Washington, DC.
Họ đều có mặt tại văn phòng của Thượng nghị sĩ Gorman ở Đồi Hill.
Painter được xếp ngồi kế Tướng Metcalf. Còn phía bên kia cạnh ông, tiến sĩ Lisa Cumming đang ngồi bắt tréo chân.
Mũi giày cô cứ chạm nhè nhẹ vào chân ông. Tất nhiên là cố ys. Ông và Lisa đã rất lâu không gặp nhau. Và bây giờ cô mới trở về từ kì nghỉ, công việc lại dồn dập khiến cô thường xuyên mất ngủ vì gắng sức kiểm soát những vấn đề khủng hoảng y tế ở vùng Midwest. Vì vậy mà họ phải tận dụng hết những giây phút rảnh rỗi cùng nhau.
Metcalf tiếp tục báo cáo về việc sản xuất hợp chất kháng nấm. Painter cũng đã xem qua.
Thay vì ngồi nghe, ông ngắm nhìn bóng phản chiếu của cô bạn gái qua tấm kính cửa sổ đằng sau Thượng nghị sĩ. Tóc Lisa đượcc thắt bím mang đậm chất Pháp và hôm nay cô ăn mặc khá kín đáo để phù hợp với tính chất cuộc họp. Ông đang mơ đến cảnh được tháo những bím tóc ấy và tháo luôn những chiếc cúc áo của cô.
“Chúng tôi đã cho phun trên tất cả những cánh đồng,” Metcalf tiếp tục, “đảm bảo an toàn cho mười lăm dặm xung quanh mỗi khu vực. Thêm vào đó, EPA đã huy động quân đội quốc gia để giám sát và tiếp tục kiểm tra các mẫu thực vật trong bán kính ba mươi dặm.”
Gorman gật đầu. “Vậy là tất cả những cánh đồng nhiễm bệnh đều đã được phun thuốc và bảo vệ. Giờ chỉ còn hi vọng rằng chúng ta sẽ tiêu trừ sớm những mầm bệnh một cách triệt để.”
Lisa nói tiếp. “Nếu không, chúng ta sẽ vẫn sẵn sàng. Thử nghiệm trên những người tình nguyện đầu tiên đã thành công. Phản ứng phụ là không đáng kể. Một ca bệnh mới đây đã có chuyển biến tốt. Nó sẽ đem lại khá nhiều ích lợi cho ngành y về nhiều mặt. Trong khi chúng ta có một số lượng lớn thuốc kháng sinh mạnh, thì kho thuốc kháng nấm dành cho các trường hợp viêm nhiễm qua rễ cây đã phải bị giới hạn hoạt động vì đang gánh chịu một mức độ độc tố cao. Với việc hợp chất mới đã sẵn sàng để sử dụng –”
“Miễn phí,” Painter.
Cô gật đầu. “Chúng ta sẽ kiểm soát được đại họa này.”
“Nói về việc miễn phí,” Gorman nói. “Tôi đã đến gặp Ivar Karlsen sau khi ghé thăm công xưởng sản xuất thuốc Viatus.”
Điều này khiến Painter tập trung vào buổi họp trở lại. Karlsen đang bị nhốt trong nhà tù ở Nauy chờ xét xử, nhưng vẫn giám sát nhiệm vụ bằng chiếc di động. Như là để chuộc lỗi, người đàn ông này đã tình nguyện hiến toàn bộ khu nhà máy công nghệ sinh học để sản xuất hợp chất kháng nấm. Điều này giải thích vì sao mà trong một thời gian ngắn họ đã có thể sản xuất một lượng thuốc lớn đến như vậy.
Lisa đang cố gắng giải thích cho Painter về hợp chất kháng nấm có nguồn gốc từ một giống địa y được tìm thấy ở vùng nam Sahara,cấu trúc hóa học của nó tấn công vào nhóm chức steroid độc nhất nằm ở màng tế bào của nấm gây bệnh, khiến khả năng chữa bệnh của nó hữu hiệu và an toàn cho cả thực vật và động vật có vú.
Painter thả lỏng tâm trí lang thang sau những thông tin đó. Cái mà anh muốn biết bây giờ là nó có hoạt động hay không.
“Anh nên thấy xà lim nhốt ông ta,” Gorman nói. “Nó sang trọng như một phòng thượng hạng ở khách sạn Ritz.”
“Nhưng ông ta sẽ không trả phòng sớm đâu,” Painter thêm vào. Nếu có sớm, thì đó là do tuổi tác của ông ta.
Metcalf đứng dậy. “Nếu không còn gì ở đây, thì tôi phải trở về để trình bày vụ việc cho tổng hành dinh DARPA.”
Gorman đứng dậy và bắt tay ông. “Tôi biết ơn ngài rất nhiều. Nếu ngài cần bất cứ điều gì tôi sẽ giúp hết mình.” Những lời này hướng về Metcalf, nhưng khi thấy Gorman nhìn mình lúc đang nói, thì Painter biết thật ra nó là dành cho mình.
Sau những biến cố ở Nauy, họ đã buộc phải tiết lộ sự tồn tại của Sigma. Dù thế nào đi nữa thì vị Thượng nghị sĩ sẽ tiếp tục đào bới và có thể làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Painter cũng đã nhận ra hết sự bất thường trong những câu nói bóng gió có liên quan đến Sigma của các cơ quan săn tin. Ngay lúc này, những người săn tin đã ở ngay cửa nhưng cũng bị đuổi đi. Không hẳn là ông sẽ thoát khỏi những phiền toái này mãi mãi, nhưng nó cũng cho phép Painter thêm thảnh thơi để đảm bảo đầy đủ an toàn cho Sigma.
Và ông biết họ cần điều đó.
Tổ chức Guild sẽ tiếp tục săn đuổi họ.
Sau khi chào tạm biệt, Painter và Lisa đi cùng với Tướng Metcalf. Painter vẫn đang chờ câu trả lời của ông ta về một vấn đề hết sức nhạy cảm.
“Thưa ngài…” Painter cất lời, chỉ có ý muốn nhắc ông ta.
“Cô ta là vấn đề của anh,” vị tướng nói ngay. “Tôi không thể hủy bỏ lệnh bắt cô ta. Những tội ác mà cô ta đã gây ra thật không tha thứ được trên bình diện quốc tế. Cô ta sẽ phải sống ẩn dật, và lén lút, tôi có ý nói luôn việc cô ta có thể sẽ phải sống trong cống rãnh để trốn nếu cần thiết.” Metcalf nhìn qua ông. “Nhưng anh có nghĩ cô ta sẽ là một trợ thủ đắc lực không?”
“Tôi tin thế.”
“Vậy cũng được. Nhưng chỉ mình anh biết thôi đấy.”
Painter luôn luôn đánh giá cao những sự ủng hộ nhiệt tình như thế này. Metcalf chào từ biệt để tiếp tục một cuộc họp khác. Chỉ Painter và Lisa bước ra khỏi tòa nhà tắm mình trong ánh nắng buổi sáng.
Ông xem đồng hồ. Lễ tang sẽ bắt đầu trong một giờ tới. Ông vẫn còn đủ thời gian để tắm và thay đồ. Mặc dù hôm nay trời đẹp, nhưng trong ông mọi thứ thật ảm đạm. John Creed đã hi sinh để cứu ông. Cũng là vì ông đã khiến cho đội của mình gặp nguy hiểm thường xuyên, trong khi ông vẫn giữ một mức độ vô tư nhất định. Nó luôn là cách để giữ mọi thứ đúng mực, và ra những quyết định khó khăn.
Nhưng ông không thể giữ được sự vô tư ở đây.
Với Creed thì không thể.
Lisa đưa tay ra ôm lấy một cánh tay của Painter.
“Mọi thứ sẽ ổn thôi,” cô nói như hứa hẹn.
Ông biết cô nói đúng, nhưng sao nó chỉ khiến ông cảm thấy tệ hơn. Để quá khứ qua đi không có nghĩa là quên tất cả. Có những nỗi đau vẫn quanh quẩn đâu đó, chỉ nhạt nhòa chứ không mất đi.
Và ông sẽ không bao giờ muốn quên sự hi sinh của John.
Không bao giờ.
★ ★ ★
3h33 chiều
Monk lang thang trên những ngọn đồi ở nghĩa trang Arlington với Kat, tay trong tay, thu mình trong áo khoác dài. Một ngày mùa thu thật sống động với cây sồi to đang trong kì huy hoàng, với những chiếc lá đỏ. Lễ tang kết thúc một giờ sau đó. Nhưng Monk vẫn chưa muốn đi.
Kat cũng không nói gì.
Cô hiểu.
Tất cả mọi người đều có mặt. Thậm chí Rachel đã bay từ Rome sang cũng chỉ để dự lễ tang này. Nhưng cô phải quay về vào sáng ngày mai. Cô không muốn phải để chú cô ở lâu một mình. Vigor đã được xuất viện hai ngày trước, nhưng ông vẫn đang trong giai đoạn phục hồi.
Họ cứ đi chầm chậm, Monk và Kat đã lang thang một vòng và trở lại nơi mà họ đã bắt đầu. Mộ của John Creed nằm trên đỉnh đồi nhỏ bên dưới những tán cây sơn thù du, cành đã rụng hết lá như trơ xương dưới bầu trời xanh, nhưng khi mùa xuân đến chúng sẽ trổ đầy bông trắng.
Một nơi thật đẹp để yên nghỉ.
Monk muốn mọi người rời hết để anh có vài phút ở lại riêng với Creed, nhưng anh thấy có ai đó vẫn nán lại đó, hai tay ôm chặt lấy bia mộ. Dán vẻ rất đau khổ.
Monk dừng lại.
Đó là một người đàn ông trẻ mặc quân phục anh. Monk ngờ ngợ nhận là đã thấy anh ta trong đám tang. Người đàn ông cũng ngồi lặng im như bao người khác. Có vẻ như anh ta cũng muốn có thêm chút thời gian để nói lời từ biệt.
Kat khép chặt những ngón tay mình trên tay Monk. Anh quay lại nhìn cô. Cô lắc đầu và kéo anh đi. Monk nhìn cô đầy thắc mắc, cảm thấy cô biết điều gì đó mà anh không biết.
“Đó là “bạn” của John.”
Monk liếc nhìn lại phía sau và anh biết cô không có ý nói bạn ở đây là bạn đồng nghiệp. Anh đã không biết điều đó. Anh bất chợt nhớ lại cuộc chuyện trò mà anh đã từng có với Creed. Monk đã hỏi cậu ấy một cách true chọc về cái đã khiến anh buộc phải rời khỏi quân đội sau hai chuyến đi đến Iraq. Câu trả lời của Creed chỉ có hai từ.
Đừng hỏi.
Monk đã nghĩ Creed chỉ muốn bảo anh đừng bận tâm đến chuyện riêng của cậu ấy. Nhưng không nghĩ cậu ấy có ý muốn nói cái câu đó.
Không hỏi, không nói. 1
1: Don’t ask, don’t tell (không hỏi, không nói): một thuật ngữ được bổ sung vào chính sách của quân sự Mỹ. Chính sách này cấm những ai “có biểu hiện xu hướng hay có xu hướng là người đồng tính” không được phục vụ trong quân đội Mỹ. Nó cấm những người đồng tính hay lưỡng tính không được tiết lộ xu hướng tình dục của mình. Bao lâu họ còn trong quân đội, họ buộc phải giữ kín điều này.
Kat giục Monk bước đi, không quấy rầy sự yên tĩnh một mình của người đàn ông ấy để anh ta có thể bộc lộ hết nỗi đau đớn vì mất đi người yêu. “Anh ta vẫn còn trong quân đội,” cô giải thích.
Monk bước đi. Bây giờ anh đã hiểu tại sao người đàn ông đó đã ngồi bất động đến như thế. Thậm chí bây giờ, anh vẫn đang phải đè nén tình yêu này vào tận sâu thẳm của nỗi đau. Chỉ có một mình mới giúp người đàn ông đó có thể nói lời từ biệt thật sự.
Kat ngả vào người anh. Anh quàng tay ôm cô. Họ đều biết suy nghĩ của nhau. Và họ không bao giờ muốn nói lời chia tay đặc biệt đó.
★ ★ ★
9h55 tối
Gray đứng dưới làn nước phun ra từ chiếc vòi sen. Anh nhắm mắt và lắng nghe tiếng không khí trộn lẫn với nước đang lạo xạo trong đường ống dẫn nước, sắp rời khỏi vòi nước.
Tuy nhiên, anh vẫn đứng đó, tận hưởng sự sảng khoái từ sức nóng của hơi nước. Anh duỗi các cơ bắp và mát xa chúng. Anh đã có một buổi luyện tập hăng say và bây giờ là giây phút thư giãn. Sau những cú đập và những vết bầm trên người, anh nên thận trọng hơn. Anh chỉ vừa mới cắt chỉ khâu vết thương ở tay được hai ngày.
Với một tiếng cách cuối cùng, nước trở lạnh nhanh chóng. Gray bước ra khỏi vòi nước, tiến đến chỗ chiếc khăn lông và làm khô mình trong sự ấm áp của hơi nước còn bốc trên người.
Một ít nước lạnh đã khiến anh nhớ lại cơn bão ở đảo Bardsey. Mới đây anh đã nói chuyện với cha Rye trên điện thoại, để chắc rằng Rufus vẫn đang thích nghi tốt. Gray cũng đã gọi để chắc rằng Owen Bryce đã lấy được tiền để trang trải phí tu sửa chiếc phà mà họ đã lấy trộm.
Cuộc sống thường nhật đang trở lại bình thường ở Bardsey sau một loạt cơn bão lớn.
Trên điện thoại, Gray cũng đã hỏi cha Rye về nữ hoàng da đen và tượng Đức mẹ da đen. Vị cha tốt bụng này chắc chắn biết ngọn ngành những kiến thức này. Gray cũng đoán chừng tiền cước điện thoại tháng này sẽ cao ngất trời. Tuy nhiên, anh đã biết một vài điều thú vị, cái mà một vài lịch sử gia tin rằng tượng Đức mẹ da đen phải có nguồn gốc từ việc thờ phụng thánh Isis, vị quốc mẫu của Ai Cập.
Nhưng sau vụ nổ ở dưới tu viện, tất cả những chứng tích đều đã bị hủy: quan tài kính, những thi hài, thậm chí cuốn sách tiên tri của Malachy.
Tất cả đều đã mất.
Và điều đó cũng hay. Tương lai tốt nhất hãy luôn là bí mật.
Nhưng những lời tiên tri của Malachy về các vị Giáo hoàng giờ đã bị bao trùm bởi màn sương huyền bí. Theo như chú của Rachel, Malachy đã đánh số tất cả Giáo hoàng có trong danh sách, ngoại trừ người cuối cùng, Petrus Romanus, người được tiên báo sẽ thấy ngày tận cùng của thế giới. Vị Giáo hoàng thuộc sách khải huyền này thì không được đánh số.
“Điều này gợi ý cho một vài học giả,” Vigor giải thích khi ông còn trên giường bệnh. “Điều đó có thể nói cho ta sẽ không biết thứ tự của vị Giáo hoàng cuối cùng nên ta cũng sẽ không rõ giữa Giáo hoàng hiện tại cho đến vị cuối cùng sẽ còn bao nhiêu vị nữa. Và nhờ đó mà thế giới này sẽ còn tiếp tục lâu hơn một chút.”
Gray chắc cũng hi vọng thế.
Lau người khô lần cuối, anh quấn khăn bông ngang thắt lưng và tiến về phòng ngủ. Và anh phát hiện mình không cô đơn.
“Anh nghĩ là em đã đi rồi,” Gray nói.
Cô nằm trên tấm drap trải giường, và để một chân trần đến hông. Cô duỗi người như một con sư tử cái yểu điệu, một tay đỡ đầu và hơi để lộ ngực. Cô chầm chậm kéo tấm chăn lên, thân mình vẫn được ẩn trong những nếp gấp và bóng tối - nhưng lời mời thì đã rõ ràng.
“Nữa sao?” anh hỏi.
Anh đá nhẹ một bên chân mày, theo sau đó là một nụ cười nửa miệng.
Gray thở dài, tháo chiếc khăn tắm và quăng nó một bên.
Việc đàn ông, làm đến bao giờ cho hết.