Tôi thậm chí còn chẳng nghĩ trước khi hành động.
Tôi chạy ra hiên, mở cánh cửa kính Pháp và thò đầu ra ngoài lan can, cố gắng tìm một thứ gì đó - hoặc một ai đó - nơi những con sóng dập dềnh. Mặt nước đen ngòm lấp lánh ánh sáng gắt khúc xạ từ các cửa sổ con thuyền, khiến tôi gần như không thể nhận ra bất cứ thứ gì trên mặt biển động, nhưng có một khoảnh khắc tôi nghĩ mình đã trông thấy dưới ngọn một con sóng đen - một hình thù màu trắng xoay tròn giống bàn tay phụ nữ lềnh bềnh ngay dưới mặt nước, rồi chìm nghỉm.
Tôi ngoảnh sang nhìn ban công bên cạnh.
Một tấm kính mờ sương chắn giữa hai ban công, nên tôi chẳng nhìn ra được mấy, nhưng khi tôi chăm chú, tôi thấy hai thứ.
Đầu tiên là một vệt trên tấm kính ngăn. Một vệt tối màu và lấp lánh như dâu. Một vệt cực kỳ giống máu.
Thứ hai, tôi nhận ra một điều, và nó khiến dạ dày tôi thắt lại. Dù là kẻ nào, hay những kẻ nào, vừa đứng đó - dù kẻ nào vừa ném cái xác xuống biển - thì y không thể không thấy tôi ngu xuẩn và liều lĩnh lao đầu khỏi ban công. Rất có khả năng y đang đứng ở ban công buồng bên khi tôi lao ra ban công buồng mình. Hẳn y đã nghe thấy tiếng tôi xô cửa. Hẳn y đã nhìn thấy mặt tôi.
Tôi vụt chạy vào trong phòng, sập cửa hiên sau lưng và kiểm tra xem cửa cabin đã khóa cả hai khóa chưa. Rồi tôi mắc sợi xích vào. Tuy tim đập thình thình trong ngực nhưng tôi cảm thấy bình tĩnh, rất lâu rồi tôi mới thấy bình tĩnh đến nhường ấy.
Vậy đấy. Chuyện này nguy hiểm thực sự, và tôi đang đối mặt với nó.
Vì cửa cabin đã khóa, tôi quay lại kiểm tra cửa hiên. Không có khóa chết, chỉ có then cài, nhưng tôi chắc chắn là nó đã cài lại rồi.
Rồi tôi nhấc điện thoại cạnh giường bằng những ngón tay chỉ hơi run, rồi bấm 0 gọi tổng đài.
“Xin chào?” một giọng nói trầm bổng vang lên. “Tôi có thể giúp gì ạ, thưa cô Blacklock?”
Mất mấy giây tôi luống cuống không hiểu sao cô ấy lại biết người gọi là tôi, đến mức lạc mất dòng suy nghĩ trong đầu. Rồi tôi nhận ra - số phòng sẽ hiển thị trên điện thoại bàn. Tất nhiên cô ấy biết đây là tôi rồi. Ai có thể gọi điện từ phòng tôi vào lúc nửa đêm cơ chứ?
“X-xin chào!” tôi cố nói. Dù run rẩy, giọng tôi nghe bình tĩnh đến ngạc nhiên. “Xin chào. Là ai đấy ạ?”
“Là phục vụ cabin của cô, Karla, thưa cô Blacklock. Tôi có giúp được gì cho cô không?” Giọng nói hơi xấc qua điện thoại của cô ta đã thoáng chút lo lắng. “Cô ổn chứ?”
“Không, không, tôi không ổn chút nào. Tôi...” Tôi dừng lại, biết chuyện này nghe sẽ rất lố bịch.
“Cô Blacklock?”
“Tôi nghĩ...” Tôi nuốt nước bọt. “Tôi nghĩ mình vừa chứng kiến một vụ giết người.”
“Ôi Chúa ơi.” Giọng của Karla rất sửng sốt, và cô ta nói gì đó bằng một thứ ngôn ngữ tôi không hiểu - có lẽ là tiếng Thụy Điển, hoặc cũng có thể là tiếng Đan Mạch. Rồi có vẻ cô ta bình tĩnh lại và hỏi, “Cô có an toàn không, cô Blacklock?”
Tôi có an toàn không ư? Tôi nhìn về phía cửa cabin. Chắc hẳn không ai có thể vào được đây.
“Vâng, vâng, tôi nghĩ là mình an toàn. Nó xảy ra ở cabin bên cạnh - cabin số 10. Palmgren. Tôi - tôi nghĩ có ai đó đã ném một cái xác xuống biển.”
Đang nói thì giọng tôi méo đi, và tôi đột nhiên cảm thấy muốn bật cười - hoặc bật khóc. Tôi hít một hơi dài rồi véo sống mũi, cố gắng bình tĩnh lại.
“Tôi sẽ gọi người lên ngay lập tức, cô Blacklock. Đừng di chuyển. Tôi sẽ gọi cho cô khi họ đến trước cửa. Đừng sợ, tôi sẽ gọi lại cho cô ngay.”
Có một tiếng “cạch”, và cô ấy dập máy.
Tôi nhẹ nhàng đặt ống nghe xuống, cảm thấy bản thân bị chia tách một cách kỳ cục, gần như thể linh hồn đã rời khỏi cơ thể. Đầu tôi đập thình thình, và tôi nhận ra mình cần mặc đồ trước khi họ đến.
Tôi lấy áo choàng tắm treo sau cửa nhà tắm - và nhận ra có gì đó không ổn. Khi lên boong trên ăn tối, tôi đã vứt cái áo trên sàn, cùng quần áo tôi mặc khi đi tàu. Tôi nhớ mình đã ngoái lại nhìn đống ngổn ngang bỏ lại trong phòng tắm, quần áo vứt trên sàn, đồ trang điểm la liệt trên kệ, khăn giấy dính son trong bồn, và nghĩ Mình sẽ xử lý chỗ này sau.
Tất cả đã biến mất. Áo tắm đã được treo lên, quần áo bẩn và đồ lót của tôi mất dạng, ở đâu thì trời mới biết.
Trên kệ, đồ trang điểm được xếp gọn thành hàng, cùng bàn chải và kem đánh răng. Chỉ có tampon và thuốc là để trong túi đồ vệ sinh, điều đó không hiểu sao còn tệ hơn so với khi mọi thứ bị dốc cả ra ngoài, và nó khiến tôi rùng mình.
Ai đó đã ở trong phòng tôi. Tất nhiên là thế rồi. Đấy là những gì mà phục vụ phòng vẫn làm. Nhưng ai đó đã ở trong phòng tôi, động vào đồ của tôi, chạm vào tất lưới và cây chì kẻ mắt dùng dở của tôi.
Tại sao ý nghĩ đó khiến tôi muốn khóc?
Tôi đang ngồi trên giường, tay ôm đầu và nghĩ về những thứ có trong quầy bar mini thì chuông điện thoại reo; hai giây sau, khi tôi đang bò qua tấm chăn để nhấc máy thì có tiếng gõ cửa.
Tôi nhấc máy.
“Xin chào?”
“Cô Blacklock phải không?” Là Karla.
“Vâng. Có ai đó ngoài cửa. Tôi có nên mở không?”
“Vâng, vâng, cô mở đi ạ. Đấy là tổ trưởng tổ bảo vệ, Johann Nilsson. Tôi sẽ để cô làm việc với anh ấy, cô Blacklock, nhưng xin hãy gọi tôi bất cứ lúc nào cô cần trợ giúp.”
Có tiếng “cạch”, điện thoại tắt tiếng, rồi tiếng gõ cửa lại vang lên. Tôi thắt chặt đai lưng áo choàng tắm rồi đi ra mở cửa.
Bên ngoài là một người đàn ông tôi chưa thấy bao giờ, mặc bộ quần áo kiểu đồng phục. Tôi không rõ mình đang chờ đợi gì - cái gì đó tương tự cảnh sát ư? Trang phục của anh ta giống đồng phục hàng hải hơn - nhân viên quản lý trên thuyền hoặc đại loại vậy. Anh ta xấp xỉ bốn mươi, đủ cao để phải cúi đầu khi bước qua cửa. Tóc anh ta rối bù, có vẻ chỉ vừa mới rời khỏi giường, và đôi mắt xanh kinh ngạc, đến nỗi trông như thế đang đeo kính áp tròng màu. Tôi nhìn chằm chằm vào chúng rồi chợt nhận ra anh ta đang chìa một tay ra.
“Xin chào, hẳn cô là cô Blacklock?” Tiếng Anh của anh ta rất tốt. Chỉ có chút dấu vết mờ nhạt âm sắc vùng Scandinavia, nhạt đến mức anh ta có thể là người Scotland hoặc Canada. “Tên tôi là Johann Nilsson. Tôi là trưởng bộ phận bảo vệ trên thuyền Aurora. Tôi được báo là cô đã nhìn thấy thứ gì đó khiến cô lo lắng.”
“Vâng,” tôi nói, giọng kiên quyết, rồi đột nhiên khổ sở nhận ra thực tế là mình đang mặc đồ ngủ với mascara chảy được nửa đường xuống má, trong khi anh ta ăn mặc đầy đủ và chuyên nghiệp. Tôi thắt lại dây lưng, lần này với vẻ lo lắng. “Vâng. Tôi đã trông thấy - nghe thấy - thứ gì đó bị ném xuống biển. Tôi - tôi nghĩ... đấy chắc hẳn là... một người.”
“Cô đã trông thấy hay nghe thấy?” Nilsson nói, nghiêng đầu sang một bên.
“Tôi nghe thấy một tiếng tõm - tiếng tõm cực lớn. Rõ ràng một thứ rất to đã rơi xuống nước - hoặc bị đẩy xuống. Rồi tôi chạy ra ban công và trông thấy gì đó - giống như xác người - rồi nó chìm xuống và biến mất.”
Nilsson tỏ vẻ nghiêm trọng nhưng cảnh giác, và khi tôi nói, anh ta càng cau mày dữ hơn.
“Còn có máu trên tường kính ban công,” tôi nói thêm.
Môi Nilsson mím lại khi nghe thấy điều đó, rồi anh ta hất đầu về phía cửa hiên.
“Ban công của cô ư?”
“Máu ư? Không. Bên kia cơ.”
“Cô chỉ cho tôi được không?”
Tôi gật đầu, thắt lại dây lưng rồi nhìn anh ta mở chốt cửa hiên.
Bên ngoài gió đã nổi lên, trời rất lạnh. Tôi dẫn anh ta ra khoảng không hẹp trên hiên, giờ trở nên bé khủng khiếp khi có Nilsson đồ sộ đứng cạnh tôi. Anh ta dường như chiếm hết chỗ, thậm chí diện tích có vẻ còn không đủ, nhưng tôi phần nào thấy biết ơn vì có anh ta bên cạnh. Tôi không nghĩ mình có thể trở ra ngoài này lần nữa một mình.
“Kia.” Tôi chỉ vào vách kính ngăn hiên tôi với hiên của cabin số 10. “Nhìn kia kìa. Anh sẽ thấy.”
Nilsson chăm chú nhìn cái vách, rồi quay lại nhìn tôi, hơi cau mày.
“Tôi không thấy cái cô nói. Cô chỉ giúp tôi được không?”
“Ý anh là sao? Có một vệt to đùng trên kính mà.”
Anh ta ngả người ra sau, chìa một tay về phía tấm vách mời tôi, và tôi len qua anh ta để nhìn. Tim tôi đập thình thình dù đã cố bình tĩnh. Tôi không nghĩ sẽ thấy tên giết người vẫn ở đó, hay ăn một đấm vào mặt, hoặc một viên đạn sượt qua tai. Nhưng tôi vẫn thấy rùng mình khi nhoài người nhìn qua vách ngăn mà không biết mình sẽ thấy gì ở phía bên kia.
Nhưng tôi chẳng thấy gì hết.
Không có tên sát nhân nào nhún người nhào tới. Không vệt máu. Vách kính sáng phản chiếu ánh trăng, sạch sẽ, tinh tươm, đến một dấu vân tay cũng không có.
Tôi quay lại nhìn Nilsson, biết mặt mình hẳn đang đờ ra vì sốc. Tôi lắc đầu, cố tìm từ ngữ để nói. Anh ta nhìn tôi, đôi mắt xanh ánh lên vẻ thương hại.
Chính sự thương hại khiến ta đau hơn hết thảy.
“Nó đã ở đó,” tôi giận dữ nói. “Rõ ràng y đã lau nó đi.”
“Y?”
“Tên giết người! Tất nhiên là tên giết người chó chết rồi!”
“Không cần phải chửi thề đâu, thưa cô Blacklock,” anh ta đáp vẻ ôn hòa, rồi đi vào trong cabin. Tôi đi theo Nilsson, anh ta cẩn thận đóng rồi chốt cửa sau lưng tôi, rồi đứng chống nạnh như thể đợi tôi nói gì đó. Tôi có thể ngửi thấy mùi nước hoa - không khó chịu, phảng phất mùi gỗ. Nhưng đột nhiên căn phòng thênh thang trở nên nhỏ đến ngột ngạt.
“Sao?” cuối cùng tôi nói, đã cố nhưng không thể khiến từ đó nghe bớt hung hăng. “Tôi kể những gì tôi đã thấy. Anh bảo tôi nói dối ư?”
“Sang buồng bên cạnh nào,” anh ta nói.
Tôi kéo dây lưng áo choàng tắm chặt hơn nữa, chặt đến mức tôi cảm thấy nó siết vào bụng mình, rồi đi theo anh ta, chân trần, ra hành lang. Anh ta gõ cửa cabin số 10, rồi khi không có ai trả lời, liền rút thẻ khóa tổng trong túi ra và mở cửa.
Chúng tôi đứng ở ngưỡng cửa. Nilsson không nói gì, nhưng tôi có thể cảm thấy sự hiện diện của anh ta ở sau lưng khi tôi há hốc mồm nhìn vào phòng.
Nó hoàn toàn trống không. Không chỉ không có người, mà còn không có gì hết. Không va li. Không quần áo. Không đồ trang điểm trong phòng tắm. Thậm chí cả giường cũng lột sạch ga, chỉ còn mỗi tấm nệm.
“Có một cô gái,” rốt cục tôi nói, giọng run run. Tôi thọc tay vào túi áo choàng tắm để anh ta không thấy những ngón tay tôi siết thành hai nắm đấm. “Có một cô gái. Trong căn phòng này. Tôi đã nói chuyện với cô ấy. Tôi đã nói với cô ấy. Cô ấy ở đây!”
Nilsson không nói gì. Anh ta bước quanh căn buồng im lìm sáng ánh trăng rồi mở cửa hiên và nhìn ra ngoài, kiểm tra vách kính với một sự tỉ mỉ gần như xúc phạm. Nhưng từ đây tôi cũng có thể thấy là chẳng có gì ở đó hết. Tấm kính phản chiếu ánh trăng, hơi đọng sương mờ do bụi nước bắn lên, nhưng ngoài ra thì vẫn nguyên si như mới.
“Cô ấy ở đây!” tôi lặp lại, nghe thấy và căm ghét vẻ kích động trong giọng mình. “Tại sao anh không tin tôi?”
“Tôi không nói là mình không tin cô.” Nilsson quay lại phòng và chốt cửa sổ hiên. Rồi anh ta đi cùng tôi qua cửa cabin, đóng và khóa nó lại sau lung.
“Anh khỏi phải nói,” tôi chua chát nói. Cửa buồng tôi vẫn mở, anh ta hộ tống tôi vào trong. “Nhưng cô ấy ở đó. Cô ấy đã cho tôi mượn - ô!” Tôi đột nhiên nhớ ra và chạy vào phòng tắm. “Cô ấy cho tôi mượn cây mascara. Mẹ kiếp, nó đâu rồi nhỉ?”
Tôi lục lọi đống đồ trang điểm đã được xếp gọn gàng cẩn thận, nhưng nó không có ở đó. Nó đâu mất rồi?
“Nó ở đây,” tôi tuyệt vọng nói. “Chắc chắn là ở đây.” Tôi điên cuồng nhìn khắp nơi, và một thứ lọt vào mắt tôi, một thứ hồng chóe lấp ló đằng sau gương cạo râu thu gọn được cạnh bồn rửa. Tôi lôi nó ra - đây rồi, cái ống nhỏ màu hồng vô hại nắp màu xanh lá.
“Đây!” Tôi hoan hỉ vung vẩy nó trước mặt anh ta như vung một thứ vũ khí. Nilsson lùi lại một bước rồi nhẹ nhàng lấy cây mascara từ tay tôi.
“Tôi hiểu,” anh ta nói, “nhưng với tất cả sự tôn trọng, thưa cô Blacklock, tôi không rõ thứ này chứng minh được điều gì ngoài chuyện cô đã mượn cây mascara này từ ai đó ngày hôm nay...”
“Nó chứng minh điều gì ư? Nó chứng minh cô ấy thực sự ở đó! Nó chứng minh cô ấy có tồn tại!”
“Nó chứng minh cô đã thấy một cô gái, phải, nhưng...”
“Anh muốn gì?” tôi ngắt lời, vẻ tuyệt vọng. “Anh còn muốn gì ở tôi nữa? Tôi đã nói với anh những gì tôi nghe thấy - những gì tôi nhìn thấy. Tôi đã nói với anh là có một cô gái trong cái cabin đó, và giờ cô ta đã biến mất. Rành rành là có một hành khách đã mất tích. Tại sao anh lại không tỏ ra quan tâm chút nào thế?”
“Cái cabin đó trống mà,” anh ta nhẹ nhàng nói.
“Tôi biết!” tôi gào lên, rồi, trông thấy vẻ mặt của Nilsson, tôi phải nỗ lực khủng khiếp để ép mình bình tĩnh lại. “Tôi biết - đấy là những gì tôi vẫn đang cố gắng nói với anh, vì Chúa.”
“Không,” anh ta nói, vẫn với thái độ dịu dàng nhỏ nhẹ, sự dịu dàng của một gã đàn ông to lớn không cần chứng minh gì hết. “Đấy là thứ tôi đang cố giải thích, thưa cô Blacklock. Nó vẫn luôn trống. Không có khách nào ở trong cabin đó. Chưa bao giờ có.”