh co mấy ngón tay lại.
“Nó vẫn còn phồng rộp,” anh lẩm bẩm.
Kat sắp quay lại nhà bếp, còn Monk vỗ nhẹ chiếc ghế bên cạnh mình. Kat lại thở dài rồi đến cạnh anh. Monk kéo cô lại gần, cảm nhận được mùi tóc thoàng hương hoa nhài của cô. Cô tựa hẳn vào anh. Họ ngồi yên lặng bên nhau. Penelope thì ngủ khì, bàn tay vẫn ngậm trên môi. Thật hạnh phúc khi ôm trọn gia đình mình trong lòng.
Rồi Kat cũng lên tiếng, nhẹ nhàng và dịu dàng. “Em rất tiếc về việc đi Ý.”
Monk trố mắt nhìn kinh ngạc. Anh không hề hé môi về vấn đề này với cô. Đây là một chủ đề nhạy cảm với cả hai. Thế nhưng, lẽ ra anh nên hiểu cô cũng có thể biết được. Với rất nhiều mối quan hệ trong cộng đồng tình báo thì rất khó giấu được bí mật gì với cô.
Cô quay sang nhìn anh. Anh cảm nhận được cảm xúc rối bời trong đôi mắt ướt át và cả nỗi lo âu hiện diện trên môi cô. Cô hiểu anh khát khai được làm việc lại như thế nào, nhưng nỗi sợ của cô rất dễ nhận thấy. Anh nhìn xuống bàn tay giả của mình. Đúng là không phải nỗi sợ vô căn cứ.
Nhưng anh lại rất yêu công việc này và biết nó quan trọng đến nhường nào.
Năm vừa qua, khi đang điều trị vết thương - cả về thể xác lẫn tinh thần - anh đã dần hiểu rõ điều này hơn bao giờ hếtDù rất yêu thương gia đình và biết phải có trách nhiệm ở đây, nhưng anh cũng biết tầm quan trọng của Sigma trong việc giữ gìn an ninh thế giới. Anh ghét phải đứng bên lề.
“Em nghe nói anh có nhiệm vụ mới hôm nay đó,” Kat nói.
“Chỉ là công việc bàn giấy nữa chứ gì?” anh càu nhàu. “Anh sẽ bay đến New Jersey để phỏng vấn một học giả về một số hồ sơ nghiên cứu ở đại học Princeton. Anh sẽ trở về vào khoảng nửa đêm.”
Kat liếc nhìn đồng hồ. “Vậy sao anh không đi chuẩn bị đi?”
“Anh có thời gian mà. Chỉ huy Crowe đang cử một mật vụ khác đi theo dõi. Người đó hình như chuyên về di truyền. Một lính mới.”
“Anh ta là John Creed.”
Monk quay sang nhìn vợ. “Liệu có gì mà em không biết nhỉ?”
Cô mỉm cười, tựa vào anh rồi hôn anh. “Em biết là bình của Penelope sắp nguội lạnh rồi đó.”
Bàn tay giả của Monk giữ chặt đôi vai cô, không cho cô đứng lên. “Và anh biết có thể hâm nóng bình lại sau.” Giọng anh khàn hơn. “Anh còn nửa tiếng nữa mà.”
“Trọnn nửa tiếng nữa sao?” Cô nhíu mày. “Anh tham lắm nha.”
Khuôn mặt Monk chợt nhoẻn miệng cười xếch. “Đừng chế giễu anh nào, em.”
Cô lại hôn anh, nấn ná thêm chút, môi cô thì thầm. “Không bao giờ.”
★ ★ ★
4h44 tối
Princeton, bang New Jersey
Một mình trong hầm thí nghiệm, tiến sĩ Henry Malloy cho chạy chương trình mô phỏng máy tính lần thứ ba. Trong khi đợi, ông khẽ lắc đầu. Thật vô ích. Ông ngồi xuống, duỗi người ra. Ông đã biên soạn lại dữ liệu do văn phòng Thượng nghị sĩ Gorman gửi tới trong vòng 24 giờ qua. Vì khối lượng thông tin chưa xử lý quá nhiều, ông phải dùng hệ thống sàng lọc Affymetrix trong phòng thí nghiệm để phân tích toàn bộ nghiên cứu và xét nghiệm về DNA trong hồ sơ.
Tiếng gõ cửa khiến ông chú ý. Căn phòng được khóa để bảo toàn tình trạng chân không. Chỉ có thể quẹt thẻ từ thì mới vào bên trong.
Phải chờ vài phút nữa mới chạy xong các phân tích về thí nghiệm, nên ông đến mở cửa nhẹ nhàng tránh áp suất không khí. Đó là một trong những nghiên cứu sinh của ông, Andrea Solderitch. Henry đã thuê cô làm trợ lý. Một người phụ nữ quyến rũ, thân hình gọn gang và mái tóc nâu vàng, nhưng đừng vội tưởng cô nàng vẫn còn ở độ tuổi xuân xanh. Cô nay đã ở giữa độ tuổi năm mươi, vừa thay đổi công việc. Trước đây, cô là một y tá có đăng ký hành nghề chuyên về thẩm tách. Một thời gian dài làm việc chung khiến ông cảm mến người bạn đồng trang lứa với mình. Họ còn có chung sở thích âm nhạc và thỉnh thoảng ông bắt gặp cô hát nghêu ngao.
Nhưng lúc này cô lại có vẻ lo âu.
“Có chuyện gì vậy, Andrea?” ông cất tiếng hỏi.
Cô chìa ra một xấp giấy ghi chú. “Văn phòng Thượng nghị sĩ Gorman đã gọi đến ba lần để kiểm tra tiến độ công việc của thầy.”
Henry cầm lấy chúng. Ông ghét bị ai đó thúc ép, nhưng ông cũng thông cảm với tâm trạng rối bời của ngài nghị sĩ. Hơn nữa, Jason Gorman lại là học trò duy nhất của Henry, nên ông vẫn còn nhói đau vì cái chết bất ngờ của cậu ta, đặc biệt là sự tàn bạo ẩn sau đó.
“Em cũng đến đây để nhắc thầy về cuộc hẹn với thanh tra Kokkalis đến từ Washington trong một tiếng nữa. Vậy trước khi đến cuộc hẹn, thầy có muốn em mua chút thức uống gì về không?”
“Thôi được rồi, sẵn tiện đang ở đây em xem dùm thầy dữ liệu này. Nhất là trước khi thầy đi gặp người từ Washington. Để xem em nghĩ gì?”
Mặt cô giãn ra, cố che giấu niềm phấn khích
“Thầy cũng rất biết ơn vì em đã đến đây vào ngày nghỉ,” ông nói thêm khi dẫn cô tới bên trạm máy tính. “Có thể thầy sẽ chẳng làm được gì nếu không có sự giúp đỡ của em.”
“Không có gì đâu thầy Malloy ạ.”
Cuối cùng mô hình máy tính cũng đã hoàn thành lần chạy thứ ba. Màn hình hiện lên sơ đồ nhiễm sắc thể của mẫu ngô trồng thử nghiệm trên cánh đồng của châu Phi. Tất cả nhiễm sắc thể đều màu đen, chỉ trừ một nhiễm sắc thể đơn nổi lên màu trắng.

Henry gõ lên màn hình. “Ở đây em có thể thấy phân tử DNA ngoại lai, đánh dấu bằng sóng vô tuyến được cấy vào giống ngô biến đổi gen.”
Andrea kề sát hơn. Sự tò mò hiện rõ trên đôi mày cô. “Nguồn của cấu trúc DNA này là gì? Vi khuẩn hay sao?”
“Gần như là vậy. Nhưng thầy chưa dám khẳng định.”
Tuy vậy, dự đoán của Andrea đã đi đúng hướng. Hầu hết các biến đổi gen đều thông qua sự tái tổ hợp vi khuẩn và liên kết gen, nhằm tận dụng ưu điểm của loại vi khuẩn nào đó rồi kết hợp chúng với bộ gen thực vật. Một trong những thành công đầu tiên là khi bộ gen trong khuẩn hình que thuringiensis được cấy vào cây thuốc lá. Điều này giúp cho cây khả năng chống lại côn trùng, nên không cần phải sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trên cánh đồng. Giờ đây, cách này được ứng dụng trên ngô. Công nghệ sinh học này trở nên rất phổ biến trong vòng mười năm qua. Và hiện nay một phần ba lượng ngô trồng ở Mỹ là loại biến đổi gen.
“Nếu không phải là loại DNA vi khuẩn,” Andrea hỏi, “thì đây là gì?”
“Thầy không biết. Nó do tập đoàn Viatus sáng chế và phân loại. Trong hồ sơ, nó chỉ được ghi là Dt222. Dt là chứ viết tắt của Chịu Được Hạn Hán. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn nói với em.” Henry chỉ vào màn hình. “Đây là thí nghiệm của Jason Gorman gửi cho thầy hai tháng trước đây.”
“Hai tháng trước hả?”
“Thầy biết. Chàng trai này rất phấn khởi khi được tham gia nghiên cứu ở cánh đồng châu Phi đó. Cậu ấy không định phổ biến thông tin này vì như vậy sẽ vi phạm tính bảo mật của hợp đồng. Thầy đã cảnh báo cậu ấy nên thận trọng hơn và giữ yên lặng về việc này. Thầy chỉ có thể tưởng tượng ra sự tuyệt vọng của cậu ấy vào buổi sáng cuối cùng đó. Tuy nhiên cậu ấy cũng đã lường trước sự bảo vệ bất kỳ dữ liệu nào mà mình có thể.”
Andrea gật đầu. “Cậu ấy đã gửi tài liệu gì vào sáng đó vậy thầy?”
Henry gõ bàn phím, những dữ liệu mới nhất hiện ra. “Để thầy cho em xem. Họ mới thu hoạch lứa ngô đầu tiên từ hạt giống đã gieo. Cậu ấy đã gửi toàn bộ phân tích về vụ mùa đó, kể cả xét nghiệm đầy đủ về DNA. Đây là kết quả.”
Trên màn hình xuất hiện kết quả xét nghiệm nhiễm sắc thể lần hai, phần lớn là màu đen biểu thị DNA của ngô loại thường. Nhưng thay vì có một nhiễm sắc thể đơn màu trắng, thì có thêm một nhiễm sắc thể thứ hai nằm phía trên màu trắng chấm đen.

“Em không hiểu,” Andrea nói.
“Hãy nhìn gần hơn đi nào.”
Henry lấy cận cảnh bức hình nhiễm sắc thể biến dị. Giờ thì có thể thấy rõ sơ đồ các gen riêng lẻ, hiện lên một dạng màu đen trắng xen kẻ.

Henry giải thích, “Loại DNA ngoại lai đã kết hợp với nhiễm sắc thể khác, xâm lấn các nhiễm sắc thể bên cạnh.”
“Nó lan ra hả thầy?”
Ông ngồi xuống rồi liếc nhìn Andrea. Giọng ông xen chút hào hứng. “Thầy không chắc. Nhưng sau khi tổng hợp tài liệu ba lần, thì có thể nói rằng mẫu thứ nhất Jason gửi là từ một giống lai khác. Có thể họ đang thử nghiệm nhiều phiên bản ngô ở đó. Nhưng nếu không phải thì có thể do biến đổi gen không ổn định. Nó bị thay đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mẫu đó sẽ trở thành giống ngoại và ít ngô hơn.”
“Có nghĩa là gì ạ?”
Ông khẽ nhún vai. “Thầy cũng không biết. Nhưng có người cần biết về nó. Thầy đã chuyển yêu cầu cho phòng di truyền sinh học vụ mùa của công ty Viatus rồi. Thầy chắc họ sẽ cần tài liệu này. Cũng có thể thầy sẽ giúp phát hiện được gì đó mới cho công ty này.”
Andrea đứng thẳng lên. “Vậy thì có lẽ em hiểu được ẩn ý của thầy rồi.” Trên mặt cô thoáng nở nụ cười, vui lây niềm hứng khởi của ông.
“Chúng ta đợi xem sao.”
Andrea xem đồng hồ. “Nếu thầy không cần em nữa thì em nên về nhà thôi. Mấy con chó bị em nhốt ở nhà cả ngày rồi. Chắc chúng đang nhảy cẫng lên đòi ra ngoài đây.”
Henry tiễn cô ra cửa. “Thầy cám ơn em lần nữa vì đã đến đây vào ngày nghỉ như vậy.”
Andrea dừng ở cửa. “Thầy có chắc không cần em mua chút gì cho thầy ăn trước khi về không?”
“Không đâu, thầy còn phải hoàn thành thí nghiệm này và tải nó lên máy chủ nữa. Không nên mất thời gian thêm.”
Cô vẫy chào trước khi bước ra. Cánh cửa đóng lại sau lưng cô.
Henry trở lại trạm máy. Phải mất ít hơn một tiếng nữa mới hoàn thành báo cáo. Tuy bộ hồ sơ mà Jason gửi từ châu Phi đã đổi lấy mạng sống của chàng trai trẻ, nhưng cũng chứng tỏ được trái tim quả cảm của cậu ấy, điều mà cha cậu có thể tự hào.
“Em đã làm rất tốt Jason ạ.” Henry thì thầm khi đang xem xét lại lần cuối toàn bộ hồ sơ.
Khoảng mười lăm phút nữa, ông sẽ đánh máy một vào ghi chú và theo dõi. Ông muốn gây ấn tượng với công ty Viatus. Bộ phận di truyền sinh học vụ mùa của họ đã ký hợp đồng với các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới để tiến hành thí nghiệm cho họ, dù lúc này hầu hết là ở Ấn Độ và Đông Âu do chi phí thấp hơn. Nhưng phòng thí nghiệm gen của Princeton là một trong những nơi tốt nhất trên thế giới. Nếu ông có thể thuyết phục tập đoàn này đầu tư chút ít ở đây thì…
Ông khẽ mỉm cười khi làm việc.
Lại có tiếng gõ cửa làm đứt quãng. Ông nhoẻn cười rộng hơn. Chắc là Andrea, cô đã không nghe lời ông. Chắc hẳn là cô đã đến căn tin mua thứ gì đó cho ông ăn đây.
“Ra ngay đây.” Ông nói vọng ra. Ông băng qua căn phòng rồi quét thẻ mở cửa.
★ ★ ★
5h30 tối
Monk leo lên xe taxi ở bên ngoài ga xe lửa. Cộng sự của anh đã ngồi ở băng sau, hướng dẫn đường cho tài xế.
“Đến phòng thí nghiệm Carl Icahn ở khu Đại học Princeton trên đường Washington.”
Monk ngồi vào cạnh bên anh ta, sửa áo khoác thẳng thóm lại, rồi tựa ra sau. Ông để chiếc cặp tài liệu trên đùi. Anh liếc nhìn chiếc vali đặt may hiệu Tanner Krolle và sờ tay lên lớp da ngựa của Anh bên ngoài. Đây là món quà kỷ niệm do Kat tặng hai tháng trước, khi anh chính thức trở lại công tác, dù còn hạn chế. Anh hiểu thông điệp ngầm đằng sau món quà đắt tiền này. Kat vô cùng vui mừng khi anh làm công việc giấy tờ và thực hiện các cuộc thẩm vấn cũng như phỏng vấn. Bất cứ việc gì miễn là tránh nguy hiểm cho anh.
Anh thở dài gây chú ý cho người cộng sự mới.
John Creed hơi cúi người trên ghế. Chàng thanh niên cao hơn 2 mét này vô cùng dẻo dai. Đây là một trong những nhân viên mới nhất của Sigma, râu cạo gọn ghẽ, mái tóc dài màu đỏ che phủ gần hết khuôn mặt anh. Dù mang dáng vẻ thư sinh, nhưng anh có phong thái rất nghiêm túc.
Monk cau mày và hỏi anh một câu khiến anh rất khó chịu ngay khi mới gặp. “Này nhóc, bao nhiêu tuổi rồi? Mười bốn? Hay mười lăm?”
“Hai mươi lăm.”
Monk cố giấu vẻ nghi ngờ. Không thể nào. Hai người chỉ cách nhau có bảy tuổi thôi ư? Monk gập bàn tay giả lại, ý thức được nhiều điều có thể xảy ra trong vòng bảy năm. Tuy nhiên, lần đầu tiên anh ngắm kỹ người bạn đồng nghiệp hơn, cố đánh giá anh ta.
Khi còn trên xe lửa khởi hành từ Washington, Monk đã đọc rất nhiều về lý lịch của tiến sĩ Henry Malloy, còn người đồng sự của mình anh chỉ biết vắn tắt. Creed đến từ bang Ohio, đã từng bỏ học trường y khoa sau một năm, và làm lính đánh thuê trong hai năm ở Kabul. Một mảnh bom đã làm chân anh bị khập khiễng vĩnh viễn. Anh ta cố sang năm thứ ba nhưng đành phải giải ngũ, dù vậy chuyện này vẫn còn chưa rõ lắm. Dựa vào kết quả sát hạch và nền tảng học vấn, anh được Sigma tuyển dụng và huấn luyện về di truyền học ở Cornell. Tuy vậy, cậu ta trông cứ như học sinh cấp ba.
“Này, cậu nhóc,” Monk nói tiếp, “Cậu đã làm việc được bao lâu rồi?”
Creed chỉ liếc nhìn Monk, đã quen với việc bị chế giễu bởi khuôn mặt trẻ con của mình. “Kết thúc khóa huấn luyện ở Cornell hồi ba tháng trước,” anh trả lời cứng cỏi. “Đến ở Washington được hai tháng rồi. Chủ yếu làm việc ở nhiệm sở.”
“Vậy đây là nhiệm vụ đầu tiên của chú à?” “Nếu anh gọi đây là nhiệm vụ thì…” cậu ta lầm bầm rồi nhìn ra cửa sổ.
Dù Monk cũng nghĩ vậy, anh vẫn thấy nổi cáu. “Khi công tác ở hiện trường, không có chi tiết nào là nhỏ nhặt cả. Mỗi chi tiết đều có ý nghĩa cả. Nguồn thông tin chính xác có thể giúp ta phá án. Cậu nên học thêm điều này, chú em à.”
Creed liếc sang anh. Ánh nhìn nghiêm nghị chuyển sang thoáng ngượng ngùng. “Tôi hiểu.”
Monk khoanh tay lại, tỏ vẻ rất hài lòng.
Bọn trẻ. Cứ nghĩ là mình biết tất.
Khẽ lắc đầu, Monk quan sát bên ngoài khi chiếc xe đi vào khu đại học Princeton. Như thể mảng xanh của nước Anh đã dời sang giữa bang New Jersey này vậy. Những chiếc lá mùa thu trải dài trên bãi cỏ xanh nhấp nhô, mấy dây thường xuân leo trên tường của những tòa nhà bằng đá theo lối kiến trúc vòm nhọn trang nghiêm, ngay cả khu ký túc xá cũng trông giống như bức in thạch bản của Currier và Ives.
Lướt qua cảnh vật tựa đồng quê chẳng mấy chốc họ đã đến nơi. Chiếc xe taxi dừng lại, họ bước ra.
Phòng thí nghiệm Carl Icarl nằm trải dài trên một góc bãi cỏ xanh lan rộng. Trong khi nhiều công trình của trường Princeton theo lối kiến trúc thế kỷ XVIII, XIX, thì phòng nghiên cứu này chỉ mới được xây cách đây không lâu, một điển hình của kiến trúc hiện đại. Hai tòa nhà hình chữ nhật nằm vuông góc nhau bao lấy những căn phòng thí nghiệm chính. Hai toà nhà này được nối lại bởi một cánh cửa cong hai tầng trông ra khu công viên.
Đây là nơi họ sắp gặp tiến sĩ Henry Malloy.
“Sẵn sàng chưa?” Monk hỏi, rồi kiểm tra đồng hồ. Đã trễ 5 phút rồi.
“Sẵn sàng làm gì chứ?”
“Cuộc phỏng vấn.”
“Tôi nghĩ anh sẽ thực hiện cuộc phỏng vấn vị giáo sư đó chứ.”
“Không. Nhiệm vụ của cậu tất, chàng trai ạ.”
Creed thở dài nặng nhọc. “Được thôi.”
Họ bước vào tòa nhà, rồi đi qua cánh cửa. Có một bức tường kiếng cong cao hai tầng đối diện với bãi cỏ công viên. Những mái hắt cao 40 thước tách biệt các cửa sổ và được điều chỉnh để đón ánh nắng mặt trời. Họ bước sâu vào bên trong, để lại chấm lốm đốm trên bàn ghế. Vài nhóm sinh viên ngồi tán gẫu với ly cà phê trên tay.
Monk tìm và định vị nơi sắp tiếp chuyện với giáo sư Malloy. Khó mà bỏ lỡ được. “Theo lối này,” anh nói, rồi dẫn đồng nghiệp đi qua cửa.
Phía ngoài lối cầu thang xuất hiện một công trình điêu khắc cao một tầngTrông cứ như một khung xà cừ bị tan chảy phân nửa vậy. Dù không được cho biết trước, Monk cũng có thể nhận ra đây là thiết kế của Frank Gehry. Cánh cửa xà cừ này mở ra bên trong là một phòng họp nhỏ. Một vài người đã yên vị bên chiếc bàn hội thảo vuông vức.
Monk bước tới ngồi vào chung. Khi đến gần, anh nhận ra tất cả họ đều còn khá trẻ. Trong cặp của Monk có một bức ảnh của giáo sư Malloy. Vậy là ông ta chắc hẳn không có ở đây.
Có lẽ ngài tiến sĩ đã đến và đi rồi.
Monk bước ra khỏi cánh cửa xà cừ và lấy điện thoại ra. Anh gọi đến văn phòng của ông ta. Chuông đổ vài hồi, rồi chuyển qua chế độ hộp thoại.
Nếì u ông ta đã đi rồi thì mình đến đây xem như công cốc.
Monk gọi cho một số thứ hai. Đến trợ lý của ông ta.
Một người phụ nữ trả lời máy. Monk nhanh chóng giải thích về sự vắng mặt của giáo sư Malloy.
“Ủa thầy không có ở đó sao?” cô trợ lý hỏi.
“Không có ai ở đây cả ngoại trừ một lũ nhóc trông như học sinh cấp hai vậy.”
“Tôi biết rồi.” người phụ nữ cười lớn. “Mấy sinh viên càng ngày càng trẻ ra phải không? Cho tôi cáo lỗi, nhưng có lẽ thầy ấy vẫn còn ở trong phòng thí nghiệm. Đó là chỗ tôi thấy thầy lúc nãy, và thầy không bao giờ nghe điện thoại cả. Thầy có thể quá tập trung vào công việc đang làm đến nỗi quên mất cuộc hẹn. Tôi e là lúc này thầy vẫn còn bận ở đó đấy. Thầy rất hào hứng về khám phá của mình mà.”
Monk thích thú với những lời sau cùng của cô ta. Liệu vị giáo sư đã khám phá ra điều gì giúp ích cho vụ án không?”
“Anh chú ý nghe nhé,” người phụ nữ nói tiếp, “Tôi đang ở văn phòng bên kia đường, hoàn tất một số công việc với đồng nghiệp của tôi. Có một lối đi ngầm kết nối tòa nhà tôi đang làm việc với chỗ của ông. Anh hãy hỏi thăm một trong những sinh viên ở đó. Tôi sẽ đến mượn thẻ chìa khóa của người quản lý rồi xuống gặp anh tại đó. Phòng thí nghiệm của thầy Malloy nằm ở tầng hầm. Tôi nghĩ thầy muốn tự mình đưa cho anh thấy thí nghiệm DNA.”
“Được. Tôi sẽ gặp cô ở đó.” Monk bỏ điện thoại vào túi rồi vẫy chiếc cặp về phía Creed. “Đi nào. Chúng ta tới thẳng chỗ của ông ấy luôn.”
Sau khi được một nữ sinh mặc áo len bó sát chỉ đường, Monk dẫn đường đi xuống tầng hầm. Đường ngầm rất dễ tìm.
Khi họ đến lối ra tầng hầm, một người phụ nữ trung niên vẫy tay gọi họ ở phía bên kia. Monk vẫy lại. Cô ta vội vã bước tới, chìa tay ra bắt.
“Tôi là Andrea Solderitch,” cô tự giới thiệu.
Sau khi giới thiệu, cô dắt họ đi xuống một hành lang kế bên. Cô ta nói không ngớt, có vẻ lo âu.
“Chỉ có vài phòng thí nghiệm ở dưới đây thôi nên rất dễ bị lạc. Còn các phòng khác là nhà kho, phòng máy… à, và vườn thú của tòa nhà nữa, nơi nhốt các con vật để thí nghiệm. Khoa nghiên cứu gen đặt cơ sở xét nghiệm vi mô dưới đây để tránh phả khí ozon. Là chỗ này đây.”
Cô ta cầm chiếc thẻ trong tay rồi đưa lên cánh cửa bị khóa.
“Người quản lý khoa đã cố gọi vào phòng này,” cô giải thích. “Nhưng không ai trả lời cả. Tôi chỉ tạt ngang xem sao. Tôi chắc là thầy ấy chưa ra khỏi trường đâu.”
Cô ta quẹt cái thẻ và kéo nắm cửa ra. Khi cánh cửa mở ra, Monk liền ngửi được mùi khói và điện - theo sau là mùi hôi thối, hệt như mùi tóc cháy. Anh túm lấy Andrea, nhưng không kịp nữa rồi. Cô đã thấy cảnh tượng bên trong. Khuôn mặt lộ vẻ bối rối, rồi hoảng sợ. Một bàn tay đưa lên bịt miệng cô ta lại.
Monk kéo cô sang một bên và giao cho Creed. “Giữ cô ấy ở đây.”
Monk bỏ chiếc cặp xuống rồi thò tay vào bao đựng súng bên trong áo khoác. Sau đó anh lôi ra cây súng lục loại Heckler & Koch.45 ra. Đôi mắt người phụ nữ mở to. Cô quay mặt lại gục vào vai Ceed.
“Chú có vũ khí không?” Monk hỏi đồng nghiệp.
“Không… Tôi tưởng đây chỉ là cuộc phỏng vấn.”
Monk lắc đầu. “Để tôi đoán xem nào, chú em. Chú chưa từng làm hướng đạo sinh.”
Không chờ trả lời, Monk bước vào trong phòng, khẽ lướt qua vùng cấm. Anh biết chắc là kẻ nào đến đây đã đi mất, nhưng không thể chủ quan được. Giáo sư Malloy bị cột trên chiếc ghế đặt giữa phòng. Đầu gục xuống ngực. Máu chảy thành vũng dưới ghế.
Dàn máy tính đằng sau ông đã bị cháy rụi.
Anh nhìn xung quanh. Bọn sát nhân đã vô hiệu hóa hệ thống báo khói.
Anh đến gần nạn nhân bắt mạch. Mạch ngưng đập. Nhưng cơ thể vẫn còn ấm. Bọn giết người đã đi từ lâu. Monk chú ý thấy mấy ngón tay gãy của giáo sư. Chắc chắn ông đã bị tra khảo để moi thông tin.
Đòn chí mạng là vết dao đâm vào ngực, một nhát đâm hoàn hảo. Qua cái chết mau lẹ vậy, chắc hẳn ngài Malloy đã nói rồi.
Monk khục khịt. Mùi cháy từ thi thể nồng nặc hơn. Anh nhận ra mùi thịt tươi bị cháy. Anh lấy ngón tay nhẹ nhàng nhấc cằm ông lênĐầu ông ngả ra sau, để lộ nguồn gốc của mùi lạ. Ở giữa trán ông có một vết cháy còn mới, ngoài rìa vẫn đang phồng rộp, khắc vào thịt, vào tận cả xương.
Một vòng tròn và chữ thập.
Chợt tiếng chuông reo lên khiến anh chú ý nhìn ra cửa. Đó là tiếng điện thoại di động. Không muốn làm hỏng hiện trường thêm nên Monk trở ra hành lang.
Andrea cầm điện thoại lên nghe. Mắt cô nhòe lệ, mũi sụt sịt. Vừa sụt sùi cô vừa nghe máy. “Cái gì?” cô hỏi, một lời thảng thốt hơn là một câu hỏi. “Không! Tại sao chứ?”
Cô ngã vào tường và gục xuống sàn. Chiếc điện thoại rớt khỏi tay cô. Monk quỳ xuống cạnh cô.
“Có chuyện gì vậy?”
Cô lắc đầu hoảng sợ. “Có ai đó…” và chỉ vào chiếc điện thoại. Đó là hàng xóm của tôi. Bà ta nghe tiếng mấy con chó nhà tôi sủa và thấy người nào đó rời khỏi nhà. Bà sang xem. Cửa mở toang. Họ… họ đã giết bầy chó của tôi.” Rồi cô lấy tay che mặt lại. “Tại sao tôi lại không về thẳng nhà như đã nói với thầy Malloy?”
Monk liếc nhìn Creed. Đôi mày anh ta chau lại tỏ vẻ chẳng hiểu gì.
Monk hiểu. Anh đến gần và đỡ người phụ nữ dậy. “Hàng xóm của cô thấy kẻ đột nhập cách đây bao lâu rồi?”
Cô ta lắc đầu nói không nên lời. “Tôi… tôi không biết. Bà ấy không nói. Nhưng đã gọi cảnh sát rồi.”
Monk quay lại nhìn thi thể của giáo sư Malloy. Chắc hẳn ông đã khai. Tên cụ thể. Có thể gồm cả tên của trợ lý ông. Ông Malloy nghĩ rằng Andrea đã về nhà. Chắc ông khai địa chỉ nhà của cô ấy cho tên tra khảo. Và bọn chúng đã đến để bịt miệng cô.
Nhưng chúng không thấy cô ở đó nên…
Chỉ cần điều tra một chút, gọi vài cú điện thoại sẽ ra thôi..
“Chúng ta phải ra khỏi đây. Ngay lập tức!”
Monk trở ra đường khi nãy vào. Họ đi thành nhóm, mau chóng bước theo hành lang aa lối đường hầm phía dưới con đường dẫn tới tòa nhà của trường đại học bên cạnh, nơi Andrea đang làm việc.
“Cô nói mình đang ở văn phòng với đồng nghiệp,” Monk vừa bước theo hành lang vừa nói. “Vậy đồng nghiệp của cô có biết cô đi đâu không?”
Anh nhận được câu trả lời khi đến gần miệng hầm. Một người đàn ông cao to đi theo hướng ngược lại họ, mặc áo mưa màu đen - dù cả ngày naykhông hề có mưa.
Những đôi mắt chạm nhau.
Monk nhận ra ánh nhìn hung tợn. Anh đẩy Andrea lùi lại và rút súng ra. Cùng lúc đó người đàn ông nhấc tay lên, vén chiếc áo mưa để lộ cây súng máy hếch lên. Hắn bắn phá đến tận cuối đường hầm. Thứ vũ khí kỳ quặc không gây ra tiếng ồn nào hơn là tiếng máy trộn bánh, nhưng vang vọng đến tận góc phía sau rồi mới tan biến. Vách tường và gạch đá nổ tung và văng ra tung tóe.
“Cầu thang!” Monk ra lệnh và chạy lùi về phía cửa.
Khi họ đến cuối cầu thang, thì có tiếng bước chân chạy xuống.
Monk dừng mọi người lại. Nhìn lên, anh trông thấy một người đàn ông đang vội đi xuống, mặc áo mưa đen và mang giày ống như kẻ đầu tiên. Là tên sát thủ thứ hai. Phải rút lui thôi. Anh dồn mọi người lùi vào mê cung của những hành lang.
Họ phải tìm một lối thoát khác thôi.
Khi họ tháo chạy vào hành lang tối mờ, có tiếng cửa bằng kim loại đóng sầm lại ở đâu đó hướng ngược lại của tầng hầm.
Monk quay sang Andrea.
“Tôi nghĩ đó là chỗ lối thoát hiểm,” cô ta thì thầm trong khiếp đảm. Monk có thể đoán ra ý nghĩa của nó.
Một kẻ sát nhân thứ ba.