Chìa Khóa Ngày Tận Thế

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Ngày 12 Tháng 10, 11h35 Tối

❊ ❊ ❊

Oslo, Nauy

Monk nhanh chóng lướt qua khu công viên nghiên cứu. Dưới lớp áo khoác dày cộm anh đang mặc là một bộ đồng phục bảo vệ của công ty Viatus. Đi cạnh anh là John Creed cũng trùm kín người tương tự để chống lại cái lạnh, nhưng anh ta còn quấn thêm một chiếc áo khoác của phòng thí nghiệm ở một bên tay.

Họ dễ dàng cho xe vượt qua các cổng chính của khu làm việc thuộc tập đoàn Viatus bằng mấy tấm thẻ căn cước giả. Họ chạy xe vào bãi đậu xe dành cho nhân viên, rồi sau đó đi bộ ra. Công ty Viatus có rất nhiều văn phòng đại diện rải khắp thế giới, nhưng Oslo là trụ sở chính của họ. Khu vực này trải dài trên khoảng một trăm mẫu, có rất nhiều phòng ban, khu vực làm việc được thiết kế như một công viên. Toàn bộ kiến trúc đều bóng loáng và hiện đại, mang đậm dấu ấn của trường phái tối giản Scandinavi.

Ở giữa khu vực này có một tòa nhà hội nghị được xây hoàn toàn bằng kiếng, phản chiếu ánh sáng rực rỡ như kim cương. Qua lớp tường kiếng có thể thấy được một thân tàu rộng kiểu người Viking. Đây không phải là một mô hình, mà là một dấu tích lịch sử đúng nghĩa. Chiếc tàu này đã được phát hiện bị đóng băng tại một địa điểm nào đó thuộc vùng Bắc cực của lãnh hải Nauy. Phải tiêu tốn hàng triệu dollas để cứu hộ và bảo quản nó, và tất cả đều do ngài Ivar Karlsen tài trợ.

Làm người giàu có thật tuyệt!

Monk tiếp tục băng qua khu làm việc. Phòng thí nghiệm nghiên cứu di truyền gen vụ mùa nằm ở một góc hẻo lánh nên phải đi bộ rất xa từ khu đậu xe.

Monk kéo nón áo khoác lên trùm đầu lại. “Này, chàng trai,” anh nói để cố quên cái rét, “Nhân tiện cho tôi hỏi, thực ra cậu đã làm thế nào mà ra khỏi được Quân đoàn, rồi cuối cùng lại gia nhập tổ chức Sigma vậy?”

Creed lầm bầm có vẻ thô bạo, “Đừng hỏi.” Rõ ràng anh ta không muốn nói về chuyện đó. Anh ra bực tức thật sự.

Hơn nữa lại bị gọi là chàng trai nên không muốn mở lời là phải.

Creed không phải dạng người nhiều chuyện, nhưng Monk phải thừa nhận là người đàn ông này rất thông minh. Mới đây anh ta đã nói được chút ít tiếng Nauy với giọng rất chuẩn. Monk chỉ biết có một người cũng lanh lẹ như vậy. Anh tưởng tượng ra nụ cười, tấm lưng cong cong của nàng, và cảm giác được cái bụng phình lên của cô. Nghĩ về Kat làm anh ấm lòng để hoàn thành nhiệm vụ.

Phòng thí nghiệm di truyền gen vụ mùa trông như một cái trứng bạc dựng đứng lên. Tất cả các mặt đều là kiếng phản chiếu lên nền đất, làm cho tòa nhà có vẻ kỳ ảo, như thể nó đang trong quá trình uốn cong sang chiều khác vậy.

Công trình này còn khá mới, vừa được hoàn thành cách đây năm năm. Nó đã được lắp đặt hệ thống an ninh tinh vi nên chỉ cần mấy nhân viên bảo vệ tượng trưng vào ban đêm mà thôi.

Nhưng không là trở ngại đối với người được trang bị những đồ chơi tối tân nhất của Cơ quan Nghiên cứu cấp cao Bộ Quốc phòng Mỹ (DARPA).

Monk vác chiếc ba lô ở bên vai này, còn dưới vai kia kẹp một khẩu Taser XREP. Thứ vũ khí này phóng ra một mũi tên nhỏ nhiễm điện có thể hạ gục mục tiêu chỉ trong vòng năm phút. Anh mong là không phải dùng đến nó.

Creed bước đến trước cửa chính.

Monk sờ vào cổ họng. Trên đó có gắn một chiếc micro nhỏ, còn trên tai đã có tai nghe sẵn sàng. “Thưa chỉ huy, chúng tôi đang chuẩn bị tiến vào tòa nhà ngay đây.”

Painter đáp lời ngay lập tức trong tai anh. “Có trục trặc gì không?”

“Cho đến giờ thì không?”

“Tốt. Giữ liên lạc đấy.”

“Tuân lệnh.”

Creed bước đến bên màn hình mã hóa điện từ, rồi quét qua khe một chiếc thẻ. Một sợi dây mỏng chạy từ thẻ chìa khóa lên một thiết bị buộc chặt quanh cổ tay anh. Đây là một dụng cụ giải mã bằng cách dùng lượng tử để mở khóa, về cơ bản nó tương đương với một chiếc chìa khóa điện tử vạn năng. Rồi ổ khóa cũng bị mở, kế đó Creed kéo cánh cửa ra.

Họ cùng tiến vào trong.

Lối vào tỏa ánh sáng lờ mờ, quầy tiếp tân không một bóng người. Monk biết được đội bảo vệ đóng văn phòng giám sát ở tầng trên kia. Miễn là tắt được chuông báo động thì sẽ dễ dàng đến hệ thống máy chủ đặt dưới tầng hầm. Nhiệm vụ của họ là mở được cánh cửa hậu vào máy chủ lưu trữ dữ liệu nghiên cứu. Nếu may mắn, họ có thể rời khỏi đó trong vòng mười phút.

Khi Monk băng qua sảnh chờ, anh ngoảnh mặt tránh mấy cái máy ghi hình. Creed cũng làm vậy. Vì họ đã ghi nhớ vị trí các máy quay xem từ biểu đồ mà Kat đưa rồi.

Họ đến thang máy. Creed bước đi hơi vội. Monk khều anh đi chậm lại, cố tạo dáng vẻ không hoang mang lắm.

Chỉ cần nhấn nút là một hệ thống cửa thang máy mở ra. Họ bước vào trong. Máy đọc mã khóa lại nhấp nháy đỏ. Thang máy sẽ không hoạt động nếu nhập sai mã.

Monk lưỡng lự định nhấn nút B2 - tức là Tầng hầm thứ hai - nơi có đặt máy chủ. Creed đứng chờ để quét chìa khóa vạn năng. Monk do dự trước khi nhấn nút.

“Gì hả?” Creed há hốc mồm, sợ không dám thốt lên một từ tiếng Anh nào nếu thang máy bị giám sát.

Monk chỉ vào mấy cái nút bên dưới, xếp từ nút B2 đến B5. Theo như biểu đồ được cung cấp thì họ không cần phải đi xuống tầng nào bên dưới tầng hai hết.

Vậy có gì ở mấy tầng đó chứ?

Monk thừa biết nhiệm vụ của họ, nhưng còn có một vấn đề kèm theo trong hành động đêm nay: đó là điều tra xem chuyện gì đang thật sự diễn ra ở Viatus. Có suy đoán rằng công ty này đang giữ một bí mật tội lỗi gì đó trên máy chủ. Vậy có thể nào những bí mật thật sự được chôn sâu hơn không?

Như dưới tầng hầm chẳng hạn.

Monk giơ tay nhấn nút B5. Creed nhìn anh chằm chằm, rõ ràng đang nghi ngờ điều anh đang làm.

Đây chỉ là một thay đổi nhỏ, anh khẽ trả lời. Thành viên Sigma không phải lúc nào cũng tuân lệnh mù quáng mà còn phải linh hoạt, tùy tình hình nữa.

Creed cần học thêm điều này.

Monk chỉ về phía máy đọc mã khóa và ra lệnh cho Creed quét thẻ từ qua. Con đường vòng này chỉ mất thêm khoảng một phút nữa. Anh chỉ muốn nhìn trộm xem bên dưới có gì thôi. Nếu đó chỉ là tầng dành cho việc bảo trì hay là chỗ đặt hồ bơi dành cho nhân viên, họ sẽ nhanh chóng quay lại tầng hai, kết nối với máy chủ, rồi lẹ làng rời khỏi đó.

Vừa thở dài có vẻ hơi cáu, Creed vừa quét thẻ. Sau khoảng nửa giây thì đèn chuyển sang màu xanh lá.

Thang máy bắt đầu đi xuống.

Không hề có tiếng chuông báo động nào.

Thang máy mở ra một sảnh bị khóa. Một cánh cửa khép chặt sừng sững ngay trước mắt. Monk chững lại, chợt nghĩ đến một tình huống thứ hai.

Nếu là Gray ở đây thì sẽ phản ứng thế nào đây?

Monk thầm lắc đầu. Từ khi nào bắt chước theo Gray là điều tốt đây? Một người có biệt tài giải quyết tình huống lắt léo.

Khi cửa thang máy bắt đầu khép lại, Monk túm lấy khuỷu tay Creed cùng lao vào trong tiền sảnh.

“Anh có bị dở hơi không vậy?” Creed rít lên, giằng tay Monk ra.

Có lẽ vậy.

Monk bước gần đến để xem xét cánh cửa. Không hề có máy quét thẻ từ. Nhưng do nhạy cảm với áp suất nên bàn phím sáng lên. Một tia sáng quét lên rồi xuống. Anh nín thở - rồi nghe tiếng ổ khóa mở ra.

Một cái tên lóe sáng trên màn hình.

IVAR KARLSEN

Creed cau mày khi đọc được cái tên đó, rồi liếc sang Monk, có vẻ tức giận vì không được báo trước về kế hoạch dự phòng này.

Đây chính là ý tưởng của Kat. Cô đã tìm được toàn bộ hồ sơ về vị tổng giám đốc điều hành kia, bao gồm cả dấu in lòng bàn tay. Chỉ mất một lúc để số hóa dữ liệu và kết nối với máy in laser tương thích. Thiết bị đó đã in một bản sao dấu bàn tay vào bàn tay giả của Monk, tạo nên phiên bản hoàn hảo trên da phù hợp với mã khóa.

Nếu có ai vào được đây thì chắc chắn phải là vị giám đốc này thôi.

Monk bước đến cánh cửa đã mở.

Để xem Ivar đang giấu những gì dưới đây.

★ ★ ★

11h46 tối

Painter vẫn đang quan sát khách sạn Grand Oslo từ bên kia đường. Ông ngồi ở hướng trông rõ lối vào. Không có gì đáng bàn khi Thượng nghị sĩ Gorman lại chọn nơi đây để nghỉ lại. Nơi này được xây theo kiến trúc phục hưng thời Louis XVI rất ư là xa xỉ, lên đến tám tầng và chiếm trọn một góc thành phố, ngay lối vào hiện lên một tháp đồng hồ ở giữa. Từ đó cũng rất tiện trông qua tòa nhà Quốc hội Nauy.

Một sự lựa chọn hoàn hảo đối với vị Thượng nghị sĩ của Mỹ đang ghé thăm.

Và chắc chắn không thể là nơi thích hợp cho việc mai phục.

Tuy thế, Painter lại muốn quan sát thấu đáo. Ông đã ngồi đây được một tiếng rồi, trên người mặc một chiếc áo khoác dày cộm, đội nón, và quàng khăn choàng nữa, lại còn đi khom khom nửa để ngụy trang, nửa vì vết thương do dao đâm bắt đầu nhức khi thuốc giảm đau đã tan. Trong một tiếng qua, ông cũng đã đi khảo sát tất cả các khu vực công cộng của khách sạn, kể cả Bar Limelight, nơi sắp diễn ra cuộc gặp mặt giữa ngài Gorman và một người bí ẩn. Để phòng hờ, Painter còn giắt thắt lưng con dao WASP đoạt được bữa trước và một khẩu Beretta nòng 9mm trong bao súng ở vai.

Nhưng cho đến giờ, mọi thứ đều có vẻ yên ắng.

Painter ngước nhìn lên tháp đồng hồ. Chỉ vài phút nữa là đển nửa đêm. Đã đến lúc điệp viên này vào trong tránh cái lạnh rồi.

Ông đứng dậy, băng qua đường, trong tư thế rất sẵn sàng.

Monk thì đã đột nhập được vào trong, còn hồi đầu giờ tối Painter cũng đã có cuộc nói chuyện tuy ngắn nhưng rất chi tiết qua điện thoại vệ tinh với Gray. Ông biết được rằng công ty Viatus đã tài trợ cho cuộc khai quật ở Anh. Bọn họ đang tiến hành khai thác sinh học nhằm tìm ra các sinh vật mới để làm lợi cho công trình nghiên cứu di truyền. Vậy bọn họ đã tìm thấy gì? Gray đã miêu tả một khám phá kinh hoàng, tại khu vòng tròn đá thời kỳ đồ đá mới, chính là những thi thể được chôn và bảo quản trong đầm lầy, lại còn tìm thấy một vài loại nấm khi giải phẫu ra nữa.

Điều đó có ý nghĩa gì không?

Painter nhớ lại nhà di truyền học bị ám sát ở trường Đại học Princeton đã tin rằng loại gen mới lai ghép vào giống ngô của công ty Viatus không phải thuộc gốc vi khuẩn. Có thể nào chúng là nấm, tức là các gen có chiết xuất từ mấy loại nấm đó? Nếu đúng vậy thì tại sao phải che giấu sự thật bằng cách giữ bí mật và tàn sát khủng khiếp đến vậy?

Giờ thì Painter đành dẹp những nghi vấn đó sang bên. Ông cần phải tập trung nhiệm vụ khẩn cấp lúc này. Ông bước vào tiền sảnh và dè dặt quan sát xung quanh, ngầm so sánh gương mặt của mấy nhân viên khách sạn với những người ông đã gặp trong cuộc khảo sát mới rồi, để bảo đảm rằng không có kẻ lạ mặt nào trà trộn vào.

Thấy hài lòng, ông sải bước đến quầy bar của khách sạn. Bar Limelight tối mờ, nhưng được đóng pano cửa rất sang trọng, chỉ được chiếu sáng bằng mấy ngọn đèn treo tường. Cả khu vực được chia ra bởi những chiếc ghế đứng và ghế bành thuộc da đỏ, thoang thoảng mùi xì gà.

Vào giờ này khách khá thưa thớt, nên không khó gì để nhận ra Thượng nghị sĩ Gorman đang ngồi cạnh quầy bar. Đặc biệt còn có một người đàn ông lực lưỡng ngồi cạnh bên, mặc bộ lễ phục không vừa với khổ người to lớn như vậy. Có lẽ ông ta cũng cử bảo vệ theo phòng ngừa. Nhân viên bảo vệ này ngồi xoay lưng lại quầy bar, khôn khéo quan sát những nguy hiểm có thể xảy đến với thân chủ mình.

Painter liếc theo dõi họ. Ông đi qua mấy cái ghế và ngồi xuống ở một chỗ gần lối vào. Một người phục vụ bar ghi lại thức uống mà ông yêu cầu.

Giờ để xem ai, nếu có, sẽ xuất hiện đây.

Ông đã không phải chờ lâu.

Một người đàn ông xuất hiện, khoác một chiếc áo choàng dày dài tận mắt cá. Ông ta loay hoay tìm quầy bar, rồi dán mắt vào vị Thượng nghị sĩ. Painter sửng sốt nhận ra mình đã từng gặp ông ta rồi, hồi kết thúc bữa tiệc trưa. Lúc đó, ông này đang phàn nàn với vị đồng chủ tịch Câu lạc bộ thành Rome.

Painter cố lục suy nghĩ để nhớ ra tên ông ta.

Hình như là Anthony.

Ông nhớ lại cuộc nói chuyện đó trong đầu.

Không… là Antonio.

Ông ta thoáng cười mãn nguyện khi trông thấy ngài Thượng nghị sĩ. Đây hẳn là lũ bù nhìn vì trong cuộc đối thoại trước, rõ ràng ông ta không thích gì Karlsen. Nụ cười của Antonio vụt tắt khi ông ta chú ý thấy có cả viên bảo vệ. Lời yêu cầu là ngài ấy phải đi một mình cơ mà. Antonio do dự ở gần lối vào.

Đến lúc hành động rồi.

Painter lướt êm khỏi chỗ ngồi, rồi đi thẳng đến trước mặt Antonio. Một tay ông nắm lấy khuỷu tay, tay kia chĩa khẩu súng Beretta vào mạng sườn hắn. Ông vẫn giữ nguyên nụ cười trên khuôn mặt.

“Hãy nói chuyện nào,” Painter lên tiếng và hướng hắn ta ra xa quầy bar.

Đây là ý định của ông nhằm thẩm vấn riêng người đàn ông này. Thượng nghị sĩ càng ít nhúng tay vào vụ này thì càng tốt cho đại cuộc.

Antonio đành để bị dắt đi dưới họng súng, vẻ mặt hoảng sợ.

“Tôi làm việc cho chính phủ Mỹ,” Painter vào thẳng vấn đề. “Chúng ta sẽ nói chuyện ngắn thôi trước khi ông gặp ngài Thượng nghị sĩ.”

Nét hoảng sợ tan biến dần, nhưng không trọn vẹn. Painter dắt ông ta đến một trường kỷ đặt trong một góc trống của sảnh chờ. Chỗ này được che một phần nhờ bức tường thấp và một chậu dương xỉ.

Nhưng họ không thể có cuộc nói chuyện nào nữa.

Antonio chợt vấp và quỵ xuống một bên. Ông ta nghẹn lại, tay thì run rẩy sờ lên cổ. Một đầu mũi tên thò ra ngay cổ họng. Máu rơi lộp độp xuống nền gạch lát đá hoa lúc Antonio buông thõng tay và quỵ xuống.

Painter chú ý thấy một ánh sáng nhỏ lóe lên ở sau cổ người đàn ông này, nằm ẩn trong phần da ngựa của mũi tên. Ông phản ứng nhanh lẹ trước khi kịp suy nghĩ.

Bom.

Ông nhảy tới trước, rồi bay qua bức tường thấp. Ông đã đáp xuống sau đó ngay lúc quả bom phát nổ. Âm thanh vang vọng như tiếng sấm nổ trong một hang động. Đầu ông đau nhức. Thoáng chốc như bị điếc - rồi nghe được trở lại.

Những tiếng thét, la hét, khóc lóc.

Mọi thứ thật trống rỗng.

Ông lăn người dậy, vẫn ẩn nấp sau bức tường. Khói tỏa khắp sảnh, đốt lên từ những đám lửa. Vụ nổ đã làm đen kịt một mảng sàn rộng lớn. Xác của Antonio đã bị xóa sổ trong đám tàn tích cháy rụi kia. Nhiệt độ không khí quá cao có kèm theo mùi hóa chất.

Nhiệt nhôm và phosphorus trắng.

Painter họ sặc sụa, rồi quờ quạng trong sảnh. Từ chỗ của Antonio, mũi tên chắc phải xuất phát từ bên trong khách sạn, bên cánh trái. Theo hướng đó, có hai kẻ bịt mặt chạy từ cầu thang băng qua đám khói. Một kẻ khác đâm sầm vào cửa trước.

Chúng chạy rầm rập về phía quầy bar Limelight.

Bọn chúng đang rượt theo ngài Thượng nghị sĩ.

★ ★ ★

12h04 tối

Monk đứng ngay cánh cửa mở toang. Bên kia ngưỡng cửa là một hành lang chạy dài. Đèn bật sáng, từng cái một nối tiếp nhau, soi sáng con đường phía trước.

“Chúng ta sẽ xem nhanh thôi,” Monk thì thầm. “Sau đó biến khỏi nơi này ngay.”

Creed chờ cho Monk đi trước. Chàng thanh niên thở gấp, không hề chớp mắt.

Đi được nửa đoạn đường, cánh cửa đôi mở ra về hai hướng trái và phải. Monk đi thẳng về phía chúng. Nơi này bốc lên mùi thuốc sát trùng, y như ở bệnh viện. Sàn nhà lót vải sơn trơn tru cộng với mấy bức tường không có gì đặc biệt càng tạo cảm giác vô trùng.

Anh cũng để ý thấy không có chiếc máy ghi hình nào gắn trong hành lang này. Rõ ràng công ty rất tin tưởng hệ thống an ninh điện từ lắp đặt phòng ngừa.

Monk bước đến cửa. Chúng cũng mã khóa bằng dấu tay như mấy cánh cửa khác. Monk ấn tay lên đó. Chắc chắn không có nơi nào đặt hạn chế với Karlsen cả.

Anh đã đúng.

Ổ khóa bật mở.

Monk tiến vào và thấy mính đang đứng trong một lối đi kín đối mặt với một lớp cửa khác. Đây là một phòng chờ lắp kính. Phía bên kia cánh cửa mở ra một căn phòng rất lớn. Trong phòng có bật đèn màu hổ phách dịu nhẹ.

Anh thử bước qua đôi cửa tiếp theo. Không khóa. Cánh cửa rõ ràng được thiết kế không phải để nhốt người ta bên ngoài, mà giống hơn là nhốt người ở bên trong.

Khi Monk đẩy cửa vào phòng kế tiếp, anh nhìn chằm chằm mấy bức tường ở hai bên. Trải dài theo căn phòng là những ô cửa sổ cao từ sàn đến đụng trần. Có tiếng vo vo âm lượng thấp vang lên khắp phòng, như thể sóng truyền thanh đang bắt sóng giữa các đài với nhau vậy.

Creed bám sát gót anh. “Có phải đó là…?”

Monk gật đầu. “Là tổ ong.”

Phía sau lớp kính là một khối vững chắc gồm những chú ong đang quằn quại và náo loạn cả lên trong trạng thái như bị thôi miên, cánh đong đưa, thân thể múa may. Các giá và tầng chứa tảng ong chất cao đến nóc. Các tổ ong được chia thành từng khu dọc theo chiều dài của phòng. Mỗi chỗ nuôi ong được đánh dấu bằng một mật mã khó hiểu. Khi nghiên cứu chúng Monk chú ý thấy mỗi số đều có cùng ba ký tự đứng đầu là:

IMD.

Anh không hiểu tầm quan trọng của nó, nhưng rõ ràng mấy con ong được dùng để nghiên cứu gì đó.

Hoặc giả Ivar chỉ có hứng muốn lấy mật ong tươi mà thôi.

Monk cùng với Creed di chuyển tới chỗ gần nhất. Tiếng vo vo càng lớn thì họ càng cảm giác lo sợ hơn. Ánh sáng tuy hơi mờ, nhưng chắc hẳn đã kích động chúng.

“Tôi nghĩ chúng thuộc giống ong châu Phi,” Creed nói. “Hãy xem chúng hung tợn đến dường nào kìa.”

“Tôi thì không quan tâm đến nguồn gốc của chúng. Chỉ là công ty Viatus làm gì với chúng thôi?”

Và tại sao lại cần bảo vệ tất cả chúng nghiêm ngặt đến vậy?

Creed bước về phía một ngăn nhỏ nằm trong cửa sổ tổ ong.

“Cẩn thận đấ” Monk cảnh báo.

Creed chau mày, rồi kéo hộc tủ ra. “Đừng lo. Tôi đã từng làm việc với lũ ong ở nông trại của gia đình tôi tại Ohio trước đây rồi.”

Hộc tủ hiện ra một cái hộp được hàn kín bên trong với đáy mắt lưới. Bên trong có đựng một con ong lớn.

“Ong chúa đó,” Creed nói.

Bầy ong càng tỏ ra điên cuồng hơn trong lồng.

Monk để ý thấy cái hộp này cũng được đóng dấu mã kỳ lạ tương tự như trên cái lồng. Creed đẩy hộc vào lại, Monk thì lấy ra một máy ghi hình nhỏ xíu, rồi ấn nút quay lại một đoạn hình kỹ thuật số ngắn. Anh thu lại hình mấy tổ ong cũng như mấy con số phía trên mỗi tổ.

Có thể rất quan trọng.

Lúc này, điều tốt nhất họ có thể làm là ghi nhận lại toàn bộ và biến khỏi đây. Ngay khi thu hình xong, Monk kiểm tra lại đồng hồ. Anh vẫn còn muốn xem xét thêm căn phòng phía bên kia hành lang trước khi tiến đến các máy chủ để hoàn thành nhiệm vụ chính của họ.

“Đi thôi,” Monk nói, rồi hướng đồng nghiệp trở ra hành lang.

Bước qua hành lang, Monk lại áp bàn tay vào màn hình trên cánh cửa đó. Khi cửa mở, anh tiến vào trong. Nó cũng mở vào một căn phòng chờ tương tự như phòng thí nghiệm bên kia. Nhưng ở đây có treo những cái mặt nạ phòng hơi độc trên mấy cái giá gắn trên tường. Phía trước, ánh sáng cũng nhấp nháy. Kích cỡ phòng này cũng giống phòng kia.

Nhưng ở đây không có ong.

Có bốn cái giường chạy dọc theo chiều dài của căn phòng. Ngay ở đây, Monk cũng có thể nhận thấy mấy cái dù múp míp đang nhô lên trên giường, mọc loạn xa.

“Là nấm,” Creed nói.

Monk đi tiếp sang phòng kế bên. Cánh cửa bật mở với một tiếng bốp của không khí phụt ra. Căn phòng đã bị điều áp để giữ không khí bên trong. Monk chợt hiểu tại sao lại vậy.

Creed bịt mũi và miệng lại.

Mùi hôi thối như phả vào mặt. Không khí nóng oi bức, nghe mùi như tổng hợp của nước muối, cá chết và thịt thối rữa. Monk muốn quay trở ra ngay lập tức, nhưng Painter đã nói cho anh biết về cuộc thảo luận với Gray.

Về nấm.

Không thể trùng hợp như vậy được.

Monk lấy camera ra, sẵn sàng ghi nhận lại. Creed đến giúp anh. Anh ta giơ ra một cái mặt nạ hô hấp lấy ở phòng chờ. Monk đeo lên mặt tỏ vẻ biết ơn.

Ít nhất thì kẻ nào đó đang nghĩ đến…

Chiếc mặt nạ lọc không khí làm mất đi mùi hôi thối giúp anh thở bình thường lại. Thế là anh đi tiếp đến một cái giường gần nhất. Những cái nấm đang lớn dần trồi lên khỏi lớp phủ màu đen dưới nước trông như dầu.

Creed đeo đôi găng tay nhựa vào, rồi đến giúp anh. Anh ta mở một đôi găng tay khác. “Chúng ta nên lấy một mẫu loại nấm này”

Monk gật đầu, chuẩn bị ghi hình lại toàn bộ.

Creed chạm vào một trong những cái nấm. Anh ta nhẹ nhàng túm lấy gốc, rồi kéo nó lên. Nó gỡ lên dễ dàng - nhưng kèm theo một khúc cùi gì đó nữa. Creed rùng mình, rồi ghê tởm thả nó xuống. Nó rơi bắn tung tóe xuống lớp phủ ướt, đập vào bề mặt như là một món xúp lỏng.

Đến lúc này Monk mới nhận ra dung môi cho nấm phát triển.

Chính là máu ngưng đọng.

“Anh có thấy…?” Creed lắp bắp. “Đó có phải là…?”

Monk đã chú ý thấy thứ gắn chặt vào cái nấm mà Creed cầm lên. Đó là một quả thận. Và theo kích cỡ đó, đích thực là của con người.

Monk vẫy tay gọi Creed trở lại nhiệm vụ khủng khiếp. “Lấy mẫu thôi nào.”

Bật máy quay phim lên, Monk di chuyển xuống cái giường dài đầy nấm. Tấm giường nhỏ nhất trồng nấm nằm gần cửa cái nhất. Chúng trắng như xương, nhưng mấy cái nấm thì lớn hơn theo hàng ngang, và màu sắc đỏ sậm hơn.

Monk chú ý thấy một cặp cuống màu nâu nhô lên khỏi lớp máu lỏng. Anh lia máy quay lại gần hơn. Đó không phải là thân nấm. Anh ớn lạnh nhận ra chúng chính là những ngón tay người.

Anh chạm tay véo một trong mấy ngón tay đó bằng bàn tay giả của mình. Kế đến anh nhấc nó lên, kéo lê một bàn tay ra khỏi đống nhầy nhụa. Khi anh giơ cao lên thì lại thấy nó gắn kèm với một cẳng tay. Những cái nấm mọc trên thịt tươi.

Anh nghiến răng từ từ bỏ cái chi đó trở vào chiếc bể. Anh không cần phải xem thêm gì nữa. Chắc hẳn đó là những cái xác bị chôn vùi trong máu để làm phân bón cho nấm.

Anh cũng để ý thấy lớp da cánh tay màu nâu sậm, một hình ảnh bất thường ở xứ sở tuyết trắng Nauy này. Monk nhớ lại khu nông trại ở châu Phi cũng đã bị hủy diệt trong một đêm đẫm máu và trụi lửa.

Có khi nào ngoài ngô ra còn có thứ khác được thu hoạch ở đó nữa chăng?

Monk thấy mình thở gấp hơn. Anh nhanh chóng đi về cuối dãy. Ở đây, mấy cái nấm đã phát triển thành thân dày đội ô trên đầu. Trông chúng rất béo tốt và có sợi.

Monk dùng tay giả thúc vào một trong những cái ô. Khi bị chạm vào, nó thu mình lại. Từ trên đỉnh có làn khói bột dày phụt ra và mau chóng lan tỏa ra không khí.

Là các bào tử nấm.

Monk nhảy lùi lại, thầm cảm ơn cái mặt nạ hô hấp. Anh không muốn hít vào phổi cái thứ bào tử đó.

Cứ như được cái ô ban đầu báo hiệu, những cái khác bắt đầu bùng nổ tương tự. Monk rút lui, nhưng bị những đám mây bào tử xoay tít rượt theo.

“Phải rời khỏi đây thôi!” Monk hét vang phòng, giọng anh nghẹt trong chiếc khẩu trang.

Creed chỉ mới lấy được một mẫu nấm và cột được nó vào chiếc bao tay bằng nhựa lòng thong. Anh nhìn Monk ngơ ngác. Nhưng khi thấy ngày càng có nhiều cái bong bóng bột bay phụt ra không khí, thì mắt anh chàng mở to ngạc nhiên.

Họ phải trở ra hành lang ngay.

Đột nhiên mấy lỗ thông hơi trên trần mở ra, có lẽ do thiết bị cảm nhận sinh học điều khiển. Bọt nước trên trần đổ xuống như trút. Chúng tràn ngập sàn, rồi nhanh chóng dâng cao. Monk đang chạy dưới một trong những lỗ đó nên sém bị đập ngã do lực quá mạnh. Anh bị trượt chân.

Lúc anh đến gần Creed thì mực nước đã cao đến ngực.

“Đi thôi!” Monk la lên, rồi chỉ về phía cánh cửa.

Họ cùng tông qua cánh cửa thứ nhất, trở ra phòng chờ. Chỗ này cũng đầy bọt nước, ngập cả lối đụng đến trần. Họ đành sờ soạng tìm đường ra.

Monk chạm cửa ra hành lang trước tiên.

Anh nắm lấy tay cầm, rồi huých vai xô cửa. Nó không hề nhúc nhích. Anh xô mạnh vài lần nữa, nhưng rồi chợt nhận ra sự thật phũ phàng.

Chúng đã bị khóa bên trong.

★ ★ ★

12h08 sáng

Khói trắng phủ mờ sảnh chờ. Painter đành nhảy qua bức tường thấp. Lửa vẫn còn cháy trên sàn. Máu làm sàn cẩm thạch trở nên trơn trượt. Ông rút súng ra chĩa thẳng vào tay súng bịt mặt đã chuồn qua cửa trước. Mãi nhìn quầy bar nên hắn ta không kịp để ý thấy Painter. Painter nã súng vào ngay ngực hắn.

Phát đạn làm tên tấn công bổ nhào, máu văng tung tóe.

Hạ được một tên.

Mọi người la hét và chạy nháo nhào ra đường hay trốn sau bàn ghế. Painter băng nhanh qua khoảng không của tiền sảnh.

Phía trước, ngay lối vào quầy bar Limelight viên cận vệ của ngài Thượng nghị sĩ xuất hiện trong tư thế giơ súng, sẵn sàng cho nổ. Anh ta đã trốn sau một chậu cây. Nhưng như thế chưa đủ để ẩn nấp. Có hai tay súng khác đã chăm chăm nhắm ngay lối vào từ nãy giờ rồi.

Mấy cái lá dương xỉ bị xé nát dưới làn đạn súng máy. Người cận vệ ngã ngữa ra sau. Painter không chậm chân phút nào. Ông nhào tới một cái ghế bên ngoài quầy bar, rồi bay đầu vào trung tâm. Ông đáp xuống một trong những cái ghế trường kỷ, rồi lăn vai đứng lên.

Ông chỉ còn vài giây thôi.

Một đợt súng tấn công vào như xé nát căn phòng tạo thành một vòng cung lửa dọc bờ tường phía sau quầy bar, làm vỡ cả chai lọ và kiếng.

Painter liếc thoáng căn phòng.

Ngài Thượng nghị sĩ không có ở đây.

Mà viên bảo vệ cũng không để ông ấy đi ra ngoài được. Chỉ có một cánh cửa dẫn khỏi đây. Chính là nhà vệ sinh ở phía sau. Painter chạy ngay đến đó và tông cửa vào. Chợt một viên đạn sượt qua mang tai ông. Phát súng xuất phát từ trong nhà tắm.

Thượng nghị sĩ Gorman đứng xoay lưng lại dãy bồn rửa mặt, tay cầm súng chĩa vào Painter.

Painter giơ hai tay lên. “Thượng nghị sĩ Gorman!” ông bình tĩnh gọi. “Tôi là người của Tướng Metcalf đây!”

“Nhân viên điều tra của Bộ quốc phòng Mỹ sao?” Gorman hạ súng xuống, mặt ông giãn ra nhẹ nhõm.

Painter chạy nhanh tới. “Chúng ta phải ra khỏi đây thôi.”

“Còn Samuels thì sao?” ông ta liếc dòm lại cửa.

Painter đoán ông đang nhắc đến người cận vệ. “Đã chết, thưa ngài.” Ông đẩy ngài Thượng nghị sĩ đến cánh cửa sổ kính màu ở cuối phòng vệ sinh.

“Nó đã bị chắn lại. Tôi coi rồi.”

Painter tông mạnh vào khung kính trượt mở ra. Mấy thanh sắt trang trí đã chặn khóa cửa. Ông đấm tay vào chúng, cánh cửa bật mở khỏi bản lề. Lúc đi khảo sát trước ban nãy, ông đã mở then cửa ra rồi.

Không quên bảo đảm cửa hậu.

“Ra ngoài nhanh!” Painter ra lệnh, rồi giúp nhấc đầu gối ngài Thượng nghị sĩ leo lên.

Gorman được sự trợ giúp nên mau chóng chui qua cửa sôr.

Khi Painter đang đỡ ông ta lên thì nghe thấy một tiếng phập phía sau lưng. Liếc nhìn lại thì ra là một đầu mũi tên màu đen đã bắn qua thành cửa phòng vệ sinh.

Ôi, chết tiệt.

Painter để ông ta lướt ra khỏi cửa, rồi bám theo sau. Đúng là ông đã bị chiếc giày Ý đạp trúng mắt trái. Nhưng so với vụ nổ sau lưng thì chỉ là tổn thất nhỏ thôi.

Khói lửa tỏa ra khắp cửa sổ.

Sức nóng cuốn lấy họ.

Painter đẩy ngài thượng nghị sĩ ra. Khi ngọn lửa tắt ngúm thì Painter lao tới cửa sổ, giật mạnh ô cửa xuống, rồi ném trở vào mấy thanh sắt.

Cứ để bọn chung thắc mắc cách họ trốn thoát khỏi một căn phòng bị khóa.

Sự do dự sẽ khiến chúng mất thêm một vài phút trước khi tiếp tục lùng sục trong khách sạn.

Painter quay sang phía Gorman. “Tôi đã giấu một chiếc xe hơi ở cách đây hai dãy nhà.”

Họ vội vã cùng đi.

Gorman thổi phù phù bên cạnh, ấn chặt vai mình. Qua được một dãy nhà, ông ta liếc sang Painter, rồi đặt một câu hỏi về hiện tại. “Quái, thế anh là ai chứ?”

“Chỉ là một công nhân viên hàng ngày dưới trướng ngài thôi,” Painter vừa thì thầm trả lời, vừa tập trung vào một nhiệm vụ khác. Ông chỉnh lại chiếc micro ở cổ rồi bật nó lên. “Monk, chỗ anh sao rồi?”

★ ★ ★

Monk nghe thấy vài tiếng lạo xạo trong tai, nhưng sau khi nới lỏng mặt nạ, thì anh thấy miệng mình đã đầy bọt nước. Anh tông mạnh vào cửa, thầm mong sẽ có phép lạ để nó mở ra. Chắc hẳn nó đã bị khóa ngay lúc đám bọt sủi tràn ra.

Có lẽ còn đường thoát khác.

Trước khi kịp tháo chạy thì nước nóng từ trên cao đã đổ ào xuống, bọt sủi cũng theo đó trút xuống. Từng khối nước ào ào tuôn chảy chỉ trong vòng ba mươi giây.

Monk ngước nhìn Creed. Anh ta ướt mem như một chú chó sắp vẩy tung nước. Mắt anh chàng sáng lên vì sốc.

“Đây là loại bọt sủi vi sinh vật lây nhiễm,” Monk giải thích. “Được dùng như một tác nhân hạ gục mầm bệnh xuất hiện trên máy bay. Chúng ta sẽ không sao đâu.”

Nhờ đó, ổ khóa bật mở dưới khuỷu tay của Monk. Chắc hẳn đã đến chu kỳ tẩy trùng. Anh xoay nắm cửa rồi phóng ra hành lang.

Khi anh bước đượcoài thì có tiếng vọng lại phía cuối hành lang. Anh có thể nhìn rõ phía sảnh chờ thang máy. Cánh cửa ở đó hé mở phân nửa, rồi có giọng ai đó tranh cãi bằng tiếng Nauy bước ra tiền sảnh. Monk nhận ra đó chính là lực lượng bảo vệ an ninh.

Bộ phận an toàn lễ tân tự động đã gọi đến cho an ninh.

Monk cứng đơ cả người. Anh không thể rút lúi vào trong phòng thí nghiệm đầy nấm kia nữa. Đó cũng chính là nơi đầu tiên mà họ sẽ kiểm tra. Thế nên chỉ còn một sự lựa chọn. Bước vào giữa, anh nhanh chóng băng qua hành lang, rồi đặt lòng bàn tay lên máy quét gắn trên cửa. Anh nín thở chờ đợi máy quét, vừa nhìn phía cửa đằng xa, cầu nguyện cho đừng ai quay lại.

Cuối cùng, ổ khóa cũng mở. Thầm thở phào cảm ơn, anh đẩy cửa mở ra rồi cùng Creed lao vào trong.

Monk khép hờ khe cửa đủ để quan sát hành lang bên ngoài.

Có một nhóm nhân viên an ninh gồm bốn người đang tiến tới, dẫn đầu là một chuyên gia kỹ thuật mặc áo khoác thí nghiệm. Người đó trông như vừa mới thức dậy. Rõ ràng để vào được đây cần phải có người có thẩm quyền dẫn đường.

Monk đóng hẳn cửa lại, tuy nhiên vẫn còn núp đó để có thể lắng nghe. Cánh cửa phòng thí nghiệm bên kia mở ra rồi đóng lại. Còn mấy người đàn ông vẫn đứng bên ngoài hành lang. Monk nghe họ thầm thì. Anh không biết có tổng cộng mấy người, nhưng đoán ít nhất là ba.

Giờ thì làm sao đây?

“Tránh chỗ tí nào,” Creed lên tiếng phía sau lưng anh.

Monk quay sang. Đồng nghiệp của anh đã cởi bỏ chiếc áo trùm đầu ra, và kịp mặc vào chiếc áo khoác thí nghiệm. Đầu tóc anh ta cũng đã được lau khô và chải chuốc ngay ngắn bằng tay. Creed bước vào phòng chờ. Trong khi Monk vẫn còn trấn giữ ở cửa, thì anh chàng kia đã đi vào căn phòng lớn hơn có nhà nuôi ong ốp kiếng.

“Cậu làm gì vậy?” Monk hỏi, vừa nhìn ngang dọc anh ta.

Creed di chuyển sang bên. Phía xa cánh cửa đóng bên trong có chuyển động gì đó lao xao làm Monk chú ý. Còn ở phòng ngoài, laị tập trung một đám mây gồm những con ong đang xôn xao.

“Cậu đã làm gì thế hả?” Monk hỏi.

Creed nhấc cánh tay lên. Trong tay anh ta là một hộc mắt lưới. “Tôi đã trộm con ong chúa.” Creed chỉ sang trái. “Tôi cũng đã bẻ gãy mối hàn tổ ong rồi.”

Monk cau mày. Từ một trong những chỗ nhốt ong xuất hiện một cột dày đặc những con ong sục sôi bay ra, chính là chỗ cái hộc từng đặt ở đó.

“Nhưng tại sao vậy chứ?” Monk hỏi.

Phía bên kia cánh cửa, lũ ong đã tụ họp thành bầy ngày càng đông.

“Chúng chắc chắn đã bị châu Phi hóa rồi,” Creed vừa nói vừa nhìn con ông chúa đánh cắp được. “Rất dữ tợn.”

“Ừ tuyệt thật đấy, nhưng lần nữa cho tôi hỏi - tại sao chứ?”

“Để giúp chúng ta trốn thoát chứ làm gì nữa.” Creed chỉ về phía cánh cửa bên trong phòng chờ. “Hãy mở nó ra khi tôi hô nào. Nhưng hãy nhớ nấp sau cánh cửa đó.”

Monk bắt đầu hiểu ra vấn đề. Anh liền chuyển chỗ với Creed, rồi nhảy qua cánh cửa trong của phòng chờ. Creed đứng chỗ cánh cửa cạnh hành lang, đồng thời quan sát bầy ong đang tụ tập.

Lúc này, lũ ong đã bu sát lớp cửa kiếng và tường phòng chờ, truy theo dấu con ong chúa. Tiếng vo vo ngày càng lớn làm Monk sởn cả gai óc.

Creed tiếp tục chờ đợi. Anh đặt chiếc hộc chứa con ong chúa xuống sàn nhà. Còn trong phòng kia, bầy ong bu lại ngày càng dày đặc làm phủ kín cả bóng đèn.

“Chuẩn bị sẵn sàng,” Creed nói khi đứng thẳng lên.

Monk chụp lấy nắm cửa.

Để gió khẽ thối qua tóc lần cuối, Creed quay sang cánh cửa, rồi mở tung nó ra. Monk bị chắn nên không thấy gì, nhưng anh nghe thấy tiếng có vẻ sửng sốt của mấy tên bảo vệ bên ngoài hành lang.

Creed bắt đầu tỏ ra tức giận, và tuôn ra một tràng mắng bọn họ bằng tiếng Nauy.

Khi bọn bảo vệ đang cố nghĩ xem liệu vị kỹ thuật viên mới này có phải là mối đe dọa hay không, thì Creed đã đá chiếc hộc lăn long lốc trên sàn về phía đám bọn chúng.

Nào!” anh hét lên.

Monk giật mạnh cánh cửa ra, rồi nấp sau đó.

Ngay tức thì bầy ong bay ào át vào phòng chờ như rất tức giận.

Creed nhảy lùi lại, kéo mở cửa rộng hết cỡ. Lúc này đường mở rộng đến chỗ con ong chúa, cả tổ ong như đám mây dày đặc túa vào hành lang. Hoảng sợ, một nhân viên an ninh đã nổ súng.

Thật là một sai lầm.

Monk đủ hiểu về loài ong bị châu Phi hóa này nên biết chúng rất nhạy cảm với tiếng động lớn.

Tiếng la hét thất thanh càng làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn.

Creed lao lên túm lấy tay áo khoác của Monk. Đến lúc trở ra rồi. Monk theo Creed bước ra cửa. Lúc này không cần phải rón rén chi nữa. Bốn tên bảo vệ đang quằn quại giữa lũ ong, bị châm đốt tập thể. Bầy ong tràn vào đầy miệng, leo lên cả mũi.

Monk và Creed chạy hết tốc lực dọc hành lang.

Một vài con ong tham vọng rượt theo họ. Monk bị chích vài lần, nhưng bọn chúng vẫn còn tụ tập gần con ong chúa của chúng. Nhờ sở hữu đôi chân dài, Creed chạy đến được cửa dẫn đến sảnh thang máy trước tiên. Anh xông thẳng qua. Monk qua sau, rồi đóng sầm cửa sau lưng mình.

Creed bấm nút thang máy, ngay lập tức cánh cửa hé mở. Thang máy vẫn còn ở tầng này. Họ bước vội vào trong. Không còn thời gian để lên chỗ máy chủ nữa, nên Monk đành bỏ qua nhiệm vụ chính yếu mà ấn nút đi xuống tiền sảnh luôn. Đã đến lúc phải rời khỏi nơi đây rồi. Creed không hề phản bác.

Monk liếc nhìn sang anh ta khi thang máy đang hoạt động.

“Làm rất tốt, cậu bé ạ.”

“Cái gì?” Anh ta chua chat cau có. “Thế tôi vẫn là cậu bé à?”

Monk nhún vai khi họ ra khỏi thang máy, và băng vội qua phòng giải lao phía trước. Anh không muốn để thành công của đứa trẻ người non dạ như vậy lởn vởn trong đầu. Khi họ bước trở ra màn đêm, chợt có giọng nói thầm thì trong tai anh nghe rất giận dữ và khẩn cấp.

“Monk, báo cáo đi nào.” Đó chính là Painter.

Monk chỉnh lại cái micro gắn trên cổ họng. “Thưa chỉ huy, chúng tôi đang đi ra đây.”

Có tiếng thở phào nhẹ nhỏm trong tai. “Còn nhiệm vụ thì sao?”

“Chúng tôi đã gặp một chút rắc rối với lũ ong.”

“Lũ ong ư?”

“Tôi sẽ giải thích sau, Chúng ta có nên hẹn gặp chỗ khách sạn cũ không?”

“Không. Tôi đang đi đến chỗ các anh đây. Tôi có dẫn theo một người nữa.”

Một người nữa sao?

“Có một thay đổi trong kế hoạch,” Painter nói. “Tình hình ở Oslo này có vẻ hơi căng thẳng rồi đấy. Chúng ta nhổ neo khỏi đây thôi, chuyển đến chỗ nào lạnh hơn một tí đi.”

Vẫn còn bị ướt như chuột lột từ trận tắm bọt sủi nên Monk cảm thấy đêm lạnh như băng này như thấu vào tận xương rồi. Còn muốn lạnh hơn nữa ư?

Khi băng qua khu cơ sở vật chất của tập đoàn này, anh hình dung ra cảnh Gray đang náu mình trong một cabin ấm áp, có ngọn lửa đang bập bùng trong bếp lò.

Một kẻ thật may mắn.

CHÌA KHÓA NGÀY TẬN THẾ James Rollins Bộ Sách: A Sigma Force Đánh Máy: Quách Thủy Tiên TVE-4u.org
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.