Chìa Khóa Ngày Tận Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Ngày 13 Tháng 10, 8h43 Sáng

❊ ❊ ❊

Chuyến bay qua biển Nauy

Khi chiếc phản lực tư nhân lao vút qua vòng Bắc Cực thì thái dương vẫn còn đâu đó nơi chân trời. Trong suốt những tháng mùa thu vừa qua, những nơi họ đã đến chỉ có rất ít ánh nắng ban ngày. Quần đảo Svalbard nằm lưng chừng trên vùng biển nối Bắc Nauy và Bắc Cực. Với hơn nửa diện tích bị vùi sâu dưới lớp băng, quần đảo này được xem là nhà của loài tuần lộc, gấu trắng Bắc Cực và một lượng nhỏ dân cư sinh sống.

Thậm chí ngay cả Thánh Nicolas (ông già Noel) có lẽ phải mất khá lâu mới gọi nơi đây là nhà được.

Nhưng vào lúc này, Painter đang tận hưởng chuyến bay trong khoang được bọc da và ốp gỗ của chiếc phản lực Cessna Citation Sovereign mà Kat đã xoay xở được. Cô cũng đã thay đổi tờ khai chuyến bay, chỉ ghi rằng hành khách là ban giám đốc của một tập đoàn khai thác than. Đúng là một vỏ bọc thích hợp cho họ vì ngành công nghiệp chính trên quần đảo này là ngành khai thác than.

Khoang hành khách có bảy chỗ, vì vậy có rất nhiều chỗ cho cả bốn người nằm dài ra để nghỉ. Họ đã cố chợp mắt chút ít sau một đêm dài, nhưng trong đầy một giờ nữa họ sẽ đáp xuống Longyearbyen, khu dân cư lớn nhất trên quần đảo Svalbard.

Painter thả mình xuống cái ghế da dành cho cơ trưởng. Anh ngồi đối diện bàn, phía bên kia là Thượng nghị sĩ Gorman. Monk và Creed cùng ngồi trên băng ghế gần đó. Đây là lúc mà họ cùng ngồi lại bàn bạc với nhau và củng cố lại kế hoạch tác chiến cho lần đối đầu sắp tới.

Painter hiểu rằng họ cần phải hành động nhanh và nhảy xuống đường băng ngay khi bánh máy bay vừa chạm đất. Họ rút khỏi Oslo vì hai lý do. Thứ nhất, nơi này trở nên quá nguy hiểm vì Painter đã bị lộ, còn ngài Thượng nghị sĩ thì bị săn đuổi ráo riết. Thứ hai, kẻ tình nghi chủ yếu đã rời khỏi Oslo đến hòn đảo băng giá, nơi mà họ cũng đang đến. Đây là cơ hội tốt nhất cho họ để dồn Karlsen vào đường cùng và bắt hắn khai ra sự thật.

Vị tổng giám đốc của Viatus đang dẫn đoàn lãnh đạo cấp cao đến tham quan Hầm Lưu trữ Hạt giống Toàn cầu đặt tại Svalbard. Nơi đây mệnh danh là Tàu chứa các hạt giống của Noah, nghĩa là bảo vệ các hàng hóa quý báu bao gồm hơn ba trăm nghìn giống cây trước hiểm họa chiến tranh, dịch bệnh, các cuộc tấn công hạt nhân, động đất, và thậm chí là hiện tượng biến đổi khí hậu. Được thiết kế để tồn tại đến hai mười nghìn năm, chiếc Hầm Tận thế này nằm sâu 130 mét dưới chân một quả núi vốn được xem là vùng dân cư hẻo lánh nhất trên trái đất.

Nếu họ muốn gặp riêng Karlsen mà không bị quấy rầy bởi những cặp mắt tò mò, thì đây chính là địa điểm lý tưởng. Tuy nhiên, những cuộc gặp gỡ như vậy không phải là không rủi ro.

“Ngài Thượng nghị sĩ”, Painter thúc giục lần cuối, “Tôi vẫn nghĩ rằng tốt nhất ngài nên ở lại Longyearbyen. Vì nếu cần ngài, chúng tôi có thể kéo ngài tham gia vào cuộc điều tra.”

Painter tiếp tục giở giọng mưu mẹo rằng ba người họ đều từ Văn phòng Tổng thanh tra và làm việc cho Cục điều tra tội phạm quốc phòng. Hơn nữa, họ thậm chí còn mang cả huy hiệu của hai tổ chức này để chứng minh.

“Tôi sẽ đi với anh,” Thượng nghị sĩ Gorman vừa nói vừa pha một tách cà phê.

Painter chú ý rằng ông ta đã cho vào đó một ít rượu mạnh brandi từ quầy bar trong hầm. Nhưng đó không phải là điều Painter trách Gorman. Gorman đã gặp hàng loạt tai họa chỉ trong vòng vài giờ qua. Ông ta là một chiến hữu thân cận, gần như là bạn bè với Karlsen.

Gorman gằn giọng: “Nếu thực sự Ivar có nhúng tay vào cái chết của con trai tôi thì –”

“Chúng ta vẫn chưa biết được việc này có liên quan với hắn ta như thế nào,” Painter khẽ đề nghị. Ngài Thượng nghị sĩ vẫn không đồng ý.

“Thằng khốn đó đã bắt tay tôi.” Gorman đấm mạnh xuống bàn khiến tách cà phê và mấy cái đĩa rung lên. Ông ta nhìn trừng trừng sang bên kia bàn. Rõ ràng là ông ta không nên được mời đến đây. Painter có thể hiểu được nỗi mất mát, rồi bị phản bội của ông ta, nhưng lúc này đây, Painter không cần ai đó đổ thêm dầu vào lửa.

Tuy vậy, Painter vẫn cứng rắn tranh luận rồi khẳng định. “Ông sẽ cần đến tôi để có thể tiếp cận Ivar.”

Painter chắp hai tay trên đùi, và nhận ra sự thật. Karlsen đã đi trước họ một giờ để tránh cơn bão đang kéo đến từ vùng cực. Ông ta lẽ ra phải có mặt tại Hầm bảo tồn trước khi họ đến. Hệ thống an ninh ở đó rất chặt chẽ, đặc biệt là khi đón tiếp lãnh đạo cấp cao từ hội nghị thượng đỉnh.

Thượng nghị sĩ Gorman tiếp tục. “Để vào được đó, anh sẽ cần tôi và cả thẻ ra vào của tôi. Thậm chí những cái huy hiệu của anh cũng sẽ chẳng giúp anh vượt qua vòng an ninh được đâu. Với cái thư mời này, tôi có thể đưa ít nhất một người trong các anh vào Hầm.”

Mọi chuyện đã được quyết định, Painter sẽ là người duy nhất đó. Còn Monk và Creed sẽ cảnh giới và yểm trợ khi cần.

Painter cũng đã điều tra hệ thống an ninh trong Hầm hạt giống. Hầm là một khu vực biệt lập với bên ngoài bằng những cánh cửa thép được gia cố vững chắc và nhất cử nhất động trong khu vực đều được theo dõi qua hệ thống máy quay dày đặc. Đó là chưa kể đến hàng ngàn con gấu trắng đi lang thang khắp hòn đảo. Thêm vào đó, chính vì sự kiện này, một toán lính thuộc Quân đội Nauy được huy động để tăng cường an ninh cho nơi đây.

Do vậy, việc đột nhập vào bữa tiệc mà không có Gorman giúp sức thì cũng hiểm nguy chẳng khác gì xâm nhập Trại Knox vậy.

Nhận ra mức độ khó khăn của nhiệm vụ lần này, cuối cùng Painter cũng dịu lại. Ông ngồi thẳng dậy và nhìn hết thảy mọi người. “Vậy trước khi hạ cánh, chúng ta hãy nghĩ lại xem chúng ta đã biết những gì, và những gì chúng ta chưa biết cũng quan trọng không kém. Ngay khi hạ cánh, chúng ta sẽ nhảy xuống liền.”

Monk gật đầu. “Vậy chúng ta bắt đầu từ đâu?”

“Từ mục tiêu chính của chúng ta, Ivar Karlsen.” Painter hướng về phía Gorman. “Ông đã làm việc với ông ta nhiều năm. Ông có thể cho chúng tôi biết chút gì về ông ta?”

Ngài Thượng nghị sĩ quay lại. Rõ ràng là ông cố nén, nhưng nét mặt vẫn còn tức tối. “Nếu hôm qua anh hỏi tôi điều đó, tôi sẽ trả lời hắn là một kẻ mạnh mẽ, hài hước, biết cách kiếm chác, dám chơi dám chịu. Hắn chính là một dạng kết hợp giữa Rockefeller và Franklin D. Roosevelt.”

“Làm sao ông quen ông ta?”

“Ở Câu lạc bộ Rome. Tôi tham gia đơn giản chỉ để mở rộng các mối quan hệ chính trị và kinh doanh. Có cách nào tốt hơn để củng cố và phát triển sự nghiệp bằng việc đàn đúm với đám tài phiệt công nghiệp, chính trị gia, và nhân vật có danh tiếng.” Ông ta nhún vai, không chút xấu hổ về tham vọng của bản thân. “Và tôi đã gặp Ivar. Khát khao của hắn thật mãnh liệt, còn tài hùng biện thì hết sức thuyết phục. Hắn cực kì tin tưởng vào việc bảo tồn thế giới, và bảo vệ tương lai loài người. Tôi chắc rằng một số đề xuất của hắn để quản lý việc gia tăng dân số là rất cực đoan: kiểm soát bắt buộc việc sinh sản, triệt sản, trả tiền cho các gia đình để không sinh con. Tuy vậy, phải có ai đó thực hiện những công việc khó khăn này. Chính những điều đó đã khiến tôi kết thân với hắn. Hắn xử sự thẳng thắn nhưng cũng rất tình cảm. Nhưng tôi không phải là người duy nhất trong nhóm thân cận của hắn.”

Painter chú ý hơn. “Ý ông là gì?”

“Trong Câu lạc bộ Rome, Ivar tụ tập với những người có cùng quan điểm, những người tin rằng những biện pháp cứng rắn là cần thiết. Chúng tôi là một nhóm riêng trong câu lạc bộ. Mỗi người trong nhóm làm việc cho những dự án đặc biệt cho hắn. Như tôi đã nói, việc của tôi là dùng quyền lực chính trị của mình để mở rộng sự phát triển nhiên liệu sinh học. Nhưng những dự án khác thì do nhiều thanh viên khác nữa trong nhóm thân cận đảm nhiệm.”

“Giống cách làm của loài ong sao?” Monk hỏi vừa liên tưởng đến những tổ ong dùng để nghiên cứu trong hầm thí nghiệm mà anh đã thấy. Anh xoa vết sưng do ong chích trên má.

Ngài Thượng nghị sĩ nhún vai. “Tôi không rõ nữa. Mỗi người chúng tôi thực hiện những dự án riêng biệt.”

“Vậy giờ chúng ta hãy nói về cái dự án đã khơi mào cho toàn bộ mớ hỗn độn này.” Painter nói. “Nơi khởi đầu của sự chết chóc. Tất cả việc này bắt nguồn từ vụ nghiên cứu gen tại Viatus, cụ thể là vụ thử nghiệm giống ngô chống hạn. Chúng ta biết rằng Viatus tài trợ cho các sinh vật dạng nấm trong các xác ướp được bảo quản bằng than bùn tại Anh.” Painter gật đầu xác nhận với Monk. “Và chúng tôi còn biết rằng nghiên cứu này hiện nay vẫn đang tiếp tục; những thi thể tìm thấy ở phòng thí nghiệm nấm chắc chắn là đến từ nông trại thử nghiệm ở châu Phi.”

Painter vừa cho tiến hành tìm kiếm vị trí những phòng thí nghiệm dưới lòng đất đó. Nhưng Viatus là một trong những tập đoàn lớn nhất tại Nauy với mạng lưới tài chính rộng khắp toàn cầu. Trước khi các chuyên gia chấp thuận việc tìm kiếm, Painter nghi ngờ tập đoàn này đã xóa sạch dấu vết của những phòng thí nghiệm này, những gì còn lại chì là những căn phòng trống rỗng đã khử trùng.

Painter chốt lại, “Vì vậy tôi nghĩ chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng những gen bí ẩn trong các hạt giống ngô mà giáo sư Malloy của Đại học Princeton đã lưu ý là từ nguồn nấm đó. Và những gen này dường như không ổn định. Rất có khả năng giống ngô này sẽ gây nguy hiểm cho người dùng.

Gorman lắc đầu. “Nhưng tại sao cả làng lại bị thảm sát? Giống ngô đó thậm chí không có ích gì cho con người.”

Painter chỉ có một lý giải. “Đó là một trại tị nạn. Thực phẩm thì khan hiếm. Người đói thì ngày càng tuyệt vọng. Tôi cược là một số dân địa phương đã lẻn vào cánh đồng khi đêm xuống để lấy cắp vài bắp ngô cho gia đình. Và có thể rằng những người quản lý nông trại đã cố tình làm ngơ trước việc làm sai trái này. Đây là cơ hội cho Viatus thử nghiệm thực tế trên cơ thể người mà không cần phải cảnh báo gì cả.”

“Không một ai đoán được là gen này có thể tự biến đổi.” Monk vừa nói vừa nhăn mặt. “Sau khi biết được điều đó, họ phải dọn sạch dấu vết ngay sau khi thu được những cái xác nghiên cứu dọc trên đường. Ai mà để ý đến một hoặc hai người tị nạn, đặc biệt là khi trại của họ bị bom cháy thiêu sạch.”

Painter để ý rằng sắc mặt ngài Thượng nghị sĩ trở nên nhợt nhạt, và ánh nhìn ông bỗng dưng xa xăm. Chính nỗi đau buồn đã khiến ông ấy trở nên như vậy. Nhưng thật sự thì không chỉ có thế.

“Viatus vừa chuyển đi lô hạt giống ngô chống hạn mới của họ,” Gorman nói. “Họ bắt đầu tiến hành việc đó hồi tuần rồi. Giống ngô này đã và đang được trồng trên các cánh đồng khắp miền Nam bán cầu cho đến khu vực xích đạo. Hàng triệu mẫu đấy.”

Painter cảm nhận rằng thứ gì đó tệ hại sắp xảy ra. Mặt Gorman đã tái nhợt. Painter bất giác sợ hãi. Để sản xuất hàng loạt hạt giống đủ cho việc gieo trồng toàn cầu, Viatus hẳn đã phải trồng và thu hoạch loại ngô này ở nơi nào đó.

Nhưng nơi đó là nơi nào?

“Những cánh đồng dùng để nhân giống ngô mới này, chúng ở đâu?” Painter hỏi.

Gorman không dám nhìn Painter. “Tôi đã môi giới thỏa thuận này giúp Viatus. Việc sản xuất hạt giống biến đổi gen tiêu tốn hàng tỉ dollas mỗi năm. Nó giống như là đổ tiền vào những cái túi không đáy.” Giọng ông ấy trầm lại vì sốc. “Tôi đã đầu tư khắp nơi. Khắp cả nước Mỹ, Corn Belt. Bang Iowa, rảIllinois, Nebraska, Indiana, Michigan,… hàng ngàn và hàng ngà n mẫu, rải khắp vùng Trung Tây.”

“Và chúng cũng giống như loại ngô đang được thử nghiệm ở châu Phi phải không?” Monk hỏi.

“Không hẳn như vậy, nhưng nó có cùng một kiểu gen.”

“Và có khả năng là nó cũng không ổn định,” Painter nói thêm. “Hèn gì họ thiêu hủy toàn bộ nông trại thử nghiệm tại châu Phi. Cuối cùng cái kim trong bọc cũng lộ ra.”

“Nhưng tôi không hiểu,” Monk nói. “Bằng cách nào mà những hạt giống đó đã được trồng? Còn những nghiên cứu về tính an toàn của chúng thì sao?”

Gorman lắc đầu. “Các nghiên cứu về tính an toàn của thực phẩm biến đổi gen là điều lố bịch. Phụ gia dùng trong chế biến thực phẩm thì cần được kiểm nghiêm thêm. Người ta không hề đưa ra hướng dẫn nghiêm túc để đánh giá những nguy cơ mà thực phẩm biến đổi gen mang đến mà họ chủ yếu dựa vào những quy định tự đặt ra. Việc chấp thuận được dựa trên những bảng báo cáo hoàn toàn gian dối hoặc đã được chỉnh sửa lại nội dung từ các nhà sản xuất. Ví dụ như trong 40 công ty sản xuất thực phẩm biến đổi gen được chấp thuận năm ngoái, chỉ có 8 công ty công bố nghiên cứu về mức độ an toàn. Về hạt giống mà Viatus đã vận chuyển, chúng không có ích lợi gì cho việc tiêu thụ của con người, cho nên chúng thậm chí không được các cơ quan cấp phép để mắt đến. Bên cạnh đó… tôi cũng đã giúp chúng chuyển hàng trót lọt.”

Ngài Thượng nghị sĩ nhắm nghiền mắt và lắc đầu.

Painter nghĩ, chẳng có gì ngạc nhiên khi Karlsen cần đến ông ấy.

“Tuy vậy, nếu giống ngô đó không dùng làm thực phẩm cho con người,” Monk nói, “thì chúng vẫn có thể chứa đựng nhiều nguy hiểm.”

Cuối cùng Creed lên tiếng và nhanh chóng dập tắt hi vọng. “Nó vẫn được đưa vào làm thực phẩm cho con người.”

Mọi ánh mắt đổ dồn về anh.

Thành viên mới nhất của nhóm Sigma có vẻ hơi chùn xuống trước sự chú ý của mọi người, nhưng rồi anh tiếp tục. “Sau những gì xảy ra ở Princeton, tôi bắt đầu chú ý hơn vào những loại nuông sản biến đổi gen. Hồi năm 2000, một loại ngô biến đổi gen có tên là StarLink đã làm ô nhiễm thực phẩm chế biến cả nước. Và nó cũng tương tự như giống ngô của Viatus. Hơn 300 thương hiệu. Người ta nghi ngờ rằng nó kích hoạt các triệu chứng dị ứng, dẫn đến việc thu hồi khỏi thị trường hàng loạt sản phẩm. Công ty Kellogg đã phải ngừng sản xuất trong hai tuần chỉ để tẩy sạch các chất ô nhiễm.

Gorman gật đầu. “Tôi cũng nhớ vụ đó. Chính phủ đã mua lại toàn bộ cổ phiếu của Kellogg để cứu cả ngành công nghiệp này. Tiêu tốn cả bạc tỉ.”

“Và đó chỉ là một trong số nhiều báo cáo như vậy về các sản phẩm biến đổi gen nhập khẩu đã không còn được dùng làm thực phẩm dành cho người.” Creed liếc nhìn về phía Painter. “Nhưng vẫn còn đó một mối nguy hại lớn hơn nhiều.”

“Là gì vậy?”

“Sự lan truyền của phấn hoa và ô nhiễm gen di truyền.”

Painter cau mày, ra dấu yêu cầu Creed giải thích thêm.

“Không có cách nào để ngăn sự lan truyền phấn hoa của các cây trồng biến đổi gen. Chúng bay trong gió, rồi rơi trên những cánh đồng gần đó. Người ta đã phát hiện được một số hạt giống nảy mầm cách nơi chúng được gieo 30 dặm. Vậy nên anh đừng ngây thơ như thế. Nơi nào có các cánh đồng trồng ngô của Viatus, nơi đó là ổ phát tán giống ngô đó.”

“Và cả sự ô nhiễm gen di truyền?”

“Thậm chí là nghiêm trọng hơn. Có nhiều trường hợp việc biến đổi gen lây từ các giống cây thí nghiệm sang các giống cây hoang dã. Thế là ô nhiễm gen lan vào cả bầu sinh quyển. Và với sự thiếu ổn định của mẫu ngô Viatus như giáo sư Malloy đã nhắc đến, tôi nghĩ nguy cơ ô nhiễm là cực cao.”

“Vậy theo những gì anh đang nói, toàn bộ khu vực Trung Tây có thể đã bị ô nhiễm?” Monk hỏi.

“Còn quá sớm để khẳng định cho đến khi chúng ta có thêm nhiều bằng chứng,” Painter nói.

Thêm vào đó, Painter nhớ đến những gì Gray phát hiện ở Anh. Những xác ướp trong đầm lầy than bùn đã mọc đầy nấm giống với các xác chết trong phòng thí nghiệm. Liệu Karlsen có vô tình để những sinh vật đó lọt trở lại thế giới bên ngoài?

Tệ hơn nữa, điều gì sẽ xảy ra nếu đó không hẳn là một sự cố?

Rõ ràng là Karlsen đã thao túng ngài Thượng nghị sĩ cho những mục đích của hắn. Nhưng hắn làm như vậy với mục đích gì?

Chỉ một người có thể giải đáp điều này.

Viên phi công bỗng ngắt lời cả nhóm, “Chúng ta đang bắt đầu hạ cánh xuống Longyearbyen. Xin hãy thắt dây an toàn.”

Painter liếc ra ngoài cửa sổ. Cuối cùng ông cũng thấy ánh bình minh. Đã đến lúc ông cần nói chuyện với người đó. Tuy vậy, ông nhìn đồng hồ. Khi chiếc máy bay bắt đầu lao xuống khu quần đảo băng giá, trong tâm trí ông vẫn còn một nỗi lo, nỗi lo ngày càng lớn với mỗi giờ trôi qua.

★ ★ ★

11h01 sáng

Spitsbergen, Nauy

“Vẫn không có tin tức từ Gray ư?” Monk hỏi, dưới chân anh là sân đỗ phủ đầy băng. Anh mặc một bộ quần áo ấm, mang ủng, kính bảo hộ, và cầm trên tay một chiếc nón bảo hiểm.

Painter lắc đầu, giữ khư khư chiếc điện thoại vệ tinh. “Tôi đã hi vọng là sẽ có được chút tin tức từ anh ta khi mặt trời mọc. Hoặc là từ nhóm tuần tra. Họ đã cho trực thăng xuất phát lùng sục khắp cao nguyên từ sớm. Lính cứu hỏa cho biết toàn bộ thung lũng đang âm ỉ cháy. Tôi cũng đã hỏi Kat. Anh ta vẫn chưa liên lạc với Sở chỉ huy Sigma.”

Monk nhận ra sự đau khổ trên gương mặt của sếp. “Anh ta phải tìm cách thoát khỏi nơi đó. Chắc là có lí do nào đó khiến anh ấy trở nên im lặng như vậy.”

Nhìn vẻ mặt của Painter, dường như ông đã cảm thấy được an ủi đôi chút với lời nói của Monk. Nếu Gray bỗng nhiên im lặng, thì đó là vì anh ấy đang gặp phải một rắc rối nào đó. Ngài chỉ huy đưa mắt nhìn xa xăm.

Vầng dương vẫn lơ lửng nơi chân trời, ánh sáng của nó phản chiếu một cách khó nhọc xuống vùng băng tuyết rộng lớn bao phủ toàn bộ Spitsbergen. Vào tháng khác, quần đảo này sẽ chìm vào bóng đêm Bắc Cực kéo dài trong suốt bốn tháng liền. Thậm chí ở giữa trưa, nhiệt độ chỉ tăng lên mức âm 17 độ C. Một nơi cằn cỗi, không hề có cây cối mà chỉ toàn là những khe nứt và đỉnh núi nhọn hoắc. Tên của hòn đảo thuộc quần đảo Svalbard này là Spitsbergen, dịch từ tiếng Hà Lan có nghĩa là núi đá lởm chởm.

Đó không phải là vùng đất gợi cho người ta niềm hi vọng.

Đặc biệt là với bầu trời âm u từ phía Bắc tràn về.

Cuối cùng thì Painter cũng cất lời, giọng chắc nịch: “Chúng ta không thể làm gì hơn được nữa. Kat đang tiếp tục theo dõi báo cáo từ cả lính cứu hỏa và đội tìm kiếm cứu nạn. Bằng tất cả những gì có thể, cô ấy sẽ mở rộng cuộc tìm kiếm. Cho đến lúc đó, chúng ta phải tập trung cho mục tiêu trên hòn đảo này.”

Painter đứng cạnh chiếc xe đa dụng hiệu Volvo mà ông đã lái từ khi đặt chân xuống sân bay. Monk lái một chiếc khác theo sau ông, kéo theo một rơ moóc. Creed vừa trở lại với hai chiếc xe trượt tuyết gắn máy Lynx V-800 thuê từ dịch vụ du lịch trên đảo. Chính công ty này đã mời họ mua chuyến tham quan thiên nhiên hoang dã trên quần đảo Svalbard. Thế nên logo của công ty lữ hành được sơn rực rỡ ở hai bên xe.

Trong chiếc Volvo, Nghị sĩ Gorman ngồi ở băng ghế sau. Theo kế hoạch, ông và Painter sẽ đi thẳng đến Hầm dự trữ Hạt giống Svalbard. Monk và Creed sẽ dùng hai chiếc xe trượt tuyết đi đường vòng và tiếp cận nơi đó ở khoảng cách gần nhất có thể mà không gây nghi ngờ. Đó là lý do chủ yếu mà họ thuê xe.

Theo như người tổ chức tour, công ty của anh ta thường tổ chức những chuyến đi xuyên đêm đến các ngọn núi để khám phá thiên nhiên hoang dã nơi đó. Nhưng từ khi Hầm này được xây dựng, nó đã trở thành điểm tham quan thường xuyên của khách du lịch. Thế nên sự có mặt của họ sẽ không gây bất kì sự quan tâm đặc biệt nào từ bộ phận an ninh. Monk và Creed phải sẵn sàng để yểm trợ bằng hỏa lực hoặc hỗ trợ rút quân nhanh chóng khi cần.

Theo như Painter phân công, họ án ngữ ở lối thoát hiểm.

Tiêng động cơ gầm lên phía sau xe kéo.

“Lên đường,” Painter ra lệnh, siết chặt cánh tay giả của Monk. “Bảo trọng nhé.”

“Anh cũng thế.”

Rồi hai người đàn ông đi theo hai hướng ngược nhau. Painter lên chiếc Volvo; còn Monk thì điều khiển chiếc xe trượt tuyết, trên chiếc còn lại là Creed với trang phục chẳng khác gì Monk.

Monk băng qua cỗ xe và đặt một chân lên xe.

Khi xe Painter lướt đi trên sân đỗ, Monk kiểm tra lại khẩu súng trường anh để phía sau xe. Creed cũng có một khẩu như vậy. Cả hai không lo việc giấu súng vì ở Spitsbergen, đó là vật cần thiết để tự bảo vệ trước gấu trắng, sinh vật có dân số lớn nhất đảo. Thậm chí trên tờ quảng cáo của đại lí cho thuê xe còn ghi rằng, luôn mang vũ khí khi du ngoạn ở những nơi không có dân cư.

Và Monk không hề có ý định vi phạm luật lệ của Nauy.

“Sẵn sàng chưa?” anh hét to, đưa một cánh tay về phía Creed.

Creed rồ ga đáp lại.

Cài nón bảo hiểm, Monk bật công tắc máy. Chiếc xe trượt tuyết gầm lên như một con mãnh thú. Monk tăng tốc, anh chạy xe ra khỏi sân đỗ, nhắm thẳng hướng thung lũng quanh năm tuyết phủ. Bánh xích của chiếc xe “ngoạm” vào tuyết, để lại những vệt dài trên đường. Đôi ván trượt lướt đi êm ái khi bắt đầu xuống thung lũng. Anh giảm tốc độ, chạy thật chậm theo rìa thung lũng.

Creed vẫn theo phía sau.

Phía trước thấp thoáng những ngọn núi thuộc dãy Plataberget, nơi đặt Hầm Tận thế. Đỉnh núi xuyên thẳng vào bầu trời u ám. Vùng trời bao la phủ đầy mây đen.

Đúng là một nơi đầy điềm gở.

Nhất là khi Monk nhớ lại phần cảnh báo in trên tờ rơi của công ty du lịch. Một vùng đất vô cùng khắc nghiệt, vỏn vẹn trong ba từ.

Bắn để giết.

★ ★ ★

11h48 sáng

Painter đậu xe ở nơi đã được định sẵn. Họ phải vượt qua hai chướng ngại vật được lính Nauy dựng lên trên con đường duy nhất dẫn lên núi. Những chiếc xe tải khác và một chiếc xe bus lớn đã đậu choáng hết bãi đậu nhỏ hẹp. Dường như đây là đoàn xe của đại biểu tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới.

Khi Painter leo ra khỏi chiếc Volvo ấm áp và đặt chân xuống mặt băng lạnh giá, ông nhìn thấy một chiếc xe dùng đi trong tuyết, cỡ một chiếc xe bus nhỏ. Chiếc xe đó đậu bên đường, dàn bánh xích khiến nó trông như một chiếc xe tăng. Đó là Hagglungs, phương tiện di chuyển chính để khám phá Bắc Cực, được sơn quốc kì Nauy cùng với quân hiệu. Hai người lính đang đứng cạnh đó hút thuốc. Ngoài ra còn có một chiếc xe đi tuyết cũng được sơn phết tương tự, nhưng nhỏ hơn, đủ cho hai người, tuần tra quanh vành đai an ninh. Thế nhưng, xem cách nó di chuyển thì có vẻ như dạo chơi hơn là đi tuần.

Thượng nghị sĩ Gorman, ủ mình trong chiếc áo paca, đi cùng Painter. Hai người tiến thẳng đến lối vào Hầm hạt giống. Phần duy nhất được đặt trên mặt đất là một khối bê tông nhô ra khỏi tuyết trông giống như phần mũi của một con tàu chìm trong băng. Và cũng có thể là đúng như vậy. Bên dưới nó là Hầm Svalbard, con tàu Noah của các giống cây.

Cổng vào cao 9 mét với bề mặt bê tông, đỉnh được trang trí một chiếc đĩa giống cửa sổ bằng gương và lăng kính được thắp sáng bằng thứ ánh sáng xanh lam của các sợi quang học, rực sáng cả một góc trời u ám. Những đám mây bão vừa trôi qua đỉnh núi. Bầu trời như bị kéo thấp xuống. Một cơn gió mạnh thổi tung các tinh thể tuyết khiến người ta cảm thấy buốt đau vì lạnh.

Co rúm người vì lạnh và gió, họ vội tiến về phía lối vào.

Băng qua một cây cầu nhỏ, họ gặp những cánh cửa chống bom đóng kín. Một cặp nhân viên an ninh khác có vũ trang kiểm tra thẻ thông hành của ngài Thượng nghị sĩ và đăng nhập vào hệ thống nhận diện.

“Ông đến trễ quá,” một trong số những lính gác nói bằng thứ tiếng Anh ngập ngừng.

“Chuyến bay của chúng tôi có chút rắc rối,” Gorman trả lời. Rất tự nhiên, ông cười thật tươi với những người lính trẻ dù vẫn đang run lẩy bẩy vì lạnh. “Thậm chí là ngay cả khi đến nơi, hãng hàng không còn làm thất lạc hành lý nữa. Còn về khí hậu thì…br…br… tôi không biết làm thế nào mà các anh có thể chịu đựng được cái lạnh nơi đây. Cơ thể các anh được tạo nên bởi loại vật chất vững chắc hơn tôi đấy.”

Người lính nhe răng cười đáp lại Gorman, anh chàng còn lại cũng thế dù có thể là anh ta không nói được tiếng Anh. Ngài Thượng nghị sĩ thật đúng là có khả năng giao thiệp. Painter giao việc này cho ông là hoàn toàn đúng đắn vì ông quả là người biết cách tạo dựng uy tín và tầm ảnh hưởng. Ông có thể xoay chuyển tình thế trong tích tắc, nên việc ông ta thành công ở Washington không có gì là lạ.

Cánh cửa mở ra để họ vào. Painter biết rằng có ba ổ khóa lớn bảo vệ cho Hầm. Như là một biện pháp phòng ngừa những cuộc tấn công có chủ đích, không một cá nhân nào trên hành tinh này được giữ cả ba chìa khóa.

Khi họ bước qua khỏi cánh cửa, không có gió nhưng không khí chẳng ấm hơn là bao. Nhiệt độ vẫn ở mức âm 17 độ C khiến người ta có cảm giác như đang bước vào ngăn đá tủ lạnh.

Đi xuống một đoạn dốc ngắn họ bắt gặp một đường hầm với mái vòm đủ rộng để chứa một đường tàu điện ngầm. Nền nhà được lát bằng những tấm xi măng, còn trên trần là những dãy đèn huỳnh quang cùng một mạng lưới các ống dẫn và dây cáp. Bức tường làm bằng bê tông cốt thép và sợi thủy tinh sần sùi thô ráp khiến họ có cảm giác như đang đi dưới một hang động nào đó.

Painter đã nghiên cứu sơ đồ hệ thống này. Nó cũng chẳng có gì phức tạp nếu không muốn nói là đơn giản. Đi dọc theo đường hầm xuống khoảng 152 mét so với mặt đất thì sẽ đến ba hầm bảo quản hạt gioosgn. Mỗi hầm được niêm phong bằng một khóa chân không. Ngoài ba hầm này, bên dưới chỉ còn có một dãy văn phòng.

Âm thanh từ đâu vọng lại. Ánh đèn sáng dần lên phía xa.

Khi họ đi xuống đường hầm, ngài Gorman khẽ nói và vẫy tay về phía bờ tường. “Ivar là một trong những nhà tài trợ chính cho hầm này. Hắn cực kì tin tưởng vào việc bảo tồn sự đa dạng sinh học của thế giới và còn cho rằng những ngân hàng hạt giống như thế này vẫn chưa đạt yêu cầu.

“Tôi biết điều đó. Một người thích thao túng.”

“Nhưng trong trường hợp này thì hắn có thể đúng đó. Có hơn một nghìn hầm sự trữ hạt giống rải rác trên khắp thế giới, nhưng phần lớn đang bị đe dọa. Ngân hàng hạt giống quốc gia ở Iraq đã bị phá hủy hoàn toàn. Ở Afghanistan cũng tương tự. Phiến quân Taliban đã đột nhập vào hầm, tuy nhiên những thùng chất dẻo mới là mục tiêu của chúng chứ không phải hạt giống. Còn những ngân hàng khác thì an ninh cực kì lỏng lẻo. Yếu kém về quản lý, chịu tác động của nền kinh tế, xuống cấp về trang thiết bị, những điều đó đang đe dọa đến sự tồn tại của những nơi này. Nhưng hơn hết đó là do thiếu tầm nhìn.”

“Và thế là Karlsen nhảy vào cuộc?”

“Hầm Svalbard là ý tưởng của Cơ quan Hợp tác về đa dạng giống cây trồng toàn cầu.” Nhưng khi Ivar biết được dự án này, hắn đã quyết định tài trợ toàn bộ cả về tài chính lẫn việc tuyên truyền.” Ngài Thượng nghị sĩ gãi trán bằng những ngón tay được giữ ấm sau đôi găng. “Tôi vẫn không thể nào hiểu được những điều xấu xa mà hắn đang thực hiện. Thật vô lý.”

Họ tiếp tịc bước đi trong im lặng. Painter cảm nhận được sự nghi ngại trong giọng nói của Gorman. Sau cú sốc bị phản bội, sự hoài nghi bắt đầu âm ỉ trở lại. Đó đúng là bản chất của con người. Không ai muốn tin vào những gì tồi tệ nhất mà người bạn thân nhất đã làm với họ, hay nói cách khác, không muốn nhìn thẳng vào sự cả tin và mù quáng của mình.

Phía trước là một nhóm người đang tụ tập nơi cuối đường hầm, đông vui như tiệc. Dọc theo bức tường là những bức tượng được tạc từ băng tỏa sáng rực rỡ: đó là một con gấu trắng, một con hải cẩu, một quả núi và thậm chí là biểu tượng của Viatus. Phía tường còn lại là một quầy thức ăn nguội tự chọn cùng một quầy cà phê nóng.

Gorman với lấy chiếc ly cao dùng uống rượu champagne từ một người phục vụ đi ngang qua. Cô ta mang một đôi ủng da hải cẩu cùng một cái áo ấm dày và nặng. Ở đây, mặc áo paca có nón trùm đầu thì cũng tương tự như mặc một bộ vest có cài nơ. Có hơn hai mươi vị khách nơi đường hầm, nhưng so với số phục vụ và lượng thức ăn chưa dùng thì số lượng tham dự có vẻ như ít hơn mong đợi.

Painter biết rằng cuộc tấn công vào khách sạn Grand, vốn được đổ lỗi cho bọn khủng bố, đã làm nhiều người sợ hãi nên họ không đến dự buổi tiệc lần này.

Tuy vậy, với một bữa tiệc được tổ chức ở cái nơi khỉ ho cò gáy, chỉ vài bước là đến Bắc Cực thế này thì lượng người dự tiệc như vậy đã được xem là một thành công rồi. Từ phía micro, một bóng người quen thuộc đang phát biểu. Reynard Boutha, đồng chủ tịch của Câu lạc bộ Rome, đang trình bày tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học.

“Chúng ta đang ở giữa một thảm họa Chernobyl trong di truyền. Một trăm năm trước, số giống táo trồng ở Hoa Kỳ là hơn bảy nghìn. Ngày nay, con số này chỉ còn khoảng ba trăm. Tổng số hạt đậu là gần bảy trăm loại. Ngày nay, con số này chỉ còn ba mươi. Bảy mươi lăm phần trăm của chủng loại sinh học đã biến mất chỉ trong vòng một thế kỷ. Và mỗi ngày, một loài vật khác lại tuyệt chủng. Chúng ta phải hành động ngày bây giờ, thực hiện ngay nhũng điều mà chúng ta có thể làm để bảo tồn những gì còn sót lại, nếu không chúng ta sẽ mất tất cả, mãi mãi. Đó là lý do cho thấy tầm quan trọng của Hầm Lưu trữ Hạt giống Toàn cầu Svalbard, và cũng là lí do tại sao chúng tap phải tiếp tục gây quỹ và tuyên truyền…”

Trong khi Boutha tiếp tục phát biểu, Painter đã tìm thấy Karlsen trong đám đông. Hai bên ông ta là hai người phụ nữ. Một người dáng cao, mảnh dẻ với mái tóc dài, vàng óng ả, nhưng chiếc áo paca đã che gần hết mặt cô ta. Người phụ nữ còn lại thì lớn tuổi hơn và đang nói chuyện say sưa với Karlsen trong lúc Boutha phát biểu.

“Người đó là ai?” Painter hỏi Gorman về người phụ nữ đang trò chuyện với Karlsen.

“Cô ấy là cựu chủ tịch của Ủy ban Dân số Rockkefeller và cũng là một người thân cận với Ivar. Họ quen biết nhau nhiều năm rồi.”

Painter cũng biết về Ủy ban này. Họ là một nhóm lớn ủng hộ việc quản lý dân số thông qua kế hoạch hóa gia đình và điều tiết sinh sản. Và nếu bạn tin những lời đồn đại ngông cuồng và thuật hùng biện, thì một số phương pháp của họ gần như là từ thuyết ưu sinh mà ra.

Vậy nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi cô ta là chiến hữu của Karlsen.

Gorman chỉ ra vài nhân vật vốn là thành viên của nhóm Karlsen hiện đang có mặt trong đám đông. “Gã to lớn với cái bụng bia đó đại diện cho một công ty hóa chất và dược phẩm lớn của Đức. Viatus đã và đang nghiên cứu cách thức kết hợp một loại thuốc diệt côn trùng của mình vào thế hệ cây trồng biến đổi gen mới. Nếu hắn thành công, người ta sẽ tiết kiệm được một lượng thuốc diệt côn trùng khổng lồ phải dùng trên các cánh đồng. Khi đó, chi phí sản xuất nông sản sẽ giảm, và sản lượng tăng.”

Painter gật đầu khi Gorman chỉ cho ông thấy nhiều người khác nữa. Dường như chiến hữu của Karlsen chỉ có hai dạng: những người chú tâm vào cuộc khủng hoảng thừa dân số và những người tìm cách tăng nguồn cung cấp thực phẩm. Ngài Gorman đã đúng. Có lẽ gã Karlsen này thực tâm lo lắng cho phúc lợi của thế giới.

Vậy thì làm thế nào mà ta có thể nghĩ rằng chính Karlsen là kẻ đã ra lệnh giết hại cả một ngôi làng và tiếp tục tung ra thị trường những sản phẩm biến đổi gen mang trong mình khả năng gây ô nhiễm môi trường và làm hại đến bầu sinh quyển?

Đánh giá ban đầu của ngài Nghị sĩ đã đúng.

Thật không hợp lý khi nghi ngờ Karlsen.

Painter lại chú ý quan sát Karlsen. Trước khi đối mặt với hắn, ông muốn biết tất cả những người chủ chốt quanh hắn. “Người phụ nữ còn lại thì sao?” ông hỏi. “Cô nàng tóc vàng gần như bám chặt lấy ông ta.”

Gorman liếc nhìn. “Tôi không biết. Trông quen quen, nhưng không có trong nhóm trợ giúp Ivar. Có lẽ chỉ là một người bạn.”

Đã thỏa mãn với các câu trả lời, Painter thúc vào người Gorman và dẫn ông len lỏi qua đám đông. Giữa chốn đông người thế này, thật khó đoán Karlsen sẽ trực tiếp bày trò gì để đe dọa họ. Hắn còn chạy đâu được nữa?

Lách khỏi đám đông đang tiệc tùng, Painter đã gặp ngay Karlsen trước mặt. Hắn đang đứng một mình trong giây lát sau khi vừa trò chuyện với chủ tịch Ủy ban Dân số. Thậm chí người phụ nữ nắm tay hắn cũng đã thả bộ đến phía quầy thức ăn.

Karlsen không thể nhận ra Painter. Thay vào đó, hắn nhìn chằm chặp về phía Gorman. Mặt hắn lập tức sáng bừng lên và hắn bất chợt đưa tay về phía ông.

Theo phản xạ, Gorman bắt tay hắn.

“Trời ơi, Sebastian,” Karlsen nói. “Anh đến đây khi nào?” Làm thế nào mà anh đến được đây? Tôi đã thử gọi đến khách sạn của anh khi anh không đến sân bay. Sau vụ tấn công tối qua, tôi không thể liên lạc với anh được nữa. Tôi đã nghĩ rằng chắc anh bay về nhà rồi.”

“Không. Bộ phận an ninh đã đưa tôi đến một khách sạn khác,” Gorman giải thích một cách trơn tru. “Tôi không thể đến sân bay đúng giờ, và tôi không muốn mọi người phải chờ đợi. Vậy nên tôi đã tự đặt vé máy bay.”

“Anh không phải làm như thế đâu. Tôi sẽ xin Viatus hoàn lại chi phí cho anh.”

Painter theo dõi phản ứng của cả hai. Dù ngài Nghị sĩ đã diễn rất tốt, nhưng ông đã đi quá đà, và không thể kiểm soát được tình hình.

Mặt khác, Karlsen trông thật sự vui khi gặp ngài Thượng nghị sĩ. Cử chỉ của hắn rất chân thành. Painter không thể tìm ra bất kì điều gì nơi hắn cho thấy rằng chính hắn là người đã ra lệnh ám sát ngài Thượng nghị sĩ tối hôm qua. Gã Karlsen này, hoặc thật sự không liên quan đến việc đó, hoặc là một khách hàng máu lạnh của bọn sát thủ.

Gorman liếc về phía Painter. Ông ta tỏ vẻ nghi ngại. Một thoáng lắp bắp, rồi ông ta đưa tay lên vẫy ông. “Tôi nghĩ anh đã gặp viên thanh tra từ Tổng cục thanh tra Trung ương.”

Ánh nhìn nặng nề của Karlsen chuyển sang Painter, và hắn lại chằm chằm nhìn anh. Thoáng bối rối, nhưng cuối cùng rồi hắn cũng nhận ra anh. “Dĩ nhiên rồi, thứ lỗi cho tôi. Chúng ta có nói chuyện sơ sơ vào hôm qua. Anh thứ lỗi cho tôi nhé. Hai mươi tư giờ qua quả là những thời khắc điên loạn.”

Hãy cho tôi biết về những thời khắc ấy, Painter nghĩ trong đầu.

Khi bắt tay Karlsen, anh tiếp tục quan sát nét mặt của hắn để tìm những điều bất thường. Nếu hắn biết Painter không chỉ là một đặc vụ điều tra của Bộ Quốc phòng, hắn sẽ không tỏ vẻ như vậy.

“Ngài Thượng nghị sĩ thật tốt bụng khi cho tôi đi cùng,” Painter nói. “Tôi hi vọng là chúng ta vẫn có thể thực hiện cuộc phỏng vấn. Tôi chỉ có vài câu hỏi thôi, để hoàn thành đoạn kết. Tôi hứa sẽ không tốn nhiều thời gian của ông. Có nơi nào riêng tư để trò chuyện không nhỉ?”

Karlsen có vẻ không vui, nhìn lướt qua phía Gorman. Có thể là chỉ trong thoáng chốc thôi nhưng Painter đã nhận thấy lóe lên điều gì chứng tỏ Karlsen đã phạm tội. Con của ngài Nghị sĩ đã thiệt mạng trong cuộc thảm sát tại châu Phi. Làm sao mà hắn ta có thể nói không trước mặt người cha đang đau khổ tột cùng như thế được?

Karlsen nhìn đồng hồ, rồi gật đầu, chỉ cho Painter một lối đi nhỏ phía bên phải. “Trong đó có một số văn phòng. Một nửa phần phía trước dùng để phục vụ rồi, nhưng vẫn còn một phòng họp nhỏ còn trống.”

“Thế thì tốt rồi.”

Họ cùng nhau đến đó.

Từ bên này đám đông, Painter nhận thấy người phụ nữ tóc vàng đang chăm chăm nhìn họ. Mặc dù cô ta không biểu lộ chút cảm xúc nào, nhưng trông cô ta lạnh hơn cả nhiệt độ băng giá trong căn hầm này. Bị bắt gặp, cô ta nhìn sang hướng khác.

Khi rời khỏi bữa tiệc, trông cô ta chẳng vui chút nào.

★ ★ ★

Krista đã thấy ba người đi vào phòng quản lý của hầm. Điều này không hay.

Vài giây trước, cô gần như bóp nát quả ô liu trong ly vodka, choáng váng vì sự xuất hiện của nhân vật bí mật từ Sigma, với mái tóc đen quen thuộc, đi cùng Thượng nghị sĩ Gorman. Còn giờ thì cô vừa rời khỏi đó kịp lúc.

Krista liếc về phía cánh cửa văn phòng đang đóng. Làm thế nào họ đến được đây? Krista tưởng rằng cô đã bỏ họ lại ở Oslo rồi.

Bất chợt, Krista có cảm giác như mọi ánh nhìn đều dồn về mình, liền chỉnh lại chiếc nón trùm đầu trên áo paca, để cho phần lông chồn viền áo che khuất gương mặt. Cô mừng thầm vì đã tự đề phòng thêm bằng cách đeo một bộ tóc giả màu vàng để đến dự buổi tiệc này. Cô không muốn gặp bất kì rắc rối nào giống như Antonio Gravel.

Krista trở xuống đường hầm. Đoạn đường hầm kết thúc ở ngã tư dẫn vào ba hầm dự trữ, mỗi hầm đều được bảo vệ bằng khóa chân không. Khi mọi người vẫn đang lắng nghe bài phát biểu, cô đã tìm ra một nơi riêng tư trong chốc lát và có cơ hội tách ra khỏi đám đông.

Đứng tựa vào một trong những cánh cửa hầm hạt giống, cô giữ chặt lấy chiếc điện thoại trong túi. Cô chưa nghe cấp trên của mình chỉ thị gì. Ông ta muốn cô làm gì đây? Ông ta đã nói rằng ông ta sẽ lo vụ nhân vật Sigma này, nhưng giờ thì người đó đang đi cùng ngài Thượng nghị sĩ. Cô có nên tự mình hành động hay không? Hay đợi lệnh? Với cấp bậc của mình trong tổ chức, cô được suy nghĩ và tùy cơ ứng biến khi cần.

Krista hít thật sâu và thảo ra trong đầu một kế hoạch. Nếu phải hành động, cô sẽ làm. Nhưng bây giờ, cô chỉ nghĩ xem mọi chuyện nên được giải quyết bằng cách nào. Dù vậy, điều đó không có nghĩa là Krista được phép mất cảnh giác.

Cô móc điện thoại ra. Ở một nơi xa thế này trong lòng đất, cô không hi vọng bắt được sóng điện thoại. Nhưng sau khi đến đây, cô dã tách khỏi Ivar, và tìm được một đường dây điện thoại nối với bên ngoài trong phòng vi tính của hầm. Krista nối thêm một bộ khuếch đại vào đường dây để cô có thể sử dụng điện thoại ở đây.

Cô gọi điện một chiều. Ở Longyearbyen, cô có một nhóm hỗ trợ trong tình trạng sẵn sàng. Đã đến lúc gọi cho những gã này. Khi đầu dây bên kia nhấc máy, với giọng điệu cộc lốc, cô ra lệnh cho họ phong tỏa mọi đường xuống núi. Cô không muốn có bất trắc gì xảy ra.

Khi đã xong, Krista ngắt kết nối và cảm thấy an tâm hơn. Cảm giác chờ đợi xâm chiếm lấy cô. Cô thấy dễ chịu hơn khi hành động, thậm chí ngay cả khi đó chỉ là một việc nhỏ như vậy. Cô sửa lại mái tóc vàng cho ngay ngắn. Krista muốn đi vào nhà vệ sinh và xem lại lớp son phấn trên mặt.

Nhưng trước khi cô quay bước thì chiếc điện thoại trong tay cô rung lên. Toàn thân cô lạnh ngắt và rung lên cùng với chiếc điện thoại. Cô bắt máy.

“Vâng? Tôi nghe,” Krista trả lời.

Một giọng nói quen thuộc vang lên và cuối cùng kết thúc cuộc gọi với những mệnh lệnh cho Krista. Chúng thật đơn giản và súc tích.

“Nếu cô muốn sống, hãy rời khỏi đây ngay lập tức.”

CHÌA KHÓA NGÀY TẬN THẾ James Rollins Bộ Sách: A Sigma Force Đánh Máy: Quách Thủy Tiên TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.