Lake District, Anh
Gray nhìn phương tiện di chuyển của mình một cách ngờ vực.
Con ngựa cũng nhìn lại, có vẻ ngờ vực giống anh, rồi dậm mạnh móng guốc.
“Giống ngựa con của vùng đồi đá đấy.” giáo sư Wallace Boyle cho biết khi đang làm việc giữa bầy ngựa. “Anh sẽ không tìm thấy được con ngựa nào thân thiện hơn trên địa cầu xanh này nữa đâu. Rất hoàn hảo cho đoạn đường đồi núi trập trùng phía trước. Chân khỏe và mạnh như bò vậy.”
“Ông gọi chúng là những con ngựa con ư?” Kowalski hỏi.
Gray hiểu được sự sửng sốt của đồng nghiệp mình. Giống ngựa đực lông đen bẩn thỉu kia để chở Gray to lớn cỡ mười bốn gang tay, và cao gần đến hơn một thước rưỡi chứ đâu ít. Nó thở phì phì vào khí lạnh, rồi cào móng vào lớp bùn đã bị đông cứng phân nửa.
“Này, hãy sẵn sàng đấy Pip ạ,” một tay chăn ngựa nói, khi buộc vòng dây tiếp theo lên yên ngựa.
Nhóm này đã lái xe rời Hawkshead một tiếng trước đây. Wallace đã dẫn họ đến nông trại nuôi ngựa nằm sâu trong dãy núi này. Rõ ràng cách duy nhất để khởi hành từ đây đến khu vực khai quật là đi bộ hoặc cưỡi ngựa. Wallace cũng đã gọi đến sắp xếp trước phương tiện di chuyển bằng ngựa cho đoàn.
“Chú ngựa con khu đồi đá có một truyền thống lâu đời ở vùng này,” ông tiếp tục nói khi mấy chú ngựa đang được cho ăn. “Những người Picts hoang dã đã sử dụng chúng để chống lại người La Mã. Mấy nông dân gốc Viking dùng chúng để cày bừa. Còn người Norman đến sau thì tập trung chúng thành bầy kéo than và chì.”
Wallace vuốt ve cổ chú ngựa thiến màu nâu của mình, rồi leo lên yên. Chú chó săn Rufus chạy nước kiệu qua mặt bầy ngựa, rồi nhấc chân đặt lên cột hàng rào. Sự ngờ vực ban đầu của Seichan đối với chú chó này dường như đã chấm dứt. Nó tránh xa khi cô ta lướt ngón chân đặt lên bàn đạp ngựa, rồi nhảy gọn lên một nàng ngựa trông có vẻ cứng cáp.
“Cô nên tha thứ cho Rufus,” Wallace phải giải thích lại hồi còn ở quán rượu. “Tính khí nó vậy đó. Tôi rất lấy làm xấu hổ nói cho cô biết nó hơi bị mù quáng. Mùa xuân trước, nó vừa mới cắn một sinh viên đã tốt nghiệp người Pakistan.”
Rachel đã tỏ vẻ hết sức kinh ngạc.
Seichan thì không biểu lộ gì hết. Cô ta chỉ nhìn chằm chằm con chó đó cho đến lúc đuôi nó hết ngúc ngoắc và lui lại sau bóng chủ mình. Sau đó, cô ngồi vào bàn cùng mọi người.
Đã bị nhận diện, nên Rachel đã nói ra dự định thật của họ cho Wallace biết, tuy vẫn còn giấu một vài chi tiết. Đó là không nhắc đến ngón tay ướp.
Vị giáo sư nhã nhặn lắng nghe, rồi khẽ nhún vai. “Đừng lo, cô gáiTôi không gây hại với bí mật của cô đâu. Nếu có thể giúp cô tóm được kẻ đã tàn nhẫn giết hại Marco và khiến chú của cô phải vào viện như vậy, tôi sẵn lòng.”
Thế là họ lên đường.
Nhưng cho đến tận lúc này, vẫn còn một chặng đường dài phía trước phải vượt qua.
Gray leo lên lưng con ngựa đực tên Pip, và sau một hồi đi loanh quanh, họ đã rời khỏi nông trại và tiến về trước. Giáo sư Boyle cưỡi ngựa đi trước dẫn đường. Họ nối đuôi nhau từng người một leo lên con đường ngoằn ngoèo.
Đã lâu rồi Gray chưa cưỡi lên lưng ngựa. Phải mất khoảng một dặm anh mới cảm thấy thoải mái để bắt nhịp cùng chú ngựa của mình. Xung quanh anh, khu đồi đá nước Anh càng ngày càng leo cao hơn và tụ lại sát hơn. Phía xa xa, chỏm núi phủ tuyết cao nhất nước Anh, Scafell Pike, chiếu ánh lửa cuối cùng khi mặt trời khuất bóng.
Khi họ di chuyển, một không gian lạnh lẽo im ắng bao trùm lấy khu đồi cao này. Chỉ nghe mỗi tiếng tuyết rọt roạt dưới vó ngựa. Gray phải thừa nhận rằng dự tính của Wallace về mấy con ngựa của họ là không ngoa chút nào. Con Pip biết mình phải đặt móng chân xuống đâu, ngay cả trong tuyết trắng. Dù xuống dốc, nó vẫn không trật chân mà vẫn giữ thăng bằng.
Thêm hai dặm nữa, lối đi đủ rộng để Gray nép ngựa của mình đi cạnh Rachel và Seichan. Hai người này đang thì thầm với nhau.
Khi Gray nhập cuộc, Rachel đang cố mở lấy chai nước nhựa. Seichan để ý thấy cô khó nhọc nên đã buông dây cương đến giúp. Vừa điều khiển ngựa bằng chân, cô ta vửa mở cái bi đông rồi tháo nắp ra.
“Trà nóng đó,” Seichan nói, rồi đưa một tách mời Rachel.
“Cảm ơn.” Rachel hớp một ngụm, hơi nóng như tắm khuôn mặt cô. “À, tốt lắm, nó làm cô ấm lại rồi đó.”
“Đây là một hỗn hợp thảo mộc do tôi chế ra đấy.”
Rachel gật đầu cám ơn lần nữa khi cô uống cạn tách tra và đưa lại cái tách.
Phía trước, Kowalski ngồi rũ xuống trên yên, nửa muốn ngủ gật, đầu anh ta cứ gật gù, tin rằng chú ngựa của mình vẫn theo gót ngựa của Wallace.
Họ cưỡi ngựa xuyên qua một khu rừng thưa thớt những cây sồi và cây tổng quán sủi, phía trên một đám dương xỉ diều hâu trong khung cảnh mặt đất phủ tuyết và dòng suối bị đóng băng. Gray mừng thầm vì được đủng đỉnh trên lưng ngựa chứ không phải cuốc bộ. Không như con Rufus, có vẻ như rất vô tư khi phóng nước kiệu sát bên họ, nhảy lò cò từ đồi này sang đồi kia xuyên qua khu vực tẻ nhạt. Bầu không khí ngày càng lạnh hơn khi mặt trời lặn dần.
“Anh nghĩ còn bao xa nữa?” Rachel hỏi. Giọng cô the thé. Chắc là do không khí im ắng lạnh lẽo của khu này gây ảnh hưởng.
Gray lắc đầu. Wallace đã từ chối không cung cấp thêm thông tin nào nữa ngoài câu “xa tít tận vùng sâu trên núi đá ấy.” Thế nhưng, Gray cũng không cần lo lắng để tìm cách quay lại đường cũ. Trước khi họ khởi hành, anh đã kích hoạt một thiết bị định vị toàn cầu để trong túi. Nó dẫn lối và định hướng cho họ.
Rachel rút sâu hơn vào chiếc áo khoác dày cộm của mình. Hơi thở cô phà vào không khí lạnh. “Lẽ ra chúng ta nên đợi đến sáng hẵng đi.”
Seichan nói giọng trống rỗng. “Không được. Nếu có bất kỳ manh mối nào nằm ở đó, thì chúng ta phải tiếp cận càng sớm càng tốt.”
Gray đồng ý. Giá mà lúc này có một đống lửa bập bùng thì hay biết mấy. Thế nhưng, anh nhận thấy đôi môi Seichan vẫn căng mọng. Cô ta đang dõi mắt về phía trước.
Lùi lại phía sau, Gray tận dụng khoảnh khắc này để quan sát hai người phụ nữ. Hai người hoàn toàn đối lập nhau. Rachel cưỡi ngựa dễ dảng, có vẻ thong dong nhưng ở luôn tư thế sẵn sàng. Cô dành phần lớn thời gian quan sát xung quanh, thu tất cả vào tầm mắt. Trong khi đó, Seichan phi ngựa cứ như sắp lâm trận vậy. Thật sự, cô ta là một tay cưỡi ngựa có hạng, nhưng anh lại để ý cách cô ta sửa ngay cả những bước hụt nhỏ nhất của chú ngựa, cứ như là mọi thứ phải nhún nhường trước ý chí của cô ta. Cũng giống như Rachel, cô ta nhìn mọi thứ xung quanh, nhưng là ánh nhìn sắc nhọn, đầy toan tính.
Tuy có khác biệt như vậy, nhưng cả hai lại có những điểm khá giống nhau. Mỗi người đều rất cứng cỏi, tự tin và thích thử thách. Và đôi khi, họ có thể làm anh bị hút hồn chỉ với một cái nhìn thoáng qua.
Gray cố gắng không chú ý hai cô gái nữa khi anh nhận ra rằng còn một điểm chung nữa giữa hai người. Đó là anh sẽ không có tương lai với bất cứ người nào cả. Anh đã khép lại cuộc tình với Rachel từ lâu, và tốt hơn hết là không nên bắt đầu một chương mới với Seichan.
Miên man trong suy nghĩ của riêng mình, cả đoàn tiếp tục lặng lẽ băng qua dãy núi. Một tiếng nữa trôi qua, đoạn đường trở nên dựng đứng, lởm chởm đá, băng tuyết, và những vạt rừng đen. Cuối cùng, họ cũng đã leo lên hết dốc, phía trước xuất hiện một thung lũng trũng sâu. Lối đi xuống dốc hun hút.
Wallace ra hiệu mọi người tạm dừng lại. “Gần tới đó rồi,” ông nói.
Dưới bầu trời hanh khô lưa thưa ánh sao, thật khó để họ cưỡi ngựa đi trong bóng đêm. Một cánh rừng âm u bao trùm lấy thung lũng.
Nhưng đó chưa phải là tất cả.
Đối lập với bức tranh u tối đó là vài đốm sáng đỏ rải rác khắp khu rừng, như những khu lửa trại bé xíu. Ban ngày chắc sẽ khó thấy được.
“Những đốm lửa dưới đó là gì vậy?” Gray hỏi.
“Những đám lửa than bùn đấy,” Wallace đáp, vừa thổi hơi ấm vào lòng bàn tay đeo găng của mình để xua đi băng tuyết bám ở chòm râu. “Phần lớn khu đồi đá này được bao phủ bởi một lớp than bùn. Gần như là một bãi lầy.”
“Vậy trong tiếng Anh sẽ gọi là gì?” Kowalski thắc mắc.
Wallace giải thích, nhưng Gray đã rất rành về than bùn rồi. Đó là sự tích tụ những loài thực vật phân hủy như: thân cây, lá, rêu, nấm. Chúng chất thành đống tạo thành đầm lầy. Những thứ còn sót lại rất phổ biến ở những nơi sông băng đã tan chảy và mở ra khung cảnh đồi núi, như tại nơi Lake District này đây.
Wallace chỉ xuống thung lũng. “Phía dưới là khu rừng mọc lên từ một trong những bãi than bùn của vùng. Từ đây, nó trải dài ra đến tận hàng ngàn mẫu. Còn hầu hết những tàn tích than bùn trong vùng chỉ dày khoảng 3 mét. Thung lũng này có nhiều nơi ngập sâu gấp mười lần vậy. Đó là vùng đầm lầy rất cổ xưa đấy.”
“Còn đốm lửa thì sao?” Rachel hỏi.
“Ấy chà, đây lại là một điểm nổi trội của than bùn,” Wallace nói. “Nó cháy được. Người ta khai thác nó để làm nguồn chất đốt kể từ khi đến đây sinh sống, như để nấu nướng, đun nóng. Tôi ngờ rằng những ngọn lửa tự nhiên như ở dưới kia đã gợi cho cha ông ra ngày xưa ý tưởng bắt đầu đốt đất mùn đỏ.”
“Mấy đám lửa dưới thung lũng này đã được đốt lên từ bào lâu rồi?” Gray hỏi.
Wallace nhún vai. “Không rõ nữa. Từ ba năm trước, khi tôi tới đây lần đầu thì chúng đã cháy âm ỉ rồi. Nó từ từ lan xuống lòng đất nên rất khó mà dập tắt. Nó sẽ cháy mãi, cháy mãi, và được tiếp sức bằng nguồn nhiên liệu vô tận. Những đám lửa than bùn được biết đến đã cháy hàng thế kỷ nay.”
“Chúng có nguy hiểm không?” Rachel hỏi.
“Ôi, cô gái ạ. Cô phải cẩn thận từng bước một. Đất thì trông có vẻ cứng, thậm chí còn phủ thêm lớp tuyết nữa, nhưng ở bên dưới, chỉ cách vài thước là một lò lửa khủng khiếp gồm những túi lửa than bùn và các dòng sông lửa.”
Wallace đánh gót vào hông ngựa và bắt đầu phi xuống thung lũng. “Nhưng cũng đừng lo. Tôi biết có lối đi an toàn. Đừng đi rải rác một mình là được rồi. Bám sát tôi đấy.”
Không một ai lên tiếng. Ngay cả con Rufus cũng di chuyển đến gần bên chủ mình hơn. Gray lôi ra thiết bị định vị kiểm tra xem nó vẫn ghi nhận đúng theo lộ trình hay không. Trên màn hình nhỏ xíu là một bản đồ địa hình. Một dòng những chấm đỏ đánh dấu đoạn đường họ vừa đi qua. Cảm thấy hài lòng, Gray bỏ thiết bị trở vào túi áo.
Anh thấy Seichan nhình mình chằm chằm. Khi bị bắt gặp, cô ta vội quay mặt đi.
Wallace dẫn họ men theo lối đi ngoằn ngoèo vào thung lũng. Những hòn đá nhỏ và lớp đất vỡ vụn tạo thành một con dốc không chắc chắn lắm, nhưng Wallace đã chứng minh lời nói của mình. Ông đã dẫn họ an toàn đi xuống đáy thung lũng.
“Từ đây hãy bám theo dấu vết,” Wallace cảnh báo và bắt đầu đi.
“Dấu vết nào cơ?” Kowalski lẩm bẩm.
Gray hiểu được sự phân vân của đồng nghiệp. Phía trước trải ra một mảnh đất phủ đầy tuyết. Những vật thể duy nhất là những ụ cây thạch nam và một đám đá cuội phủ địa y trông như một đống đá khổng lồ lộn xộn. Ở phía xa bên trái, có đốm sáng màu hồng sẫm chiếu lên từ lớp đất đen, viền ngoài là mảng rêu nước màu xanh lá. Khói bay là là trên nền tuyết trắng. Không khí lạnh thoang thoảng mùi thơm giông giống mùi của thịt lợn nướng.
Wallace hít vào thật sâu. “Tôi nhớ nhà quá,” ông nói, có vẻ gấp gáp khi thở ra, giọng nói đặc hơn. “Không gì bằng mùi than bùi cháy đi kèm với một hớp rượu whiskey của Scotland hết.”
“Thật vậy hả?” Kowalski ngẩng đầu lên, mũi hỉnh lên ngửi.
Wallace đã dẫn họ đi vào một con đường quanh co giữa những tảng đá cuội to lớn. Dù đưa ra cảnh báo, nhưng trông ông ta không lo lắng lắm. Hầu hết đám lửa đều nằm ngoài rìa thung lũng. Một vài đốm khác nằm tít trên những ngọn đồi cao hơn. Gray biết rằng những điểm nóng như vậy thường khởi đầu từ những đám lửa tự nhiên cháy dưới lớp bề mặt, rồi âm ỉ cháy trong nhiều năm. Ngoài rìa của những tàn tích than bùn đó là điểm dễ thâm nhập nhất.
Phía xa khu đất mở rộng, xuất hiện bức tường âm u của khu rừng. Mấy nhánh cây nặng trĩu tuyết phản chiếu ánh sao, nhưng phía dưới lùm cây, đường tối đen như mực. Wallace đã phòng trước. Cúi người xuống, ông bật chiếc đèn lồng cột sát yên ngựa. Như ở trong một hang động, ngọn đèn lẻ loi rọi một khoảng xa.
Họ nối nhau tiến thẳng vào rừng. Không khí bớt mùi khói. Khu rừng xen lẫn nhiều loại cây như cây mía, bulô, và thông cùng với những cây sồi đồ sộ hành chục năm tuổi. Thân cây lắm mấu, nhánh thì vẫn còn bị một lớp lá vàng khô bám đầy. Mấy quả dầu rụng rải rác trên nền tuyết, giải thích cho lý do lũ sóc cứ lập cập bay nhảy trên đường đi.
Gray thấy có gì đó lớn hơn đang hối hả, chạy thấp dưới mặt đất.
Con Rufus lao tới đó, nhưng Wallace lại hét lớn. “Mặc kệ nó! Nó sẽ làm tróc da mũi chú mày ngay đấy.”
Kowalski đánh ngựa đến gần bên người đàn ông đang cầm súng săn.
“Có rất nhiều gấu trong sở thú,” Wallace mỉm cười rồi nói tiếp. “Nhưng chẳng còn con nào tồn tại ngoài tự nhiên kể từ thời Trung cổ.”
Kowalski quắc mắt lườm người đàn ông nọ vì đã hù dọa anh, nhưng ông ta không hề lay động.
Họ tiếp tục băng qua khu rừng già trong khoảng nửa tiếng. Di chuyển trong bóng đêm làm Gray hoàn toàn mất phương hướng. Khu rừng dày đặc che khuất các cột mốc.
Cuối cùng họ cũng đã ra khỏi khu rừng, một khung cảnh khác mở ra trước mắt. Ánh sao rọi sáng một thung lũng lòng chảo khá cạn chỉ rộng chừng một mẫu. Cỏ và cây dương xỉ diều hâu trồi lên khỏi mặt tuyết bao phủ thung lũng, cùng với những gốc cây đã bị đốn hạ để mở rộng khu vực.
Nó không được đánh dâu bằng cách khác - nhưng không hề rỗng tuếch.
Ở một bên, có hai cabin trại tối đen. Giàn khung nặng nề trải ra trên hệ thống bằng thép. Bên cạnh chúng là khu than bùn bị khai quật được chất thành hình kim tự tháp cỡ nhỏ, sẵn sàng để làm chất đốt sưởi ấm cho hai cabin. Nhưng không có ai ở đây cả. Trong những tháng mùa đông, khu này bị bỏ hoang do tuyết rơi dày đặc, rất nguy hiểm.
Tuy nhiên, khu trại tối tăm không phải là điều gây chú ý cho mọi người. Gray nhìn chằm chằm thung lũng lòng chảo. Khu vực khai quật được đánh dấu bằng những sợi dây màu vàng giăng ngang dọc cả một vùng thành một hệ thống đường dây. Như thể bị mắc vào mạng lưới dây này, mấy tảng đá khổng lồ trồi lên khỏi mặt đất xếp theo hình vòng tròn. Mỗi tảng đá cao gần gấp đôi Gray. Cứ trên đầu mỗi hai tảng đá thì có một thanh đá lớn, tạo thành một cổng vào vòng trong đó.
Gray nhớ lại lời mô tả của Wallace về những địa điểm thuộc thời kỳ Đồ đá mới nằm rải rác khắp vùng. Rõ ràng là họ đã tìm thấy một điểm mới, vốn đã bị lãng quên từ rất lâu trong khu rừng đầm lầy này.
“Trông giống như một Stonehenge1 thu nhỏ vậy,” Kowalski nói.
1: Stonehenge: một công trình được xây dựng từ thời kỳ đồ đá ở Anh, khoảng 2500-2000 năm trước Công nguyên, bao gồm các công sự bằng đất bao quanh một vòng đá. Đây là một trong những địa điểm tiền sử nổi tiếng thế giới.
Wallace tuột xuống khỏi yên ngựa, nắm lấy dây cương. “Khu này lâu đời hơn Stonehenge rất nhiều.”
Mọi người đều rời yên ngựa. Có một bãi giữ ngựa dã chiến gần cabin. Họ dắt ngựa đến, tháo yên và xoa mình ngựa. Kowalski đi lấy nước ở con suối gần đó.
Rồi Wallace giải thích về những điều khám phá được, về cách mà những manh mối trong Sổ Điền thổ đã dẫn ông tới được đây, đến một nơi được đánh dấu bằng chữ Latinh là bỏ hoang. “Tôi không hề tìm thấy được bất kỳ dấu vết nào của thị trấn. Chắc hẳn nó đã bị san bằng. Nhưng trong một chuyến đi săn, tôi tình cờ phát hiện ra vòng tròn đá này. Nó đã bị chôn phân nửa dưới lớp than bùn. Một con mắt nghiệp dư sẽ dễ dàng nhìn lầm chúng với những tảng đá cuội bình thường, đặc biệt khi bị địa y và rêu mốc bao phủ. Nhưng mấy tảng đá này thuộc loại đá xanh không phải xuất phát từ vùng đồi đá của địa phương.”
Ông nói với vẻ đầy phấn khích. Cột mấy chú ngựa xong, Wallace dẫn họ đến vòng tròn đá. Ông mang theo chiếc đèn lồng. Gray cũng tháo chiếc đèn pin ra khỏi yên ngựa. Cả nhóm leo qua mấy sợi dây và bước đi lạo xạo qua lớp tuyết sâu đến mắt cá chân. Vòng tròn đá nằm trên một bãi đất bị đào xới. Suốt nhiều năm qua, đội khảo cổ đã liên tục đào lớp than bùn khỏi mấy tảng đá.
“Mấy tảng đá đã bị lấp phân nửa khi tôi tình cờ phát hiện. Trọng lượng khủng khiếp đã làm chúng lún sâu xuống lớp tạp chất hình thành qua biết bao thiên niên kỷ.”
“Thiên niên kỷ sao?” Rachel hỏi. “Nơi này có tuổi thọ bao lâu rồi?”
“Tôi đã định tuổi cho nó vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên, cùng thời của Stonehenge. Thời điểm đó tương ứng với thời kỳ những người khai phá đầu tiên đến chiếm đóng đảo quốc Anh. Để cho các vị dễ hình dung, đó là vào một ngàn năm trước khi xây dựng Kim tự tháp.”

Khi họ đến gần vòng tròn âm u, Gray rọi đèn vào cột đá gần nhất. Loại bỏ lớp rêu và địa y bên ngoài, thì đây đích thực là một tạo tác. Nghệ thuật khắc đá thô đã được dùng để tạc vào bề mặt Gray đang trông thấy. Lớp khắc bao phủ toàn bộ bề mặt - nhưng đều có cùng một chủ đề.
“Vòng xoắn ốc,” Gray lầm bầm, làm Rachel chú ý.
Cô bước đến gần, Wallace cũng vậy.
“Đây là một ký hiệu thần thánh rất phổ biến,” vị giáo sư nói. “Biểu tượng cho chuyến hành trình của tâm linh. Mẫu vật này gần như là bản sao của dấu hiệu trên đá được tìm thấy ở Newgrange, một phức hợp lăng mộ thời tiền Xentơ ở Ireland. Newgrange xuất hiện từ khoảng 3200 năm trước Công nguyên, cùng tuổi với vòng tròn này, cho thấy đây chính là do dòng tộc đó xây nên.”
“Người Druid hả?” Kowalski hỏi.
Wallace phát cáu. “Trời, cậu học lịch sử thế hả, chàng trai trẻ? Druid là những linh mục thuộc tộc người Xentơ. Phải hơn 3000 năm sau họ mới xuất hiện.” Ông vung tay bao quát lấy vòng tròn đá thời Tân đồ đá. “Đây là công trình do tộc người đến lập nghiệp sớm nhất ở đảo quốc Anh này, một dân tộc đã có mặt ở đây từ rất lâu trước cả người Xentơ và Druid nữa.”
Kowalski đành chịu thua trước sự phê bình lỗ hổng kiến thức của mình.
Wallace thở dài. “Nhưng tôi hiểu vì sao hầu như ai cũng phạm phải lỗi này. Người Xentơ tôn sùng bộ tộc đã thất lạc này, và tin rằng họ là thần thánh, thậm chí đưa nền văn hóa của họ vào cuộc sống của mình. Họ tôn thờ những cuđịa điểm cổ xưa này, đưa cả vào thần thoại, cũng như tin rằng những bãi đá cổ là nơi trú ngụ của các vị thần. Thật ra, thứ được xem là nghệ thuật cao của người Xentơ ngày nay là dựa trên các điêu khắc thần cổ. Rốt cuộc, mọi thứ đều bắt nguồn từ đây.” Wallace chỉ vào mấy tảng đá cao chót vót. “Nhưng vẫn còn câu hỏi lớn hơn chưa được giải đáp, vậy ai là người xây nên những vòng tròn cổ xưa này?”
Gray cảm thấy Wallace phấn khích dâng cao. Trông cứ như ông ta còn có rất nhiều điều để nói, điều mà ông vẫn còn giữ lại, cứ như nhà quảng cáo vậy. Nhưng trước khi ông kịp nói tiếp thì Rachel đã ngắt lời.
“Ông nên lại xem thứ này.”
Cô đã đi vòng quanh phía xa của bãi đá và đứng vào trong vòng. Tay cô chỉ thẳng lên bề mặt đá ở phía đó.
Gray và mấy người khác bước qua dây đến bên cô. Anh giơ đèn pin lên. Chỉ có một biểu tượng duy nhất được khắc vào bề mặt đá đó. Anh xoay đèn pin chiếu sang những tảng đá khác dựng bên kia - có tổng cộng mười hai cái như vậy. Mỗi mặt đều được đánh dấu cùng một ký hiệu.

“Vòng tròn ngăn bốn,” Gray nói.
Wallace gật đầu đồng tình. “Giờ thì anh đã biết tại sao tôi lại quả quyết rằng quyển nhật ký của học giả thời Trung cổ, Martin Borr, có liên quan đến nơi này. Dấu hiệu này ông vẽ trong hành trình của mình.”
Gray quay sang một vòng tròn ở dưới thấp.
Tất cả những thứ này có ý nghĩa gì đây?
Nhìn lại tảng đá đầu tiên, Gray suy ngẫm về tầm quan trọng của nó. Những đường xoắn ốc ở một mặt, còn một chữ thập thần thánh ở mặt kia. Anh nhận ra nó cùng mẫu với hai biểu tượng được đốt cháy vào chiếc túi da: một mặt in hình xoắn ốc, mặt kia là chữ thập.
Gray quay sang Rachel. Anh đọc được suy nghĩ tương tự trong ánh mắt cô. Anh cũng biết cô đang nghĩ gì. Nếu họ muốn tìm được đáp án, thì đã đến lúc phải nói hết sự thật với giáo sư Wallace Boyle.
★ ★ ★
8h42 tối
Wallace nghiên cứu vật tạo tác. Ông ngồi cạnh một chiếc bàn nhỏ dựng ở một trong hai khoang lều, chiếc đèn lồng treo nơi cổ tay. Rachel ngồi cạnh, cầm một tách trà để sưởi ấm tay mình. Đây cũng là tách cuối cùng từ bình thủy của Seichan. Cô hớp trà, cảm nhận được độ nóng cùng vị đắng của nó. Lẽ ra có thêm một viên sữa kem sẽ tốt hơn, nhưng trà đã giúp cô chống lại cơn lạnh.
Cả nhóm đã ở ngoài trời giá lạnh gần hai tiếng đồng hồ để chụp hình, đo đạc, ghi nhận mọi thứ ở đây. Nhưng mọi chuyện sẽ đi đến đâu?
Rachel nhìn về phía Gray. Khi bắt tay vào việc, Gray trầm tư hẳn. Hiểu anh hơn ai hết, cô biết anh đang gặp rắc rối, chính là lúc anh cảm thấy vẫn còn thiếu một manh mối nào đó. Cô còn có thể đọc được những tính toán trong đầu anh, biết cả những nghi vấn trong tâm trí anh.
Chính là khu vực này có gì lại quan trọng đến thế?
Seichan ngồi sát bên Gray. Suốt buổi làm việc hôm nay, cô ta đóng góp rất ít như thể cô để mặc họ giải quyết câu đố này vậy. Giờ thì tất cả họ đều ngồi chờ nhận định của giáo sư. Có hai chiếc giường tầng chiếm nữa khoang lều đặt ở phía sau. Kowalski nằm ườn ra trên một trong những chiếc giường, tay che ngang mắt tránh ánh đèn. Chắc chắn rằng anh chàng này còn thức vì không nghe tiếng ngáy vang lên trong lều.
“Tôi không biết phải làm sao với thứ này đây,” cuối cùng Wallace phải lắc đầu thốt lên. Ông cầm chiếc túi da trong tay. Ông đã xem xét kỹ ngón tay ướp. “Tôi không biết Marco tìm thấy thứ này ở đâu nữa, cũng không hiểu tại sao có kẻ muốn giết ông ấy vì vật này.”
“Vậy thì hãy quay lại từ đầu,” Gray nói. “Tại sao cha Giovanni lại đến đây lần đâu? Ông ấy hy vọng đạt được gì khi đến thăm vùng này.”
“Chính là những cái xác,” Wallace lầm bầm, tay vẫn cầm chiếc túi.
Rachel ngồi thẳng lên. “Những cái xác? Những cái xác nào cơ?”
Cuối cùng, Wallace cũng đặt chiếc túi xuống, rồi ngồi tựa ra sau ghế. “Mọi người phải hiểu rằng người Xentơ cổ và những vị linh mục Druid từ xa xưa rất sùng bái khu đầm lầy than bùn. Họ sẵn sàng chôn vùi những vật thờ cúng xuống nơi này. Cũng chính nơi đây được xem là kho tàng khảo cổ gồm những thứ như gươm, vương miệng, trang sức, gốm, thậm chí cả cỗ xe ngựa nữa. Ngoài ra cũng không loại trừ các bộ hài cốt con người.”
Vị giáo sư để mọi người tiếp tục suy nghĩ, trong lúc đó ông đứng dậy và bước đến bên cái lò than bùn nhỏ trong lều để sưởi ấm tay. Ông hất hàm về phía lò. “Than bùn là cội nguồn của sự sống, thế nên phải trân trọng nó. Và thường thì thái độ thành kính thể hiện qua sự hi sinh. Người Xentơ sẽ giết chết các nạn nhân, rồi ném xác vào khu đầm lầy than bùn này để tế thần linh.” Ông quay mặt nhìn lại phía bàn. “Thế là những thứ được chôn vùi trong đầm lầy đều được bảo quản nguyên vẹn qua thời gian.”
“Tôi không hiểu lắm,” Rachel nói.
Thấy thế Gray mới giải thích. “Môi trường acid và thiếu khí oxygen trong than bùn sẽ ngăn chặn quá trình phân hủy.”
“Ái chà. Ngay cả những lọ mơ tìm thấy trong đầm hàng trăm năm trước vẫn còn tươi mới và ăn được.”
Kowalski cay cú làu bàu, rồi lăn người sang bên. “Nhớ nhắc tôi đừng ngủ nướng ở nhà ông đấy nhé.”
Wallace không thèm để ý đến anh ta. “Tương tự như vậy, các thi thể cũng được bảo quản. Chúng được gọi là xác ướp đầm lầy. Trong đó, nổi tiếng nhất là xác ướp của Tollund Man được khai quật ở Đan Mạch. Thi thể ông được bảo quản hoàn hảo đến nỗi trông cứ như ông ta vừa bị ngã vào vũng bùn mới hôm qua. Da, lục phủ ngũ tạng, tóc và lông mi đều không bị sứt mẻ tí nào. Ngay cả dấu vân tay của ông ta còn có thể nhận biết rõ nữa. Phân tích pháp y cho thấy ông ta đã bị treo cổ theo nghi lễ. Vòng dây thắt gút vẫn còn tròng quanh cổ ông. Và chúng ta biết được rằng chính những linh mục Druid đã sát hại ông do trong dạ dày của người này đầy ắp cây tầm gửi, một loài cây rất thiêng liêng đối với các linh mục tộc Xentơ.”
“Thế ông đã tìm được một xác ướp ở đây rồi à?” Gray hỏi.
“Thật ra là hai. Một phụ nữ và một đứa bé. Chúng tôi phát hiện khi đang khai quật vòng tròn đá này. Họ nằm ở giữa, co quắp vào nhau mà chết.”
Lúc này, Seichan mới mở lời đặt câu hỏi đầu tiên. Ánh mắt cô ta nhấp nháy với Rachel, rồi lại quay sang hướng khác ngay. “Họ bị đem tế sống ư?”
Wallace tỏ vẻ phấn khích với câu hỏi của cô ta. “Đó cũng chính là điều chúng tôi đang nghi vấn. Ngày nay, mọi người đều đồng tình rằng những vòng tròn đá là lịch mặt trời, nhưng đây cũng là khu mồ chôn nữa. Vậy địa điểm này phải rất linh thiêng. Bởi có một vòng tròn đá bao xung quanh một đầm lầy thần thánh. Chúng ta phải tìm hiểu xem đây liệu là một vụ mai táng tự nhiên hay là một vụ giết người.”
Trong câu nói cuối cùng này thoáng có chút day dứt tội lỗi.
“Theo yêu cầu, chúng tôi bắt buộc phải giữ nguyên mấy cái xác và gửi trọn về trường đại học, nhưng chúng tôi cần phải biết. Tuy không hề có vòng dây nào quanh cổ mấy thi thể, nhưng vẫn còn cách khác để phát hiện xem đây có đúng là vụ tế thần hay không?”
Rachel hiểu ra vấn đề. “Cây tầm gửi trong dạ dày.”
Wallace gật đầu. “Chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều tra nhỏ. Chúng được ghi nhận rất kỹ. Có lẽ tôi nên nói thêm.” Ông đến bên chiếc ba lô, mở dây kéo lấy ra một tập hồ sơ. Vừa nhún vai, ông vừa quay lại bàn. “Tôi không định lưu một bản sao.”
Ông lựa trong đó để lấy ra một bộ hình. Một tấm chụp cảnh người phụ nữa và một đứa trẻ nằm co quắp lẫn trong đất đen. Người phụ nữ ôm đứa con trong tay. Họ chui rúc vào nhau như thể đang ngủ quên vậy. Cơ thể gầy mòn hốc hác, nhưng mái tóc đen của bà vẫn rủ xuống khuôn mặt. Tấm kế tiếp cho thấy người phụ nữ nằm trần truồng trên bàn. Có một bàn tay đang cầm con dao mổ trong hình.
“Trước khi gửi cái xác về trường, chúng tôi muốn tìm hiểu xem liệu có cây tầm gửi nào trong bụng bà ta không. Đây là một vi phạm nhỏ.”
“Vậy ông có tìm thấy gì không?” Rachel hỏi, chợt thấy bất an.
“Không. Nhưng chúng tôi lại phát hiện ra thứ khác hơi làm xáo trộn. Nếu dạ dày cô không tốt lắm thì đừng nên xem.”
Rachel cố gắng bình tĩnh để xem tiếp.
Tấm hình tiếp theo chụp một vết rạch ở bụng hình chữ Y. Bụng mở toan ra để lộ các cơ quan nội tạng. Nhưng có điều gì đó bất thường. Wallace đưa ra tấm tiếp nữa, cho thấy cận cảnh một lá gan vàng vọt. Khối u lồi lên bề mặt che phủ lá gan trông thật kinh tởm.
Wallace giải thích. “Chúng tôi phát hiện chúng phình lên khắp khoang bụng của bà ta.”
Rachel bụm miệng lại. “Liệu có phải như tôi nghĩ không hả?”
Wallace gật đầu. “Chúng là nấm.”
Cảm thấy choáng váng và ghê tởm, Gray ngồi lùi lại. Anh cố hiểu xem chuyện gì đang xảy ra, những gì đã được khám phá ở đây. Anh cần khoanh vùng một nơi nào đó để đưa ra nghi vấn, thế là anh quay lại điểm khởi đầu.
“Hãy trở lại vấn đề của cha Giovanni đi,” Gray nói. “Ông cho rằng chính mấy cái xác này đã khiến ông ta tới đây sao?”
“Ái chà.” Wallace quay lại chỗ và ngồi dạng chân trên ghê. “Marco đã nghe được vụ khai quật của chúng tôi. Ở nơi mà đạo Cơ đốc và thần đạo vẫn còn xung đột.”
“Tuy vậy, thật sự không phải do xung đột đó kéo ông ta đến đây,” Gray nói rồi liếc nhìn tấm hình đầu tiên chụp người phụ nữ với đứa bé. Nếu không lầm đây là một hoạt cảnh. Giống như cảnh Đức mẹ Madonna và Chúa Hài đồng. Nhưng không phải là bất cứ hình tượng Madonna nào cũng được. Vỏ than bùn đã nhuộm da người phụ nữ thành màu nâu đen sậm.
“Tôi đã gửi cho ông ấy một bức ảnh chụp mấy cái xác. Ngay hôm sau, ông ấy đến. Ông ấy rất quan tâm đến bất kỳ hiện thân hay mối liên quan nào đến hình tượng Đức mẹ da đen. Để tìm thấy những thi thể như vậy trong khu mồ thần thánh này, nơi mà đạo Cơ đốc và thần đạo vẫn còn mâu thuẫn, ông ta phải tự mình tìm hiểu xem liệu có bất kỳ mối liên hệ nào tới thuyết thần thoại về các vị thánh da đen của ông ta hay không.”
“Vậy chính là nơi đó à?” Rachel hỏi.
“Cũng vì nó mà Marco đã dành trọn cả năm qua để điều tra, lùng sục khắp đảo quốc Anh. Tuy vậy, tháng vừa rồi tôi có thể đoán được điều gì đó đã làm ông ta đặc biệt kích động. Nhưng ông ấy không thể nói ra điều đó được nữa rồi.”
“Thế ông làm sao với mấy cái xác ướp?” Gray hỏi.
“Thì như tôi đã nói, vì không tìm được cây tầm gửi nào nên tôi cho rằng mấy thi thể đó đã chết khi bị chôn vào đầm lầy này. Nhưng vấn đề là ai đã chôn họ và vì lý do gì? Hơn nữa tại sao Martin Borr lại đánh dấu trong quyển sách của mình bằng ký hiệu thần thánh đó? Đây là những điều tôi muốn biết.”
“Và sao nữa?” Gray thúc giục ông. Anh thấy bực mình với những câu trả lời quanh co của ông ta.
“Đây là giả thuyết riêng của tôi,” Wallace thừa nhận. “Quay lại vấn đề mà tôi bắt đầu tiến hành nghiên cứu. Chính là Sổ Điền thổ. Có nơi bị đánh dấu bỏ hoang ở ngôi làng hay thị trấn gần đó. Và điều đó ắt hẳn phải rất khủng khiếp mới khiến nơi ấy bị xóa sổ trên tất cả các loại bản đồ. Tất cả đều biến mất ngoại trừ những viện dẫn bí ẩn trong quyển sổ đó và đề cập trong nhật ký của Martin Borr. Vậy điều gì đã xảy ra mà phải dẫn tới phản ứng như vậy? Tôi đoán rằng đã xuất hiện một loại dịch bệnh nào đó, vì không muốn nó bùng phát và cũng để giữ bí mật nên nơi đó đã bị xóa sổ.”
“Nhưng còn mấy thi thể ở đây thì sao?” Rachel hất hàm chỉ mấy bức ảnh.
“Hãy nhắm mắt lại và tưởng tượng cô đang ở thị trấn đó. Một nơi bị cô lập và bao vây bởi một đại dịch nào đó. Một thị trấn vẫn còn sự pha trộn giữa những giáo dân sùng đạo Cơ đốc và những tín đồ bí mật tiến hành thờ cúng theo nghi lễ cổ xưa, những người mà chắc chắn biết đến có vòng tròn đá này ở gần thị trấn của họ, cũng như vẫn thường đến đây cúng bái. Một khi thảm họa gieo rắc xuống thung lũng này, mỗi giáo phái sẽ khấn vái thần linh của họ để nhờ ơn cứu rỗi. Và giả như có kẻ lại muốn đi nước đôi, tức là tổng hợp cả hai niềm tin. Thế là hắn đem bà mẹ và đứa bé trai, chính là tượng trưng cho Đức mẹ Madonna và Chúa Hài đồng, đến chôn ở khu vực thờ thần thánh cổ xưa này. Tôi tin rằng chỉ duy có hai cái xác này là tránh khỏi cuộc thanh lọc tàn nhẫn đó, cũng như hai chứng nhân còn sót lại của trận đại dịch ngày xưa.”
Wallace chỉ vào bức hình chụp cảnh mổ xẻ. “Bệnh dịch đã tấn công ngôi làng đó thật sự kỳ lạ. Tôi không hề nghe nói gì đến vấn đề này trong các biên niên sử thuộc lĩnh vực y học hay pháp y. Mấy thi thể đó vẫn đang được điều tra và giữ trong vòng bí mật. Họ còn không cho tôi biết những gì họ đã phát hiện được.”
“Nhưng lẽ ra ông cần được biết chứ?” Gray hỏi. “Ông vẫn còn là giảng viên đương nhiệm tại Đại học Edinburgh mà?”
Wallace chau mày khó hiểu, rồi vầng trán ông giãn ra. “Ôi không, anh đã hiểu nhầm ý tôi rồi. Khị tôi đề cập đến trường đại học đem mấy cái xác đi, đây không phải là trường Đại học Edinburgh. Tôi nhận được tài trợ từ nước ngoài. Đây là một thông lệ quốc tế. Đối với việc nghiên cứu một đề tài nào đó, anh có thể xin hỗ trợ từ bất cứ đâu tìm được.”
“Vậy ai đã lấy mấy thi thể đó đi?”
“Chúng được gởi đến Đại học Oslo để xét nghiệm ban đầu.”
Gray giật mình. Phải mất một chốc anh mới phản ứng được. Oslo. Đây chính là mối liên hệ vững chắc đầu tiên giữa những sự kiện ở đây và vụ Painter Crowe đang điều tra ở Nauy.
Trong khi Gray đang vật lộn với những mối liên quan thì Wallace tiếp tục nói. “Tôi đoán tất cả cũng quy về những vi khuẩn thích sống trong môi trường khắc nghiệt.”
Nghe có vẻ không logic lắm nên Gray phải chú ý. “Ông đang nói về chuyện gì vậy?”
“Về nguồn tài trợ của tôi,” giọng Wallace cất lên nghe như điều hiển nhiên. “Như tôi đã nói. Trong vụ này, anh có thể tìm tài trợ từ bất cứ đâu có thể.”
“Vậy thì liên quan gì đến những vi khuẩn thích sống trong môi trường khắc nghiệt chứ?”
Gray thừa hiểu từ đó có nghĩa là gì. Đó là những sinh vật sống trong điều kiện khắc nghiệt, môi trường này được xem là rất khó tồn tại. Hầu hết chúng là vi khuẩn được tìm thấy sống trong môi trường độc hại như trong các khe đá ngoài khơi hoặc miệng núi lửa đang sôi. Các sinh vật này bổ sung cho thế giới những hợp chất tiềm năng mới.
Các nền công nghiệp trên thế giới cũng đã ghi nhận và tiến hành thử nghiệm một ngành mới gọi là khai thác sinh học. Nhưng thay vì thăm dò mỏ vàng thì họ laị theo đuổi thứ còn đáng giá hơn nữa là: các bằng sáng chế mới. Đây xem ra lại là một ngành mang tính chất bùng nổ. Chủng vi khuẩn đã nêu được dùng để tạo ra các chất tẩy công nghiệp cực mạnh, thuốc, thậm chí cả các enzyme dùng trong phòng nghiên cứu tội phạm để phân tích DNA qua vân tay.
Vậy toàn bộ việc này có liên quan gì đến mấy xác ướp đầm lầy ở Anh đây?”
Wallace cố gắng giải thích, “Trở lại giả thiết ban đầu tôi đã nêu, tôi đã gửi chúng đến các nhà tài trợ tiềm năng. Chính là giả thiết về Sách Ngày Tận thế.”
Gray để ý lúc này ông ta đã gọi là Ngày Tận thế, chứ không còn là Điền thổ nữa. Anh tưởng tượng được vị giáo sư này hẳn có tài biên kịch nên đã dùng một cái tên nghe có vẻ màu sắc hơn cho quyển sách để thu hút tài trợ đây.
“Như tôi đã đề cập, vài chỗ bị đánh dấu bằng chữ Latinh có nghĩa là bỏ hoang. Dường như chúng đã bị xóa sổ trên bản đồ - cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Chắc hẳn phải có chuyện gì đó rất nguy hiểm tấn công các thị trấn này và khiến các viên điều tra dân số thời đó phải làm vậy chứ.”
“Đại loại là một dịch bệnh gì đó,” Gray nói.
Wallace gật đầu đồng tình. “Và có khả năng là căn bệnh này chưa xảy ra bao giờ. Do đây là những địa điểm tách biệt nên ai mà biết được liệu nó có lan truyền ra khỏi khu vực hay không. Khu đầm lầy than bùn là món súp thập cẩm của những sinh vật kỳ dị, nào là vi khuẩn, nấm, meo mốc nhớt.”
“Vậy là bọn họ thuê ông đảm trách công việc của một nhà khảo cổ kiêm thăm dò sinh học à?”
Wallace nhún vai. “Nhưng tôi không phải là người duy nhất. Các ngành công nghiệp chủ chốt giờ đều quay sang nhờ các nhà khảo cổ thực địa mà. Chúng tôi đang đào sâu nghiên cứu các khu vực cổ xưa đã bị quên lãng từ lâu. Mới năm rồi thôi, có một công ty hóa chất lớn của Mỹ đã phát hiện ra một loại vi khuẩn yếm khí trong một khu lăng mộ Ai Cập vừa được mở cửa. Điều này đã trở thành mốt thịnh hành rồi đó chứ, anh thấy không.”
“Còn vụ khai quật này thì do trường Đại học Oslo tài trợ các ông à?”
“Không phải. Trường Oslo cũng thiếu kinh phí như các trường khác thôi. Ngày nay đều do các công ty tài trợ cả.”
“Vậy công ty nào đã thuê ông?”
“Là một công ty công nghệ sinh học, chuyên về sinh vật biến đổi gen, vụ mùa và các lĩnh vực khác nữa.”
Gray nắm chặt cạnh bàn. Tất nhiên rồi. Các công ty công nghệ sinh học là những thành viên chủ chốt trong cuộc săn lùng loại vi khuẩn này. Và khai thác sinh học lại là điều sinh tồn của họ. Thế nên họ đã tung đội ngũ do thám trên khắp mọi nơi, trong toàn bộ các lĩnh vực nghiên cứu. Giờ đây có vẻ bao gồm cả khảo cổ học nữa.
Gray đinh chắc trong đầu nguồn tài trợ cho nghiên cứu của Wallace.
Anh nói lớn cái tên đó. “Viatus.”
Đôi mắt Wallace mở to ngạc nhiên. “Sao anh lại biết được chứ?”
★ ★ ★
11h44 tối
Seichan đứng bên ngoài cabin, cầm một điếu thuốc chưa châm. Các ngôi sao nhấp nháy như thủy tinh vỡ giữa bầu trời đêm. Những luồn hơi lạnh lùa qua mấy nhánh cây. Cô hít thật sâu, cảm nhận được mùi than bùn từ bếp than lửa trại và cả ngọn lửa cháy âm ỉ dưới đất.
Vòng tròn đá lúc này đã bị đóng băng trông như những khoanh bạc.
Cô tưởng tượng ra cảnh hai cái xác được chôn ở giữa. Không hiểu sao, cô hồi tưởng về viên phụ trách bảo tàng mà cô đã hạ sát ở Venice - và đến người vợ và đứa con ông ta nữa. Cô hình dung ra nếu là hai người đó bị chôn ở đây. Dù biết đứa bé vô tội, cô vẫn lắc đầu trước sự đa cảm ngốc nghếch của mình. Đó là nhiệm vụ cô phải hoàn thành.
Nhưng tối nay tội lỗi của cô còn khủng khiếp hơn nữa.
Cô liếc nhìn xuống tay kia đang cầm một chiếc phích nước bằng thép. Cái này giúp giữ nóng nước trà, cũng giữ ấm cả một chất độc sinh học. Cả nhóm đã bàn rất lâu về chủng vi khuẩn sống trong môi trường khắc nghiệt sau khi giáo sư Boyle tiết lộ về nguồn tài trợ của mình. Còn nguồn độc dược cô được cấp lại chính là vi khuẩn tìm thấy trong một miệng núi lửa ở Chile. Loại này nhạy cảm với sương giá nên cần được ủ ấm.
Không ai để ý rằng chỉ có Rachel uống trà.
Seichan chỉ giả vờ hớp một ít thôi.
Cho điếu thuốc vào túi, cô bước tới gần một đống tuyết bị gió thổi bay, rồi vốc một nắm tuyết cho vào bình. Nhiệt độ thấp sẽ làm tiệt trùng bình nước, giết hết những vi khuẩn còn sót lại. Khi đã đầy, cô vặn nắp bình lại. Tay cô run run. Cô muốn đổ thừa tại trời lạnh. Thế nhưng do lắp trật nắp nên nó bị kẹt không vặn được nữa. Cô cố sức vặn khi cơn nóng giận càng lúc càng dâng lên. Cáu tiết lên cô vung tay ra sau rồi ném mạnh chiếc bình vào rừng.
Cô thở nặng nhọc độ nửa phút, phả làn hơi ấm ra khí trời.
Cô không khóc - mà như vậy còn làm cô tập trung hơn.
Ở một cabin khác, có tiếng cánh cửa mở kêu răng rắc. Cô ở chung lều với Rachel, còn cánh đàn ông thì ở chung cabin còn lại. Cô bước tới cánh cửa mở xem ai vẫn còn thức.
Thân người đồ sộ cộng với dáng đi ì ạch cho thấy người đàn ông này đang chuẩn bị đi đâu đó. Không ai khác hơn Kowalski, anh ta đã trông thấy cô nên giơ tay lên chỉ về phía bãi nhốt ngựa.
“Tôi sắp đi gặp một người ở bãi giữ ngựa,” vừa nói xong, anh ta biến mất sau góc khuất.
Phải một lúc sau cô mới nhận ra anh ta không phải đi gặp ai ở gần chuồng ngựa cả. Cô thấy khó chịu vì bị lừa như vậy. Cô còn nghe được tiếng anh ta vừa huýt sáo vừa giải quyết nhu cầu ở sau đó.
Cô nhìn lại đồng hồ. Chỉ còn vài phút nữa là đến nửa đêm rồi. Lịch trình đã định nên không thể quay đầu được nữa. Bọn họ đã có đủ thời gian để kiểm tra khu vực này. Băng đảng của cô chỉ cho phép nhóm của Gray có quyền lần theo dấu vết của cha Giovanni đến đây thôi, nhằm tìm ra chìa khóa trước khi có kẻ nào khác nhúng tay vào. Cô đã đấu đấu tranh để có nhiều thời gian hơn nhưng lại bị bác bỏ. Đành vậy thôi. Bọn họ sẽ phải tiếp tục.
Cô liếc nhìn cabin bên kia. Sao Kowalski không nên đi lâu hơn. Và đúng như vậy. Một phút sau anh ta lại ì ạch trở về, vừa huýt sáo vừa thở.
“Không ngủ được à?” anh ta hỏi khi đến cạnh cô.
Cô kẹp điếu thuốc trong tay rồi giơ lên thay cho lời giải thích.
“Mấy thứ này sẽ giết chết cô đó.” Anh ta thò tay vào túi lấy ra một điếu xì gà và giơ lên giống hệt điệu bộ của cô. “Vậy chắc cô cũng sẽ nhanh chóng hút hết thôi.”
Mím chặt môi giữ điếu thuốc, anh ta lôi ra một hộp quẹt diêm bằng gỗ kiểu cũ, rồi quẹt mạnh hai que diêm vào khung lều. Hai tia lửa lóe lên. Anh ta đưa cho cô một que diêm. Rõ ràng trước đây anh ta cũng đã từng làm vậy rồi.
Vừa ngậm điếu thuốc anh vừa nói. “Gray vừa chuẩn bị đi ngủ. Anh ta đã dành gần hai tiếng đồng hồ để cố moi tin từ lão giáo sư đó. Lòng vòng mãi, tôi phải ra đây hít thở khí trời thôi. Con chó đó làm bẩn cả trong lều. Không lạ gì. Cô biết ông ta cho nó ăn gì không? Xúc xích và hành tây đấy. Thức ăn cho chó gì mà lạ vậy chứ.”
Seichan rít điếu thuốc. Cô để mặc anh chàng huyên thuyên kể lể, thấy dễ chịu vì bàn chuyện phiếm mà không cần động não gì cả. Không may là chuyện phiếm của anh ta lại đang dẫn đến điều gì đó - không phải tất cả đều suôn sẻ.
“Thế,” anh ta nói, “cô và Gray đang có chuyện gì hả?”
Seichan cảm thấy nghẹn lại khi đang hít vào.
“Ý tôi là lúc nào cũng để mắt đến cô cả. Còn cô chỉ thoáng liếc anh ta như một bóng ma vậy. Cứ như hai đứa học trò đang gườm nhau vậy.”
Seichan phớt lờ lời nói bóng gió đó, sẵn sàng chối bay biến, cũng như cảm thấy khó chịu vì anh ta đã nói trúng suy nghĩ của cô. May thay, cô đã không phải đáp lời.
Khi màn đêm buông xuống, thung lũng chợt bùng nổ.
Khắp cả khu rừng, các khe phun lửa lên trời, từng đợt nối tiếp nhau. Kèm theo đó là những chấn động nhẹ, nếu không lắng nghe thì sẽ dễ dàng bỏ qua. Nhiệt lượng tích lũy, kết hợp kvới chất xúc tác nhiệt rubidi có tác dụng chuyển hóa nước vào quá trình phản ứng nhanh hơn, bị vùi sâu dưới lớp than bùn ướt có dịp phát nổ vào thời khắc nửa đêm. Cả thung lũng như đang bừng cháy.
Không xa đó là ba vụ nổ tiếp theo xuất phát từ trung tâm của vòng tròn đá. Những đường xoắn ác liệt xoáy lên không trung.
Dù đứng cách một khoảng xa, nhưng sức nóng như táp vào mặt cô.
Mọi người bắt đầu tháo chạy ra khỏi các cabin. Kowalski bực tức nguyền rủa sát bên cô.
Cô không hề quay sang, mà như đang bị thôi miên bởi cơn lửa. Tim cô đập thình thịch. Đám cháy bắt đầu lan rộng ra - nhanh, rất nhanh - ở đây và cả ngoài bìa rừng. Mạch lửa dường như chỉ nhắm vào việc rượt đuổi nhóm của Gray - như đốt lửa dưới chân họ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - trong khi đó cũng hủy diệt toàn bộ chứng cứ theo sau.
Cô quan sát đám lửa đang lan dần.
Kẻ nào đó đã tính toán sai, cũng như đã đánh giá thấp tính bắt cháy của than bùn. Thoáng chốc trong cô lóe lên tia ngờ vực. Hay cô đã bị lừa? Họ sẽ bị dìm chết ở đây sao?
Lạnh lùng lần theo từng dòng suy đoán hợp lý, mọi nghi ngờ trong cô dần tiêu tan. Nếu họ chết thì sẽ chẳng được lợi gì. Ít ra thì không phải thời điểm này. Chắc là do sự cố. Đám lửa cổ xưa đã âm ỉ cháy từ lâu có thể làm yếu nền đất bùn, thế là biến cả thung lũng thành mồi lửa.
Tuy nhiên, kết quả cuối cùng vẫn tương tự.
Khi cô nhìn thì đám cháy đã bao vây thành vòng tròn xung quanh họ.
Không ai có thể sống sót rời khỏi đây.