Chìa Khóa Ngày Tận Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mùa Xuân, Năm 1086
Nước Anh

❊ ❊ ❊

Những con quạ là điềm báo đầu tiên.

Khi chiếc xe ngựa từ từ lăn bánh xuống giữa những cánh đồng lúa mạch thì một lũ quạ chợt bay đến đen kịt. Chúng lao mình vào vùng trời xanh thẳm, vút cao tán loạn, còn hơn cả một chuyến bay gây náo loạn thường lệ. Chúng lượn vòng, sà thấp, rồi vỗ cánh bổ nhào. Phía trên cao, chúng đâm bổ vào nhau rồi đồng loạt rơi xuống. Những cơ thể nhỏ va vào mặt đường làm cánh và mỏ đều gãy hết. Chúng co rúm bên những vết bánh xe còn sót lại, cánh vỗ yếu ớt.

Những đáng sợ hơn cả là một không gian im lặng đến rợn người.

Không một tiếng quạ kêu.

Chỉ có tiếng đập cánh điên cuồng - rồi tiếng nện nhẹ của mấy cái xác chim trên nền đất cứng và đá vỡ.

Người phu xe ngả người ra sau kéo dây cương giảm tốc độ. Anh ta hướng cặp mắt nặng trĩu quan sát bầu trời. Chú ngựa hất đầu tỏ vẻ cáu tiết trước cái lạnh của sương sớm.

”Đi tiếp thôi nào,” vị khách trên xe cất tiếng.

Martin Borr là thành viên trẻ nhất trong phái đoàn điều tra của hoàng gia được lệnh đến đây theo một chỉ vụ tối mật của hoàng đế William.

Khoác vội chiếc áo choàng nặng trịch, Martin nghĩ đến tờ chỉ vụ được bảo vệ bằng một lớp sáp ong và có đóng dấu hoàng gia. Mang trên vai gánh nặng chiến phí, vua William đã cử rất nhiều cố vấn đến các vùng quê để ghi nhận và tính toán toàn bộ đất đai và tài sản thuộc sở hữu của vương quốc. Những con số này được ghi chép trong một quyển sách đồ sộ, gọi là Sổ Điền thổ. Một học giả sẽ chịu trách nhiệm tập hợp và ghi lại bằng chữ Latinh. Tất cả là nhằm làm căn cứ tính thuế bất động sản để nộp cho đức vua.

Ít ra thì đó là lý do mà người ta công bố.

Tuy nhiên, có một vài nghi ngờ rằng hẳn có một lí do nào khác nên nhà vua mới tiến hành cuộc khảo sát đất đai quy mô đến thế. Họ còn so sánh quyển số này với phần miêu tả Ngày Tận thế trong cuốn Kinh Thánh. Theo đó, Chúa đã định đoạt số phận của loài người và cất giữ trong Sổ Trường sinh. Những lời xì xầm, bàn tán bắt đầu gọi kết quả của cuộc đại khảo sát này là Sách Ngày Tận thế.

Giả thiết này nghe có vẻ hợp lí hơn là những nghi vấn trước đó.

Martin đã đọc bức thư niêm phong bằng sáp ong. Anh đã quan sát người thợ cẩn thận ghi chép những kết quả điều tra của các cố vấn hoàng gia vào một quyển sổ lớn, rồi cuối cùng, lại chứng kiến cảnh vị học giả viết nguệch ngoạc một từ Latinh bằng mực đỏ:

Vastare

Nghĩa là bỏ hoang.

Rất nhiều vùng đất đã được đánh dấu bằng từ này, ý chỉ các nơi này đã bị bỏ hoang do chiến tranh và nạn cướp bóc. Nhưng lại có hai mục được viết hoàn toàn bằng màu mực đỏ thẫm. Một là hòn đảo hoang vu nằm giữa bờ biển Ireland và Anh. Giờ thì Martin đang tiếp cận vùng đất còn lại để điều tra theo mệnh lệnh của đức vua. Anh bị buộc phải thề giữ bí mật và được dẫn theo ba người phụ tá. Họ cưỡi ngựa theo sau chiếc xe.

Ngồi bên cạnh Martin, người phu xe gắng sức giật dây cương và thúc ngựa phi nhanh hơn. Những chiếc bánh xe lao về trước, cán lên những xác quạ rúm ró, xương bẹp dí, tung tóe máu.

Cuối cùng, chiếc xe cũng đã lên đến đỉnh dốc, trước mắt là một vùng thung lũng mênh mông, trù phú. Một ngôi làng nhỏ nằm nép mình bên dưới, xa xa là một trang viên bằng đá và một nhà thờ có tháp chuông ở phía bên kia. Khuôn viên ngôi làng gồm khoảng hai mươi mái nhà lợp tranh, rải rác khắp nơi là những bãi rào nhốt cừu bằng gỗ cùng với mấy chuồng chim câu bé tí.

“Đây là một nơi đáng ghê tởm, thưa ngài,” người phu xe nói. “Ngài hãy nhìn kìa, chẳng có vẻ gì nơi đây đang bị dịch đậu mùa tàn phá.”

“Đó là lí do mà chúng ta được phái đến đây để điều tra.”

Sau lưng họ vài cây số, con đường dốc này đã bị quân đội hoàng gia phong tỏa. Không ai được phép bén mảng đến gần. Nhưng như vậy vẫn không dập tắt được tin đồn về những cái chết lạ lùng lan sang các làng và trang trại lân cận.

“Khốn nạn thật,” người phu xe lại lầm bầm khi điều khiển chiếc xe theo lối dẫn về phía làng. “Tôi nghe nói vùng đất này ngày xưa thuộc về bọn ngoại đạo Celt. Chúng hoàn toàn không tin vào Cơ đốc giáo. Những vết tích bằng đá của chúng vẫn còn được tìm thấy trong những khu rừng trên cao nguyên xa tít kia.”

Anh ta giơ cánh tay gầy guộc chỉ về phía khu rừng bao quanh vùng đồi cao chót vót tận chân trời. Sương mù giăng dày đặc đến nỗi màu xanh mướt của khu rừng đã chuyển sang một màu âm u xám xịt.

“Nói thật với ngài, bọn người ngoại đạo đó đã trù ếm nơi này, gieo rắc sự chết chóc cho những ai dám vào đó.”

Martin Borr không màng đến những lời mê tín như vậy. Ở tuổi ba mươi hai, anh đã có dịp thọ giáo nhiều học giả bậc thầy từ Rome sang Anh. Và giờ thì anh đã đến đây cùng với những chuyên gia đó để khám phá sự thật.

Sau khi đảo mắt vòng quanh, Martin vẫy tay gọi những người khác cùng thẳng tiến về phía ngôi làng. Bộ ba phi nước kiệu khởi hành. Mỗi người ý thức được nhiệm vụ của mình. Martin chậm rãi theo sau, quan sát và đánh giá tất cả những gì anh đi ngang qua. Nằm tách biệt trong vùng thung lũng cao nhỏ hẹp, ngôi làng mang tên Highglen này rất nổi tiếng với loại gốm làm từ bùn và đất sét lấy từ con suối nước nóng góp phần tạo nên lớp sương mù bao phủ khu rừng trên cao kia. Người ta đồn rằng bí quyết nung của làng cũng như kết cấu đất sét làm gốm được bảo mật rất kĩ, chỉ những người trong nghề ở đây mới biết thôi.

Và giờ đây bí quyết đó đã bị thất truyền mãi mãi.

Chiếc xe ngựa tiếp tục lăn bánh, băng qua nhiều cánh đồng trồng lúa mạch đen, yến mạch, đậu và những luống rau cải. Có những cánh đồng chỉ vừa mới gặt, còn một số cánh đồng khác đã bị đốt sạch.

Phải chăng dân làng đã bắt đầu nghi ngờ về sự thật?

Khi xe tiếp tục chạy xuống thung lũng, những trại cừu lần lượt hiện ra, bao xung quanh là những bờ rào cao như muốn che giấu nỗi kinh hoàng bên trong. Những ụ len và những cơ thể béo núc của hàng trăm con cừu rải rác khắp thảo nguyên rậm rạp. Càng gần đến làng, xuất hiện những con heo và dê nằm ngổn ngang, mắt trũng sâu và chết ngay nơi chúng bị bỏ lại. Phía xa trên cánh đồng, có một con bò đồ sộ quỵ ngã trong tư thế bị buộc vào cái cày.

Khi xe đến bãi cỏ trước làng, bên trong hoàn toàn im ắng. Không một tiếng chó sủa chào mừng, không có tiếng gà trống gáy, càng không mảy may có tiếng lừa kêu. Chuông nhà thờ không ngân, cũng như không có ai gọi với những người lạ đang tiến vào làng.

Một không gian tĩnh mịch nặng nề bao trùm.

Khi phái đoàn đến nơi thì hầu hết những thi thể vẫn còn nằm trong nhà. Ắt hẳn họ đã không còn chút sức lực nào để chạy ra ngoài. Duy có một cái xác nằm úp mặt xuống bãi cỏ, không xa những bậc đá của trang viên là bao. Dáng anh ta nằm tựa như bị ngã, có lẽ vấp bậc thang té gãy cổ. Dù ngồi trên xe ngựa, Martin vẫn quan sát được lớp da bọc xương, đôi mắt trũng sâu bên trong hộp sọ, và các chi gầy guộc.

Một sự tàn phá tương tự như những con vật nhìn thấy trên đồng. Như thể toàn bộ ngôi làng đã bị bao vây và bỏ đói ghê gớm.

Có tiếng vó ngựa lộc cộc vọng đến gần. Reginald dừng bên cạnh chiếc xe. “Kho thóc vẫn đầy ắp,” anh ta báo cáo, vừa lấy tay phủi bụi trên quần. Người đàn ông cao to, có sẹo này đã từng giám sát chiến dịch của vua William ở miền Bắc Pháp. “Còn tìm thấy rất nhiều chuột trong khạp nữa.”

Martin liếc sang anh ta.

“Khắp nơi nhuốm màu chết chóc. Hệt như hòn đảo đáng ghê tởm đó.”

“Nhưng giờ sự tàn phá đã xâm lấn vùng đất của chúng ta,” Martin lầm bầm. “Đã vào lãnh thổ của chúng ta.”

Đó cũng là lý do họ được phái đến đây, lý do con đường làng bị phong tỏa, và căn nguyên của những lời thề buộc giữ bí mật của họ.

“Girard đã tìm được cho ngài một thi thể khá hơn,” Reginald nói. “Có vẻ chết chưa được bao lâu. Một cậu bé. Anh ta đã đặt nó trong lò rèn đằng kia.” Cánh tay nặng trịch của anh chỉ về phía kho thóc bằng gỗ có ống khói cao.

Martin gật đầu và leo ra khỏi xe. Anh cần phải biết rõ nguyên nhân. Là thành viên phái đoàn hoàng gia, anh có trách tìm ra sự thật của cái chết. Mặc dù lúc này, anh ta muốn dành công việc đẫm máu cho tên đồ tể Pháp.

Martin băng tới cánh cửa để mở cửa lò rèn. Girard đứng ở bên trong, co người trước lò rèn giá lạnh. Người đàn ông Pháp này đã từng phục vụ cho quân đội của vua William, ở đó anh ta làm nhiệm vụ cưa bỏ các chi và cố gắng hết sức để cứu sống quân lính.

Girgard đã dọn dẹp một cái bàn đặt giữa lò rèn và trói thi thể cậu bé vào đó. Martin chăm chú nhìn cơ thể xanh xao, gầy gò. Con trai của anh cũng trạc tuổi này, nhưng cái chết đã định tuổi cho chú bé đáng thương tại nơi đây, làm cho nó già hơn so với độ tuổi tám hay chín gì đó.

Khi Girgard chuẩn bị dao, Martin đến gần hơn để kiểm tra cậu bé. Anh véo vào da và nhận ra không hề có lớp mỡ bên dưới. Anh ta tiếp tục quan sát thấy đôi môi nứt nẻ, từng mảng tóc bong ra, mắt cá và bàn chân thì sưng phồng; rồi dùng các ngón tay sờ khắp vùng xương lồi, như thể đang cố đọc một cái bản đồ gồm có: sườn, hàm, hốc mắt , xương chậu.

Đã có chuyện gì xảy ra?

Martin thầm hiểu có ẩn tình sâu bên trong.

Girgard bước đến bàn với một thanh kiếm bạc dài trong tay. “Thưa ngài, chúng ta bắt đầu được chưa?”

Martin gật đầu.

Mười lăm phút sau, xác đứa bé đã được đặt trên tấm ván như một con heo bị moi ruột. Vùng da từ háng đến cổ họng bị kéo dãn ra và đóng vào chiếc bàn gỗ. Ruột sưng phồng và đỏ hồng nằm cuộn chặt nép trong khoang đầy máu. Dưói xương sườn, gan chuyển sang màu vàng nâu đã sưng phồng lên, quá to so với cơ thể nhỏ bé và đầy xương xẩu của cậu bé đáng thương.

Girgard sờ đến bụng của đứa bé. Bàn tay của anh ta như lẩn vào trong khoang sâu lạnh buốt.

Ở phía trên, Martin đang sờ vào trán, miệng không quên thì thầm cầu nguyện tha thứ cho tội lỗi này. Nhưng đã quá trễ để cậu bé có thể tha thứ. Tất cả những gì mà cơ thể cậu bé có thể làm là xác nhận sự khiếp sợ cùng cực của họ mà thôi.

Girgard kéo mạnh đoạn dạ dày về phía trước, toàn một màu trắng bệch và dai như cao su, kèm theo là lá lách tím tái sưng phồng. Chỉ vài nhát dao, tay người Pháp đã cắt đoạn ruột ra và để lên bàn. Một nhát dao khẽ khàng tiếp tục mổ dạ dày ra. Một dung dịch xanh đặc của bánh mì và ngũ cốc chưa tiêu chảy ra tấm ván, như hoa quả bị ươn.

Một mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Martin bịt mũi và miệng lại - không phải để tránh mùi hôi hám, mà để tránh sự thật khủng khiếp.

“Rõ ràng là do đói đến chết đây mà,” Girgard lên tiếng. “Nhưng cậu bé đói với cái bụng căng tròn.”

Martin lùi lại, tay chân tê cóng. Bằng chứng là ở đây. Nhưng họ sẽ phải kiểm tra vài cái xác khác để chắc chắn hơn. Tuy nhiên, những tử thi ở đây dường như cũng tương tự như các trường hợp ở đảo, địa điểm từng được đánh dấu mực đỏ với chữ bỏ hoang trong cuốn Sổ Điền thổ.

Martin chăm chú nhìn cậu bé bị mổ ruột. Đây là lí do bí mật bắt đầu cho cuộc điều tra. Để truy tìm tai họa trên lãnh thổ của họ, cũng như để dập tắt trước khi nó lan rộng ra. Các tử thi giống hệt như mấy cái xác đã tìm thấy trên hòn đảo vắng vẻ đó. Những người chết dường như đã ăn rất nhiều, nhưng họ vẫn chết đói, không hề có chất dinh dưỡng mà chỉ toàn những thứ rác rưởi.

Cần chút không khí, Martin rời khỏi bàn bước ra ngoài trời. Anh nhìn băng qua các ngọn đồi nhấp nhô, xanh mướt và phì nhiêu. Một trận gió cuộn tràn qua các cánh đồng lúa mạch, yến mạch, lúa mì và lúa mạch đen. Anh chợt tưởng tượng ra một người đàn ông đang lênh đênh trên đại dương bao la, sắp chết khát, nước tràn về xung quanh mà lại không thể uống.

Không có gì khác so với trường hợp hiện tại.

Maritn run rẩy dưói ánh nắng nhợt nhạt, muốn rời xa thung lũng này càng nhanh càng tốt. Bỗng có tiếng thét ở bên phải từ phía cuối bãi cỏ của làng vọng lại làm anh ta chú ý. Một người mặt toàn đồ đen đứng trước cánh cửa mở. Trong một lúc, Martin sợ rằng đó là Thần Chết, nhưng rồi người đó vẫy tay làm phá tan sự yên tĩnh. Đó là Cha sứ Orren, thành viên cuối cùng của đoàn, cũng là trưởng tu viện Kells ở Ailen. Ông đang đứng ngay lối vào nhà thờ của làng.

“Đến đây xem mau!” cha hét lớn.

Martin vội vã chạy tới. Đây rõ ràng là một phản xạ hơn là một hành động có ý thức. Anh không hề muốn quay lại lò rèn. Anh muốn để đứa bé lại cho gã đồ tể Pháp trông coi. Martin băng qua bãi cỏ làng, leo lên các bậc thang và tiến đến gặp cha xứ.

“Chuyện gì vậy Cha Orren?”

Người đàn ông xoay người và đi vào trong nhà thờ. “Đây là sự báng bổ,” vị cha xứ Ireland làu bàu, “mới vấy bẩn nơi này như vậy. Không nghi ngờ gì nữa, tất cả đã bị thảm sát.”

Martin vội vã theo sau cha. Cha gầy trơ xương như một bóng ma trong chiếc áo choàng tu hành quá khổ. Trong số những người trong đoàn, ông là người duy nhất đã đến hòn đảo ngoài khơi Ireland, và cũng đã thấy sự hoang tàn ở đó.

“Cha đã tìm ra điều cần tìm chưa?” Martin hỏi.

Cha xứ không đáp lời mà lùi vào trong nhà thờ hoang vắng. Martin không còn cách nào là phải vào theo. Khung cảnh bên trong thật ảm đạm, một nơi âm u với nền đất và cói phủ bên trên. Không hề có băng ghế, trần nhà thì thấp với xà đỡ nặng trịch. Chỉ có luồng sáng duy nhất lọt vào là từ hai cửa sổ nhỏ trên cao ở phía cuối nhà thờ. Từ cửa sổ, các tia nắng đầy bụi chiếu lên bàn thờ là một phiến đá. Dường như tấm vải từng được dùng để che lên phiến đá đã bị xé ra và ném xuống sàn, chắc có thể do cha xứ làm khi ông vào tìm kiếm.

Cha Orren bước đến bàn thờ và chỉ vào hòn đá thô với cánh tay run sợ. Đôi vai ông run lên giận dữ. “Thật là báng bổ,” ông lặp lại. “Mới dám khắc những kí hiệu ngoại đạo này lên nhà của Chúa.”

Marin bước lại và tiến gần đến bàn thờ. Trên hòn đá có khắc hình pháo hoa và đường xoắn ốc, với những hình tròn và mấu gút lạ lùng, tất cả rõ ràng là ngoại đạo.

“Tại sao những người sùng đạo lại mắc phải những tội này?”

“Tôi nghĩ không phải là dân làng Highglen làm đâu,” Martin nói.

Anh sờ khắp lượt bàn thờDưới ấy đầu ngón tay, anh cảm nhận được tuổi thọ của dấu khắc qua độ mòn của nó. Rõ ràng là đá lâu năm rồi. Martin nhớ lại lời quả quyết của người phu xe rằng nơi đây đã bị nguyền rủa, vậy hòn đá này có thể được tìm thấy ẩn trong khu rừng trên cao mù sương đó.

Martin đứng thẳng dậy. Một trong những hòn đá ở đó chắc hẳn đã được chở về làng Highglen để làm bàn thờ trong nhà thờ của làng.

“Nếu không phải người trong làng làm thì làm sao anh giải thích chuyện này đây?” Cha xứ hỏi. Ông bước đến bức tường phía sau bàn thờ và vòng tay bao quanh dấu khắc lớn ở đó. Nó đã được vẽ gần đây bằng một màu đỏ thẫm, có thể là máu. Đó là một hình tròn với dấu thập cắt ngang.

Martin đã từng thấy dấu hiệu đó trên các hòn đá an táng và phế tích cổ xưa. Đây là một biểu tượng tôn giáo của đạo Celtic.

“Một dấu thập ngoại đạo,” Martin lên tiếng.

“Chúng ta đã tìm thấy hình tương tự vậy trên đảo, được đánh dấu trên tất cả các cửa.”

“Nhưng nó có nghĩa là gì?”

Cha xứ sờ lên dấu thập bằng bạc trên cổ mình. “Như nhà vua lo sợ. Những con rắn gây bệnh dịch ở Ireland đã bị Thánh Patrick đuổi khỏi đảo quốc của ta, giờ lại đến nơi này.”

Martin biết cha xứ không đề cập đến những con rắn thực, mà ám chỉ những linh mục mang theo quyền trượng cong như con rắn, chính là thủ lĩnh đạo Xentơ của người Celtic cổ. Thánh Patrick đã cải đạo hoặc đuổi bọn người này ra khỏi Ailen.

Nhưng đó đã là chuyện của sáu thế kỉ trước rồi.

Martin quay nhìn ra bên ngoài nhà thờ hướng về phía ngôi làng chết chóc. Những lời Girard nói vang vọng trong đầu anh. Cậu bé đói với một cái bụng căng tròn.

Không có ý nghĩa gì cả.

Cha xứ đứng lầm bầm sau lưng anh. “Phải đốt sạch thôi. Rồi rắc muối lên đất.”

Martin gật đầu, nhưng chợt anh cảm thấy bất an. Liệu ngọn lửa nào có thể xóa hết những gì đã được tạo dựng ở đây? Anh không biết chắc, nhưng có một điều có thể khẳng định.

Việc này vẫn chưa chấm dứt.

★ ★ ★

Ngày nay

Đêm 8 tháng 10, 11h55

Thành phố Vatican

Cha Marco Giovanni ẩn nấp trong một khu rừng tối tăm đầy đá.

Những trụ đá cẩm thạch đồ sộ chống đỡ mái vòm thánh đường Peter và chia không gian thành từng khu nhà nguyện, mái vòm và hốc tường. Các tác phẩm của những nghệ nhân bậc thầy được bố trí khắp khu thánh đường gồm: Bức Pietà, của Michelangelo, màn treo của Bernini, tượng đồng của Thánh Peter được thụ phong.

Marco biết mình không đơn độc trong khu rừng đá này. Còn có một kẻ săn mồi, đang nằm chờ, rất có thể gần phía sau nhà thờ.

Ba tiếng trước, ông ta mới được người bạn làm khảo cổ, cùng phục vụ tại nhà thờ này, và cũng là người thầy cũ ở trường Đại học Gregorian, Rome bắn tiếng hẹn gặp ở đây vào lúc nửa đêm.

Tuy nhiên, đây lại là một cái bẫy.

Tựa lưng vào cột, Marco kẹp chặt tay phải dưới cánh tay trái, để cầm máu phía bên sườn trái. Ông đã bị chém sâu vào mạng sườn. Dòng máu nóng chảy xuống các ngón tay. Tay trái ông vẫn cố giữ chặt bằng chứng quý giá. Một chiếc cặp bằng da cổ không lớn hơn một cái ví đựng tiền xu cho mấy. Ông đang nắm chặt nó.

Khi ông nhoài người nhìn xuống gian giữa của giáo đường, máu càng chảy ra nhiều hơn, rơi xuống sàn cẩm thạch. Ông không thể đợi lâu hơn nữa nếu không sẽ kiệt sức thôi. Ông khẽ cầu nguyện, bước ra khỏi cây cột và chạy biến vào gian giữa tối tăm hướng về phía bàn thờ Chúa. Mỗi bước chạm sàn là một nhát đâm mới vào vết thương. Lạ là ông không hề bị dao chém. Mũi tên sau khi sượt ngang người ông đã bay cắm sâu vào cái ghế dài bên cạnh. Thứ vũ khí này ngắn, dày và đen. Chính là một mũi tên thép. Từ chỗ ẩn nấp, Marco đã nghiên cứu nó. Một đốm đỏ nhỏ xíu rực sáng ở đuôi, như con mắt giận dữ của ai đó ánh lên trong bóng tối.

Không biết làm gì hơn, Marco chỉ biết chạy và tìm nơi ẩn nấp. Ông biết mình sẽ chết, nhưng bí mật ông đang nắm giữ còn quan trọng hơn cả mạng sống của chính mình. Ông phải cố gắng cầm cự cho đến khi đến được lối thoát hiểm ở xa hơn để tìm một cảnh vệ người Thụy Sĩ đang tuần tra và bắn tin đến Tòa thánh Vatican.

Mặc cho đau đớn và sợ hãi, ông bắt đầu chạy.

Bàn thờ Chúa nằm ngay phía trước. Màn trướng dát đồng che trên đó được Bernini thiết kế tựa trên cột xoắn. Marco đi vòng sang bên trái về hướng cánh ngang. Ông nhận ra đài tưởng niệm đồ sộ của Vua Alexander VII và ô cửa nằm bên dưới.

Đây chính là lối ra Quảng trường Santa Marta.

Giá mà –

Một cú đấm vào bụng đã chấm hết mọi hy vọng. Ông ngã lùi ra sau và liếc nhìn xuống. Không có cú đấm nào cả. Có một mũi tên bằng thép bịt đầu bằng lông mềm ló khỏi áo ông. Chốc sau ông bắt đầu cảm thấy đau choáng váng. Tương tự mũi tên đầu tiên, mũi tên này cũng ánh lên như con mắt giận dữ. Có một đốm sáng nằm phía trên một hốc vuông ở cuối mũi tên.

Marco trượt chân ra sau. Chợt có bóng di chuyển gần cửa của một người mặc đồ sặc sở như cảnh vệ Thụy Sĩ, ắt hẳn là giả dạng. Kẻ ám sát hạ thấp cung tên và bước ra khỏi chỗ hắn nằm ẩn náu chờ đợi.

Marco lùi lại phía bàn thờ và sẵn sàng chạy xuống gian giữa giáo đường. Nhưng chợt ông nhận ra một người đàn ông khác mặc đồng phục của đội cận vệ Thụy Sĩ. Người này đang gập người gần một cái ghế dài rồi kéo mạnh mũi tên bằng then cửa ra khỏi cái ghế gỗ.

Lúc này, sự khiếp đảm át cả cơn đau ở bụng, Marco quay sang cánh phải, nhưng cũng đã bị chặn. Một người thứ ba bước ra từ bóng tối của phòng xưng tội, cũng nhấc một cái nỏ khác ngắm tới.

Ông đã lọt vào bẫy.

Nhà thờ này được xây dựng như một cây thánh giá, và Chúa ở trung tâm. Giờ đây, ba góc đã bị các sát thủ phong tỏa. Chỉ còn một lối thoát duy nhất. Hướng về chỗ tụng niệm, chính là đầu của cây thánh giá. Nhưng đó lại là đường cùng.

Dù vậy, Marco vẫn cố chạy đến đó.

Phía trước hiện ra bàn thờ của Thánh Peter, một tượng khổng lồ mạ vàng có các vị thánh và thiên sứ ngồi trên ghế gỗ của Thánh Peter. Bên trên là khung cửa thạch cao hình bầu dục thể hiện Chúa thánh thần theo hình cánh chim bồ câu.

Nhưng cánh cửa tối đen không hề mở ra chút hi vọng nào.

Marco xoay lưng lại cửa sổ và quan sát xung quanh. Phía bên trái là lăng mộ của Giáo hoàng Urban VIII. Đó là một bức tượng mô tả thần Chết đữ tợn trong hình dạng một bộ xương đang leo từ mộ bằng cẩm thạch của Giáo hoàng, báo hiệu kết cục của loài người… và cũng có thể là điềm tận số của riêng Marco.

Marco thì thầm bằng tiếng Latinh, “Lilium et Rosa.”

Hoa loa kèn và hoa hồng.

Trở lại thế kỉ XII, có một vị thánh người Ailen mang tên Malachy có khả năng biết trước tất car các vị Giáo hoàng từ thế kỉ của ông cho đến ngày tận thế của thế giới. Theo ông nhìn thấy, sẽ có tổng cộng 112 vị Giáo hoàng. Mỗi vị được ông miêu tả ngắn gọn một cách bí ẩn. Đối với Giáo hoàng Urban VIII, người được sinh ra sau khi Thánh Malachy qua đời được năm thế kỉ, được đặt tên là “hoa loa kèn và hoa hồng”. Cũng như những loài tiên đoán tương tự, mô tả về vị Giáo hoàng này rất chính xác. Ông được sinh ra ở thành phố Florence có biểu tượng là hoa loa kèn đỏ. Nhưng điều gây hoang mang hơn cả là vị Giáo hoàng hiện tại là người kế cuối trong danh sách mà Thánh Malachy đã miêu tả. Và theo như lời tiên tri chính xác đến kì quái này, thế giới sẽ kết thúc cùng với vị Giáo hoàng kế tiếp.

Trước đây, Marco chưa bao giờ tin vào những tưởng tượng viển vông như vậy - nhưng những ngón tay ông đang nắm chặt cái cặpda bé xíu, và tự hỏi lòng liệu đây có gần giống với Trận chiến Armgeddon hay không.

Những bước chân kéo Marco về hiện thực. Một trong những tên sát thủ đang đến gần. Giờ ông chỉ còn đủ thời gian để làm một chuyện thôi.

Ông nhanh chóng hành động. Cố cầm máu để xóa dấu vết, ông nhích qua một bên nhằm cất giấu cái cần được bảo vệ. Khi đã xong, ông quay trở ra giữa nhà nguyện. Không thể cầu viện ai khác, ông đành quỳ xuống chờ chết. Tiếng bước chân tiến dần về phía bàn thờ. Một người hiện ra trước mặt. Người đàn ông dừng lại và nhìn quanh.

Không phải là một trong ba tên sát thủ.

Và cũng không phải ai xa lạ.

Marco rên rỉ báo hiệu nhằm thu hút sự chú ý của người mới đến. Người đàn ông cứng đờ vì ngạc nhiên, rồi vội chạy đến bên.

“Marco hả?”

Quá kiệt sức không thể gượng dậy, Marco chỉ có thể liếc nhìn, trong chốc lát miên man giữa hi vọng và nghi ngờ. Nhưng người đàn ông chạy đến bên ông lộ vẻ vô cùng lo lắng. Đó chính là người thầy cũ của Marco, cũng là người sắp đặt cuộc hẹn tối nay.

“Thầy Verona…” Marco thở hổn hển, gạt hết mọi nghi ngờ, từ trong sâu thẳm ông tin người này sẽ không bao giờ phản bội ông. Ông nhấc một cánh tay lên và chìa bàn tay trống rỗng. Tay kia vẫn giữ chặt mũi tên đính lông còn gắm trên bụng.

Một tia sáng lóe lên làm Marco nhìn xuống. Ông thấy đốt màu đỏ trên mũi tên thình lình chuyển sang màu xanh lá.

Không…

Vụ nổ thổi bay Marco trên sàn cẩm thạch để lại vệt máu và khói dài, và cả một đoạn ruột. Trên bụng của ông ruột còn lòng thong khi ông ngã xuống chân bàn thờ. Đôi mắt ông xoay tròn và nhìn thẳng lên tượng mạ vàng cao ngất bên trên.

Một cái tên chợt xuất hiện lờ mờ trong tâm trí ông.

Petrus Romanus.

Peter the Roman.

Đó là cái tên cuối cùng trong danh sách tiên đoán tiên đoán của Thánh Malachy, cũng chính là người kế nhiệm Giáo hoàng hiện tại để trở thành vị Giáo hoàng cuối cùng trên trái đất.

Với thất bại của Marco tối nay thì điều tồi tệ chưa thể kết thúc.

Marco không nhìn thấy gì nữa. Hai tai ông ù đặc. Ông không còn sức để nói nữa. Nằm nghiêng một bên, ông nhìn khắp nhà nguyện về phía mộ của Giáo hoàng Urban , rồi nhìn tới bộ xương bằng đồng đang leo khỏi ngôi mộ đó. Marco đã treo cái túi bé xíu mà ông ta cố bảo vệ lâu nay lên ngón tay xương xẩu kia. Ông hình dung ra dấu ấn cổ xưa in hằn lên lông của chiếc cặp đó.

Đó cũng là tia hi vọng duy nhất của thế giới.

Ông cầu nguyện trong hơi thở cuối cùng mong rằng mọi thứ chỉ dừng ở đây.

CHÌA KHÓA NGÀY TẬN THẾ James Rollins Bộ Sách: A Sigma Force Đánh Máy: Quách Thủy Tiên TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.