Clairvaux, Pháp
“Ông có chắc thứ này sẽ thổi tung cái cửa vào bí mật không?” Krista hỏi.
Vụ nổ bom thông đường này đã tốn nhiều thời gian hơn dự định. Sau những tính toán cẩn thận hơn, chuyên gia đạn dược muốn khoan thêm lỗ trong hố, tăng sức nổ.
Người đàn ông nhún vai khi hắn gài thuốc nổ. Hắn đang sử dụng một dùi để tự khoan cái lỗ cuối cùng. Những khối C-4 đang được nặn và đóng gói. Hắn trả lời bằng tiếng Ả Rập. Tên phó chỉ huy của Krista phiên dịch lại.
“Anh ta nói rằng nó sẽ thổi bung cửa chỉ khi Allah muốn.”
Krista đặt tay lên bóp chặt bao súng ngắn. Allah tốt hơn hết là muốn thế, bằng không thì tên đáng ghét này sẽ xơi một viên kẹo đồng vào sọ.
“Phải đợi thêm bao lâu nữa?” cô hỏi thay vào đó.
“Vẫn còn thêm 10 phút nữa.”
Krista muốn hét lên, nhưng cô chỉ đơn thuần là quay phắt và bước đi.
Ở phía trên, một trong những chiếc trực thăng lướt qua, cánh quạt khuấy động một màn khói dày. Ánh mặt trời chợt lóe lên, rồi chìm trở lại trong hoàng hôn u ám. Không khí nồng nặc mùi dầu chat và thuốc nổ không khói.
Cô nghe thấy tiếng súng của trực thăng khi nó tăng tốc độ hướng về tuyến giao tranh. Nhóm của cô đang chiến đấu để giữ những tên tù không tràn vào khu vực này. Những mệnh lệnh liên tục vanglên. Những tên lính cứ la hét. Cuộc chiến ngày càng ác liệt. Cô trông thấy một trong những biệt kích của cô kéo lê một tên lính vào trong hành lang. Người đàn ông trên sân quằn quại, cố nhét ruột trở vào bụng.
Họ không thể cầm cự mãi.
Cô quay sang nhìn Khattab.
Hắn ta giơ chín ngón tay.
Cô hít một hơi thật sâu để giữ bình tĩnh. Họ có thể cầm cự mà. Khi cửa hầm mở, cô sẽ xuống đó và tiêu diệt tất cả những chướng ngại giữa cô và chìa khóa.
Cô liếc xuống cái vali dưới chân.
Không có gì có thể ngăn cô lại.
★ ★ ★
4h5 chiều
Seichan đặt tay lên vai Gray để giúp anh thêm kiên định. Anh bước khỏi cây thánh giá, nhưng vẫn giữ nó bằng một tay. Cô biết cái mà anh đang nghĩ khi nhìn lên những cái chông từ phía trên. Những nét lo âu khắc trên mặt anh.
“Hay tôi kéo cái đòn bẩy nhé!” Kowalski la lên. Anh khom mình, nói vọng vào căn phòng đã bị bít kín lối vào duy nhất bởi phiến đá.
“Đừng!” Gray đáp lại.
Những người khác vẫn an toàn trong đường hầm, không phải lo lắng vì rừng chông đang lơ lửng trên đầu. Chỉ có Gray là đang gặp nguy hiểm. Cô biết Gray phải chọn lựa. Nếu đòn bẩy được giật xuống, những cái bẫy sẽ không còn nguy hiểm nữa, nó cũng sẽ mở cửa hầm và “chào đón” những tên lính đánh thuê. Nếu anh chỉ nghĩ cho bản thân, thì những người khác sẽ chết.
Không có chiến thắng ở đây.
Tất cả những quyết định của Gray là nhầm giữ lấy cơ hội mong manh. Nếu như quân đội của Krista vẫn còn đang tốn thời gian tìm cách mở cửa thì bạn bè anh sẽ vẫn an toàn.
Cơ hội chiến thắng thật mỏng manh, nhưng ít ra là vẫn còn cơ hội.
Cô nhìn lên.
Ngay bây giờ cô phải nắm lấy cơ hội này.
Seichan bước đi và đối mặt với Gray. Cô muốn kéo anh khỏi những nguy hiểm chết chóc đang bao vây họ. Anh cần phải biết sự thật.
“Giờ thì những bí mật của cô có còn ý nghĩa gì nữa?”
Nhưng Gray bất thình lình xoay người lại. “Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi đúng?”
“Hả?”
“Hãy giữ cho cây thánh giá vững trong khi tôi xoay vòng,” anh ra lệnh.
Cô nghe theo, nhưng lòng rối bời.
“Có thể nó không là một cái bẫy treo. Rất có khả năng nó là một cái đồng hồ bấm giờ. Việc giải quyết tổ hợp chỉ được phép hoàn thành trong một thời gian nhất định.” Anh hất đầu về phía rừng chông trên trần.
“Nên chúng ta sẽ không được phép đoán mò. Không có thời gian cho phép thử đúng - sai.”
“Chính xác.”
Gray tiến lại tâm giác đồng và bảo đảm nó sẽ thực hiện nhiệm vụ của nó một cách trơn tru. Anh lướt những ngón tay dọc theo vòng quay của thánh giá. Miệng anh lẩm nhẩm khi đếm những dấu khắc. Anh xoay đến đúng điểm đã tính toán.
“Xong rồi,” anh thì thầm.
Anh xoay vòng quay cho đến khi dây dọi trùng với vạch khắc đã tính trước. Anh dừng lại nín thở, môi mím lại căng thẳng.
Một tiếng chiêng giống như ban đầu lại vang lên.
“Lần này phải được!” anh nói.
Rủi thay, những cây chông thậm chí rơi xuống còn nhanh hơn lúc nãy. Chúng lao thẳng về phía mặt đất.
“Gray!”
Anh nhìn lại và đếm nhanh chóng. Lần này thì đếm rất to. “Tám, bảy, sáu, năm, bốn.”
Anh để ngón tay mình làm dấu tại đúng vị trí rồi xoay vòng quay theo hướng ngược lại. Nó cần phải được xoay đúng một vòng tròn.
Seichan lách người khi một cây chông sắp rơi vào mặt cô. Cả hai đều bị chông rơi trúng đầu gối. Seichan giơ một tay để đỡ thánh giá. Gray thì bận cả hai tay: một để giữ vị trí đánh dấu, còn tay kia để xoay vòng quay.
Khi đang theo dõi anh, đầu nhọn của một cây chông đã khứa vào cánh tay cô.
Gray hét lên khi một cây chông đâm vào mu bàn tay. Anh buộc phải bỏ tay khỏi vòng quay.
Khuỵu xuống trong một tư thế hơi khác Gray, Seichan luồn cánh tay cô giữa hai cây chông và chụp lấy phía bên kia của vòng quay.
“La lên khi tôi quay nó đến đúng chỗ nhé!” Cô hổn hển.
Nó cần phải được nâng lên để gia tăng tác dụng của đòn bẩy. Vòng quay rất khó xoay. Một cây chông đang từ từ đâm qua một bên má của cô. Chông đã cắm ở khắp mọi nơi. Máu đầy miệng cô và chảy xuống cằm.
Cô đang vật lộn để xoay vòng quay, nhưng nó quá chặt.
Sợ hãi, cô bắt gặp ánh mắt của Gray. Cô không thể nói với cái má bị đâm xiên. Sự đau đớn đang hành hạ cô. Cô buộc phải để hết sự thống khổ và đau đớn vào cái nhìn đó, thổ lộ chính mình với một người đàn ông, lần duy nhất không giấu giếm bết kể điều gì.
Kể cả trái tim cô.
Đôi mắt anh mở to, có lẽ là lần đầu tiên anh nhìn cô thật sự, nhận ra cái đang che khuất hai người. Bàn tay anh đưa qua nó và chạm vào chân cô. Anh nắm chặt đầu gối cô và thì thầm ba từ mà chưa ai từng nói với cô thật lòng như thế.
“Anh tin em.”
Đau đớn không thể làm cô gục ngã, nhưng những lời anh vừa thốt ra… Nước mắt cô tuôn ra và chảy xuống hai bên má. Cô đẩy mạnh vào cây chông, ngăn nó xuyên sâu hơn. Những ngón tay ô kẹp cứng lại. Cô kéo mạnh vòng quay. Nó chậm chạp dịch chuyển.
Cơn đau cứ đây nghiến cô.
Cô cảm thấy như chông nhọn đã chạm đến lưỡi.
Tuy vậy, cô vẫn xoay.
“Dừng lại!” Gray ra hiệu dứt khoát.
Cô buông vòng quay để ngồi thụp xuống sàn để cây chông rút khỏi má. Một tiếng chiêng thứ ba vang lên.
Ba hình trôn ốc, ba tiếng chiêng.
Tuy không còn nhìn rõ nữa, nhưng rõ ràng là cô thấy những cây chông đang được thu lại một cách chậm chạp. Nằm gục trên sàn, cô nghe thấy những tiếng truyền động của bánh răng rất to bên dưới, nghe cứ như tiếng đồng hồ của Thượng đế.
Ngay sau đó, cây thánh giá tự đứng thẳng dậy và trở về vị trí.
Gray chạy ngay đến chỗ cô. Anh đỡ cô lên và đặt cô vào lòng. Cô thu mình lại rồi ôm lấy anh. Anh cũng ôm cô thật chặt.
“Em đã làm được. Nhìn xem.”
Anh nâng cô cao hơn trong tay mình để cô có thể nhìn ngang qua căn phòng.
Cùng với tiếng truyền động bên dưới, từng hình trôn ốc bắt đầu bật lên, để lộ những cái sàn giả. Các khu vực đó xoay đủ một vòng. Những mặt phẳng của hình trôn ốc lật úp xuống rồi biến mất để lộ cái mà nó đã che giấu hàng thế kỉ nay.
Mặt dưới của mỗi cái sàn là một cái nôi bằng thủy tinh.
Khi ba cái sàn đã ổn định và không còn di chuyển nữa, ba cái nôi bằng thủy tinh rung lắc trong những thanh đỡ của chúng.
Ngay cả từ vị trí của cô, Seichan biết những em bé không cần phải ở trong những cái nôi quá khổ này mà đó là những thi hài.
Những cái nôi thật sự là những cái quan tài.
“Nó là những cái hòm,” Gray nói.
Bên kia gian phòng, cửa được mở lại khi những phiến đá được kéo trở lên. Những người khác chạy vội vào trong căn phòng.
Đôi mắt Wallace mở to. “Các bạn đã thành công!”
“Gray…?” Rachel gọi to.
Những giọt nước mắt rơi lã chã trên mặt cô. Cô nghĩ là anh đã chết. Mừng vui và hãi hùng trộn lẫn trên khuôn mặt cô khi tìm thấy Gray còn sống nhưng người bê bết máu.
Seichan cố đứng dậy nhưng quá đuối sức.
Gray nâng cô lên bằng một tay. Máu vẫn chảy từ má bị đâm, nhưng không nhiều nữa. Wallace đưa cô chiếc khăn tay. Cô cuộn nó lại và áp vào má để cầm máu.
Gray nhìn cô, ánh mắt đầy nghi vấn. Cô gật đầu và bước trượt khỏi tay anh. Giờ là việc khó khăn nhất mà cô phải hoàn thành. Nhưng cô không thuộc về nơi đó.
Rachel chạy vội đến Gray và giúp anh băng bó bàn tay.
Wallace bước đến cùng với Kowalski. “Chúng là những quan tài bằng thủy tinh…”
“Thì dĩ nhiên,” Kowalski nói.
Gray buộc dây đai cuối cùng lên chỗ băng bó. Máu vẫn chảy thành từng giọt từ những ngón tay khi anh chỉ về những quan tài. “Chúng ta cần phải tìm chiếc chìa khóa đó.”
★ ★ ★
4h08 chiều
Gray biết nơi đầu tiên để tìm.
Anh dẫn những người khác đến một cái quan tài trông khác nhất so với hai cái còn lại. Một lớp bụi dày phủ trên kính, nhưng họa tiết thì vẫn còn rõ. Ánh sáng từ chiếc đèn pin tập trung lên đó, sự lấp lánh đã tôn lên vẻ đẹp rực rỡ của chúng.
Các mặt bên và nắp quan tài được làm từ một tấm kính màu tinh xảo, màu sắc sáng như đá quý, và các hình ảnh quá quen thuộc. Được điêu khắc bằng những mảnh thủy tinh và đá quý là những dãy hàng trang trí đầy hình diều hâu tí hon, những con chó rừng, những con sư tử có cánh, những con bọ cánh cứng, những bàn tay, đôi mắt, những cái lông chim, cùng với những biểu tượng có góc cạnh được cách điệu.
“Chữ tượng hình Ai Cập,” Wallaec diễn giải với một cái há hốc miệng kinh ngạc.
“Được làm từ thủy tinh màu.” Rachel cũng nói trong sự kinh ngạc giống như vậy.
Wallace cúi mình gần hơn. “Những nét chạm, tuy vậy, đã từ rất xưa rồi. Những người Ai Cập sơ khai. Tôi hình dung một vương quốc cổ. Nhà thờ ắt hẳn đã bắt chước từ một số tấm bia mộ đầu tiên của người Ai Cập. Có lẽ chúng đã từng được khắc trên những cái quách đó ở Bardsey. Trước khi hủy bỏ chúng đi, các thầy tu phải giữ lại bản ghi chép, sau đó tái tạo lại chúng trong những tấm thủy tinh màu này.”
“Ông có thể đọc nó chứ?” Gray hỏi, hi vọng nó nắm giữ một vài manh mối của chiếc chìa khóa.
Wallace lướt những ngón tay mình trên bụi. “Đây là nơi an nghĩ của Meritaten, con gái của vua Akhenaten và hoàng hậu Nefertiti. Người đã vượt biển và mang thần Mặt trời đến những vùng đất lạnh lẽo.”
Ngay lúc vị giáo sư đọc xong, đôi tay và giọng nói ông đều run rẩy. “Nữ hoàng da đen.” Ông quay đầu lại, mắt mở to hoảng hốt. “Một công chúa Ai Cập.”
“Điều đó có thể không?” Rachel hỏi.
Gray nhìn khắp mảnh thủy tinh màu. Anh nhớ lại câu chuyện của đức cha Rye ở vùng đảo Bardsey về phù thủy Merlin đã được chôn cất ở đó trong một quan tài bằng thủy tinh. Liệu đây có phải nguồn gốc thực sự của thần thoại đó? Hay sự chôn cất nơi đây đã được bí mật phao lên và người ta đã nhầm lẫn Meritaten với Merlinh?
Gray lướt lại câu chuyện thần thoại về lịch sử quần đảo Anh trong đầu. Anh nhớ lại sự mô tả của một thầy tu về cuộc chiến tranh của người Celt chống lại bộ tộc của những quái vật da đen, Fomoria1. Đối với người Xent, sự chiếm chỗ của bộ tộc người Ai Cập có vẻ như xa lạ và kỳ quặc. Cũng theo những câu chuyện giống như thế, những người Fomoria đã chia sẻ những kiến thức phong phú của họ về nông nghiệp, một kĩ năng được mài giũa rất tốt bởi những người Ai Cập dọc sông Nile.
1: Một trong những nhóm quái vật biển Xentơ thường có liên quan đến những quyền năng thù nghịch của thiên nhiên.
Wallace đứng thẳng dậy, chìm sâu vào suy nghĩ. “Một vài nhà lịch sử học cho rằng những người dựng đá cổ ở nước Anh có khả năng là người Ai Cập. Tại một khu chôn cất thuộc thời kì đồ đá mới tại Tara thuộc Ireland, họ đã tìm thấy một thi hài được trang hoàng với những hột gốm sứ, một kĩ năng hầu như chỉ được tìm thấy trên những thi hài trong mộ của Tutankhamen. Và ở nước Anh, gần với thành phố Hull, người ta phát hiện ra những con tàu khổng lồ được đầm lầy than bùn bảo quản. Thiết kế của chúng rõ ràng là của người Ai Cậ và có niên đại đến 1.400 năm trước Công nguyên, trước những người Viking hay bất kì người đi biển nào khác đã từng đến bờ biển Anh. Bản thân tôi đã thấy một hòn đá cổ ở bảo tàng quốc gia London, được phát hiện bởi một người Ai Cập cùng những hình kim tự tháp ở mặt sau.”
Wallace lắc đầu, như thể vẫn còn gì đó phải vật lộn để tin vào những điều này. “Nhưng đây… đây là bằng chứng thật.”
“Còn chìa khóa?” Seichan, một tay giữ chiếc khăn đầy máu trên má, nhắc, kèm theo tiếng ho khàn.
Trong những tấm kính này, một nhân vật đang nằm trong quan tài. Nắp bật được đóng bởi một cái móc đồng. Gray biết họ sắp sửa phải quấy rầy sự an nghỉ của vị công chúa Ai Cập này. Anh tiến lại gần và tháo cái móc. Anh kéo nắp hòm lên và nghiêng nó ra sau.
Một mùi buồn nôn ngọt ngào thoảng qua.
“Ôi lạy Chúa!” Rachel la lên.
Mặc dù đã khô vào teo đi, nhưng thi hài vẫn được bảo quản tốt một cách kì lạ. Mái tóc đen dài được đặt xõa ra để lộ vị công chúa nằm tựa đầu. Làn da đen của cô vẫn căng mịn. Thậm chí lông mi của cô vẫn còn nguyên vẹn. Một vương miệng bằng vàng được đặt trên đầu cô. Vải liệm mỏng phủ kín người cô từ cằm đến chân, những đồ trang trí bằng lapis lazuli1 ro rõ ràng là có nguồn gốcp từ Ai Cập.
1: Một loại đá màu xanh da trời.
Phần duy nhất trên cơ thể cô được để trần chính là đôi bàn tay được gập lại trên ngực, ôm một cái bình đá chạm khắc nhiều chữ tượng hình. Cái bình được niêm phong bằng một cái nắp bằng vàng hình đầu chim ưng.
“Nhìn tay phải của cô ta xem,” Rachel nói.
Gray chú ý đến ngón trỏ bị mất của thi thể.
Tâm trí Wallace lúc này hoàn toàn tập trung vào một cái bình đá nắp vàng. “Thiết kế này trông giống một chiếc bình canopic sử dụng để giữ nội tạng đã được ướp của một vị vua hay hoàng hậu.”
Gray biết họ phải nhìn bên trong chiếc bình. Chìa khóa của Ngày Tận thế luôn đi chung với thi hài của hoàng hậu bóng đêm. Anh cúi mình vào quan tài và nhấc cái bình chứa nặng nề ra khỏi những ngón tay ghì chặt của nữ hoàng.
“Tôi sẽ không làm thế,” Kowalski lầm bầm và bước lùi lại. “Không đời nào, không bao giờ. Nó là thứ đã bị nguyền rủa.”
Hay nó là thuốc giải, Gray nghĩ.
Với kĩ năng nông nghiệp, những người Ai Cập đã phát hiện ra một số loài nấm kí sinh có thể gây hại và tàn phá làng mạc. Một dạng chiến tranh sinh học. Nhưng liệu họ có nắm giữ luôn thuốc giải độc?
Gray ôm chiếc bình, giữ chặt cái đầu chim ưng và giật mạnh cái nắp. Trong thâm tâm, anh muốn co rúm người lại, không biết cái gì sẽ xảy đến.
Lời nguyền hay thuốc giải?1
1: Curse (lời nguyền) or cure (thuốc giải)? Một cách chơi chữ khá hay của tác giả.
Wallace giữ chặt đèn pin khi Gray đổ nghiêng nắp bình.
Từ bên trong một chất bột màu trắng như tuyết đổ ra, rất mịn, trông như nước. Anh nhớ lại câu chuyện của Bernard và phép lạ sinh ra sữa, cách mà nữ thần da đen khóc ra sữa, cách mà nữ thần da đen khóc ra sữa và chữa lành bệnh.
Gray biết thứ nằm trong bàn tay anh. “Nó chính là thuốc giải,” anh nói chắc chắn. “Đây chính là chìa khóa.”
Anh đổ bột trở lại bình canopic và đóng nó thật chặt.
“Chắc anh cũng muốn thấy thứ này,” Seichan vừa nói vừa ho. Cô di chuyển đến một cái quan tài khác.
Họ đi cùng cô.
Cô chiếu đèn pin vào trong quan tài kính. Một thi thể nằm trong bộ áo thầy tu đơn giản với một cái áo choàng trắng có nón trùm đầu, tay cũng được gập, ôm chặt một cuốn sách bọc da.
Nhưng giờ thì ánh đèn của Seichan đang tập trung vào khuôn mặt của thi thể. Người đàn ông này trông như thể ông chỉ mới chết ngày hôm qua. Da tuy hơi hóp lại, nhưng hoàn toàn không tì vết, môi ông đỏ, mắt nhắm như đang thiu thiu ngủ. Mái tóc nâu trông như được chải tươm tất và được tỉa ngang chân mày.
“Ông ta không hề bị thối rữa tí nào,” Seichan nói.
Rachel đặt một tay lên cổ mình. “Những thi thể của các vị Thánh được cho là không bao giờ bị thối rữa, không bị hủy hoại. Đây chắc chắn là Thánh Malachy,” - cô liếc nhìn cái quan tài thứ ba. “Có lẽ là Thánh Bernard.”
Wallace có một suy nghĩ khác về khả năng không bị hủy hoại của những thi thể. Ông nhìn lên cái bình trên tay của Gray, sau đó nhìn những thi hài.
“Những cái bình canopic không phải lúc nào cũng giữ những cơ quan nội tạng được ướp.” Ông gật đầu khi nhìn hướng về cái bình. “Đôi khi chúng cũng được dùng để chứa hợp chất để ướp xác. Dầu, thuốc bôi, bột.”
Gray hiểu ngay. “Nếu như chìa khóa là thuốc chữa, đặc biệt là thuốc chống lại tai họa từ nấm, thì chất bột này phải nắm giữ những tính chất kháng nấm rất mạnh… có khả năng nó cũng sẽ kháng luôn vi khuẩn.” Anh nhìn khuôn mặt của vị Thánh. “Mà nguyên nhân chính gây ra sự phân hủy cơ thể là từ nấm và vi khuẩn. Ướp xác với một hợp chất như thế này, niêm phong quan tài thật kĩ, và mọi thứ sẽ như chúng ta đang thấy đây.”
Anh cũng đang hồi tưởng lại sức khỏe tuyệt vời và sự sống lâu đã được ban cho những thầy tu ở đảo Bardsey. Một phương thuốc mạnh như thế này sẽ bảo vệ các thầy tu khỏi những nguồn bệnh thông thường đã quét qua suốt thời Trung cổ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hòn đảo nổi tiếng về việc chữa bệnh.
Đôi mắt của Wallace mở to. “Vậy chìa khóa…”
“Nó phải có nguồn gốc từ một hợp chất ướp xác. Có lẽ chúng được mang từ Ai Cập hay được phát hiện trong vùng đất mới của họ. Nói chung dù là gì, thì tác dụng y học của nó cũng phải được người ta nhanh chóng nhận ra. Vào những thời đó, những phương thuốc như thế này có vẻ như là một phép màu nhiệm.”
Wallace gật đầu. “Và khi kết hợp với nguồn bệnh chết người, nó là bộ đôi đầy quyền năng. Một thứ vũ khí sinh học cùng với nhân tố phản tác dụng của nó.”
“Và những tri thức này đã từ những người Ai Cập, qua tay những người Xentơ, rồi đến những nhà thờ đầu tiên. Rồi cuối cùng thì được giữ trong bình và nằm ẩn mình nơi đây.”
“Nhưng nó không là kiến thức duy nhất đã vượt qua dòng lịch sử.” Wallace quay mặt về phía thánh giá Xentơ. “Bao lâu nay, các nhà khảo cổ đã tranh luận việc làm thế nào mà người Ai Cập có thể xây dựng những kim tự tháp với một sự chính xác và thẳng hàng như thế. Họ phải cần một công cụ đo đạc tốt.”
Gray nghiên cứu thánh giá bằng đôi mắt mới. Đây có thể là nó chăng?
Đằng sau anh, Rachel giờ đã bớt hoảng hốt. Cô vẫn đứng bên cạnh quan tài, cùng Seichan khom xuống. Họ đang mở cuốn sách đã được vị thánh giữ trong tay ban nãy.
“Bên trong có ghi tên này,” Seichan nói quả quyết. “Mael Maedoc.”
“Thánh Malachy,” Rachel đồng ý. Cô lật những trang sách. “Nó là nhật kí của ông. Nhìn những con số và những đoạn viết ngắn nguệch ngoạc bằng tiếng Latinh này xem…”
Cô liếc nhìn Gray ở đằng sau. “Đây là lời tiên tri gốc của các Đức Giáo Hoàng. Trong bản viết tay của chính ông.” Giọng cô sắc lại. “Nhưng đây còn rất nhiều trang ghi chép khác. Em nghĩ nhật kí này chứa đựng hàng trăm lời tiên tri khác, không bao giờ được công bố ở nhà thờ.”
Có lẽ đúng là như thế, Gray nghĩ. Nhà thờ chắc phải đã rất sợ hãi bởi những lời tiên tri của các Giáo hoàng, những tiên đoán về ngày tận cùng của thế giới. Thảo nào cuốn nhật kí này lại được giấu ở đây.
Trước khi Rachel có thể khám phá bản viết tay kĩ lưỡng hơn, thì Seichan đã tiến đến cuốn sách và lật trang đầu tiên nơi một biểu tượng được vẽ. Nó là một chữ tượng hình Ai Cập. Cô liếc nhìn Gray. Anh nhận ra nó. Họ đều đã thấy nó trước đây.
Bây giờ anh biết tại sao Guild lại trở nên quá phấn khích như thế. Một tổ chức luôn gắn bó với nguồn gốc của tri thức cổ xưa, đặc biệt là người Ai Cập. Cha Giovanni chắc phải đã hoài nghi về liên hệ với người Ai Cập và để tin này lộ ra ngoài, khiến Guild vô cùng quan tâm.
Anh nhìn xuống biểu tượng, họ đã thấy một lần trước đây trong khi đang đối mặt với Guild một năm trước đây: những hình nón miêu tả một bữa ăn thiêng liêng.

Biểu tượng thể hiện cái được gọi là shrewbread, có nghĩa là miếng bánh của Thượng đế. Nó được dùng bởi các pharaoh để khai mở tâm trí đến thế giới thần thánh. Cũng có thể hoàng hậu bóng đêm Meritaten đã mang từ Ai Cập đến đây nhiều hơn là hợp chất ướp xác thần kì chăng? Cùng một ít shrewbread? Có khi nào Malacht đã ăn nó nên được đến nơi thần thánh, và chứng kiến nhiều thứ?
Gray nhìn xuống biểu tượng vẽ phía trước cuốn sách.
Trước khi bất kì ai trong họ có thể tìm hiểu nhiều hơn, sức ép vụ nổ ở trên đã làm rung chuyển bên dưới. Vụ nổ lần này lớn hơn rất nhiều. Nó làm đau nhói tai anh. Khói và đá được thôi tung từ đường hầm và vào trong gian phòng.
“Họ đã vào được rồi,” Seichan nói.
Gray ra hiệu cho Kowalski. “Lấy khẩu súng và – ”
Nhưng trước khi người đàn ông to lớn có thể di chuyển, thì Wallace đã âm thầm giật lấy khẩu súng từ tay Kowalski. Vị giáo sư chĩa súng vào họ, lùi lại bằng những bước chân kéo lê hướng về phía đường hầm.
“Đừng có mơ,” Wallace nói.
Từ lối vào, sáu tên lính đang chạy nhanh vào căn phòng, theo sau là một người phụ nữa cao với một cây súng ngắn Sig Sauer trên tay.
Wallace quay lại. “Mừng em đã xuống được đây, em yêu.”