Tôi yêu những bến cảng. Tôi yêu mùi hắc ín và mùi gió biển, yêu tiếng kêu của lũ mòng biển. Có thể là do nhiều năm trời đi phà tới Pháp nghỉ hè, nhưng bến cảng đem lại cho tôi cảm giác tự do mà một sân bay không bao giờ làm được. Nhắc đến sân bay là nhắc đến đi công tác, đến kiểm tra an ninh, đến trễ chuyến. Nhắc đến bến cảng là nhắc đến... Tôi không biết nữa. Một thứ gì đó hoàn toàn khác. Thoát ly chăng?
Suốt quãng đường đi tàu tôi đã tránh nghĩ về Judah và cố tự phân tâm bằng cách nghiên cứu về chuyến đi sắp tới. Richard Bullmer chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, nhưng CV của anh ta thì đủ khiến tôi cảm thấy kém cỏi một cách tuyệt vọng - một danh sách dài những doanh nghiệp và chức danh giám đốc khiến tôi nhức mắt, mỗi cái tên là một bậc thang vươn tới tầm ảnh hưởng và tiền bạc thậm chí còn cao hơn.
Tôi dùng điện thoại vào Wikipedia, trang web hiển thị một người đàn ông đẹp trai, da màu đồng, tóc rất đen, tay trong tay với một nàng tóc vàng đẹp choáng váng khoảng gần ba mươi tuổi. “Richard Bullner cùng vợ, người thừa kế Anne Lyngstad, tại lễ cưới của họ ở Stavanger,” dòng chú thích viết.
Xét đến tước hiệu, hồi trước tôi cầm chắc rằng anh ta đã được dâng tận miệng khối tài sản hiện tại, nhưng có vẻ tôi đã sai, ít nhất là xét trên thông tin từ Wikipedia. Quãng đầu đời của anh ta cũng dễ chịu - trường dự bị, Eton và Balliol. Tuy nhiên khi anh ta học đại học năm thứ nhất thì bố anh ta chết - mẹ anh ta dường như không hề xuất hiện, điều này thì tôi không rõ - thế là tài sản gia đình tiêu tán sạch vào thuế thừa kế và nợ nần, khiến anh ta lâm vào cảnh côi cút vô gia cư khi mới mười chín tuổi.
Trong hoàn cảnh ấy, việc anh ta tốt nghiệp trường Oxford với một tấm bằng cũng có thể coi là một thành tựu, nhưng anh ta cũng lập ra một start-up dotcom hồi học năm thứ ba. Giá cổ phiếu trên thị trường của công ty đó tăng vọt năm 2003, mở đầu chuỗi thành công liên tiếp, mà cực điểm là chiếc du thuyền mười buồng cỡ nhỏ được xem là một chốn ẩn dật siêu sang để du ngoạn dọc theo bờ biển Scandinavia. “Sẵn sàng cho đám cưới trong mơ của bạn, một sự kiện doanh nghiệp hoành tráng khiến khách hàng chỉ có thể ở bên ngưỡng mộ, hoặc đơn giản là một kỳ nghỉ độc nhất vô nhị mà bạn và gia đình sẽ không bao giờ quên,” tôi đọc đoạn này trong gói tài liệu quảng bá khi tàu hỏa ầm ầm lao về phía Bắc, rồi giở tới một bản vẽ kỹ thuật boong thuyền.
Có bốn buồng suite lớn ở mũi thuyền, cùng một khu vực tách riêng với sáu buồng nhỏ hơn xếp thành hình móng ngựa ở đuôi thuyền. Mỗi buồng được đánh số chẵn lẻ ở hai bên một hành lang trung tâm, với buồng số 1 nằm ở ngay đầu mũi thuyền và buồng số 9 và buồng số 10 tiếp giáp nhau ở phần đuôi thuyền cong cong. Tôi đoán mình sẽ ở trong một buồng nhỏ - có lẽ những buồng suite dành cho các VIP. Không có thông tin kích thước trên bản vẽ kỹ thuật. Tôi cau mày, nhớ lại những con phà vượt eo biển mà tôi tùng đi, những căn phòng nhỏ xíu không cửa sổ tù túng ngột ngạt. Ý nghĩ phải dành năm ngày sống trong một trong những căn phòng ấy thật chẳng dễ chịu gì, nhưng hẳn là trên một con thuyền như thế này thì phòng ốc phải rộng rãi hơn đáng kể chứ?
Tôi lại lật trang, hy vọng tìm thấy ảnh chụp một buồng trên thuyền để trấn an bản thân, nhưng thay vào đó tôi chỉ thấy một hàng dài hoa mắt những cao lương mỹ vị của xứ Scandinavia bày ra trên một tấm vải trắng. Đầu bếp thuyền Aurora rõ ràng là được đào tạo ở Noma và El Bulli. Tôi ngáp rồi áp bàn tay vào mắt, cảm thấy cơn mệt mỏi và sức nặng của tất cả những gì xảy ra từ đêm vừa rồi một lần nữa đè nặng lên mình.
Gương mặt của Judah khi tôi bỏ đi, với đường chỉ khâu sau cú đánh trời giáng hôm qua, giờ lại len lỏi vào óc tôi, và tôi thấy nao núng. Tôi thậm chí còn không chắc chuyện gì đã xảy ra. Judah và tôi đã chia tay rồi ư? Tôi đã đá anh? Mỗi lần tôi cố gắng tái hiện cuộc trò chuyện đó, bộ não rã rời của tôi lại lấn lướt, thêm vào những thứ tôi không nói, những lời tôi ước giá mình đã nói ra. Nó cũng khiến Judah trở nên ngớ ngẩn hơn và xấc xược hơn để biện hộ cho thái độ của tôi, hoặc khiến anh có vẻ yêu thương vô điều kiện hơn để thuyết phục tôi rằng tất cả mọi chuyện rồi sẽ ổn. Tôi đã không yêu cầu anh ấy từ chối công việc. Thế thì tại sao “người ta” lại bắt tôi thấy biết ơn vì điều đó?
Tôi gà gật được chừng ba mươi phút vật vã trong chiếc xe đi từ ga tàu đến cảng, và khi tiếng tài xế vui vẻ thông báo đã đến nơi làm ngắt đứt giấc ngủ của tôi, tôi thấy thật chẳng khác nào bị vã nước lạnh vào mặt. Tôi loạng quạng bước ra khỏi xe trong ánh nắng gay gắt và làn gió nhẹ đượm vị muối, cảm thấy mắt kiệt sức và mụ mị.
Tay tài xế thả tôi xuống gần như ngay đầu cầu tàu dẫn lên Aurora, nhưng khi nhìn qua cầu thép về phía con thuyền, tôi cứ ngỡ chúng tôi đã đến nhầm chỗ. Những gì tôi thấy khá giống với tờ rơi quảng cáo - những cửa sổ kính khổng lồ phản chiếu mặt trời, không có lấy một dấu vân tay hay một giọt nước biển, và màu sơn trắng lóa trông mới đến mức hẳn là con thuyền vừa được hoàn thiện sáng nay. Nhưng thứ không đúng ở đây là kích cỡ. Thuyền Aurora quá nhỏ - giống thuyền buồm đua loại to hơn là một chiếc du thuyền chở khách. Giờ tôi đã hiểu tại sao họ dùng từ “cỡ nhỏ”. Tôi đã thấy nhiều con thuyền lớn hơn rẽ sóng quanh những hòn đảo Hy Lạp. Dường như không thể nào có chuyện tất cả những thứ được nhắc đến trong tờ rơi - thư viện, phòng hứng nắng, phòng spa, tắm hơi, phòng khách với quầy cocktail, cùng tất tật những thứ rành rành là không thể thiếu đối với những hành khách lắm đòi hỏi của thuyền Aurora - lại có thể nhét vừa cái tàu thủy thu nhỏ này. Kích cỡ cùng sự hoàn hảo của lớp sơn khiến nó trông giống một món đồ chơi đến kỳ lạ, và khi bước lên cầu tàu hẹp bằng thép, tôi đột nhiên thấy hiện ra trong đầu hình ảnh thuyền Aurora bị nhốt trong chai - nhỏ xíu, hoàn hảo, cô độc, phi thực - và thấy mình thu nhỏ để vừa với nó theo mỗi bước tiến. Đấy là một cảm giác kỳ lạ, như thể tôi đang nhìn ngược ống kính thiên văn, và nó khiến tôi quay cuồng ngang cỡ một cơn chóng mặt khi nhìn xuống từ trên cao.
Cầu tàu xê dịch dưới chân tôi, nước biển đen kịt lấp loáng váng dầu nơi bến cảng đang cuộn xoáy, và tôi thoáng có ảo giác mình đang rơi, miếng sắt dưới chân tôi biến mất. Tôi nhắm mắt lại rồi nắm lấy thành cầu bằng kim loại lạnh ngắt.
Rồi tôi nghe một giọng phụ nữ từ trên đầu vọng xuống.
“Mùi của biển thật tuyệt vời, phải không?”
Tôi chớp mắt. Một cô chiêu đãi viên đang đứng ở lối vào thuyền. Cô ta trông sáng sủa, tóc hầu như vàng trắng, da nâu giòn màu óc chó, đang tươi cười rạng rỡ như thể tôi là người họ hàng giàu có thất lạc lâu năm của cô ta từ Australia. Tôi hít một hơi, cố giữ thăng bằng, rồi đi nốt quãng cầu tàu và bước lên Aurora Borealis.
“Chào mừng lên thuyền, cô Blacklock,” cô chiêu đãi viên nói khi tôi bước vào. Giọng cô nhấn nhá theo một kiểu khiến tôi không thể xác định được là giọng miền nào, còn từ ngữ của cô bằng cách nào đó truyền tải được ấn tượng rằng việc gặp mặt tôi ở đây là một sự kiện để đời chắc cũng phải ngang với trúng xổ số. “Tôi hết sức hân hạnh được chào mừng cô lên thuyền. Liệu một nhân viên của chúng tôi có thể xách hành lý của cô không ạ?”
Tôi nhìn quanh, cố gắng lý giải làm thế nào mà cô ta lại biết tôi là ai. Cái túi của tôi đã được xách đi trước khi tôi kịp phản đối.
“Tôi có thể mời cô một ly sâm panh không?”
“Ờm,” tôi nói, cố khiến mình trở nên cao giá bằng một câu trả lời cụt lủn. Cô chiêu đãi viên xem đấy là đồng ý và tôi nhận ly sâm panh mát lạnh mà cô ta vừa dúi vào tay. “Ờ, cảm ơn.”
Nội thất của thuyền Aurora thật khiến người ta sững sờ. Con thuyền có thể nhỏ, nhưng người ta đã nhồi vào nó những thứ châu báu lóng lánh đủ cho một con thuyền lớn gấp mười. Cửa cầu tàu mở thẳng vào đầu một cầu thang cong, dài, tất cả bề mặt được đánh cho bóng lồng bóng lộn hoặc bọc đá hoa hoặc trải lụa thô nếu có thể. Toàn bộ cầu thang được chiếu sáng bởi một cái đèn chùm nhức mắt, làm nơi này tràn ngập những vệt sáng nhỏ xíu khiến tôi chỉ có thể nghĩ đến ánh mặt trời rọi sáng mặt biển vào một ngày hè. Cảm giác hơi buồn nôn - không phải theo cái kiểu “tiền này sao không để từ thiện”, dù nếu quá khắc nghiệt thì đúng là thế thật, mà là cảm giác mất phương hướng do đèn chùm gây ra. Những viên pha lê giống như lăng kính phân tán từng tia sáng, khiến ta quáng mắt, khiến ta lảo đảo như nhìn vào kính vạn hoa của trẻ con. Tác động ấy, kết hợp với sự thiếu ngủ, thật hoàn toàn không dễ chịu chút nào.
Cô chiêu đãi viên hẳn đã thấy tôi trố mắt nhìn cái đèn chùm, bởi cô nở một nụ cười tự hào.
“Cầu Thang Vĩ Đại thật tuyệt vời, phải không?” cô nói. “Cái đèn chùm đó có hơn hai ngàn viên pha lê Swarovski đấy.”
“Chúa ơi,” tôi thầm thì. Đầu tôi đau nhói, cố nhớ xem mình có bỏ Ibuprofen vào trong hành lý không. Thật khó mà không chớp mắt.
“Chúng tôi rất tự hào về thuyền Aurora,” cô chiêu đãi viên hăng hái nói tiếp. “Tên tôi là Camilla Lidman và tôi chịu trách nhiệm tiếp đãi quý khách trên thuyền. Văn phòng của tôi ở boong dưới, và nếu có bất kỳ điều gì tôi có thể làm để khiến cho chuyến đi của cô trên con thuyền này được thú vị hơn, làm ơn đừng ngại yêu cầu. Đồng nghiệp của tôi, Josef - cô ra dấu về phía một người đàn ông tóc vàng mỉm cười đứng bên phải - “sẽ dẫn cô về buồng và đưa cô đi thăm thú cơ sở vật chất. Bữa tối sẽ bắt đầu lúc tám giờ, nhưng chúng tôi mời cô tham gia lúc bảy giờ ở Phòng khách Lindgren để nghe giới thiệu về con thuyền và những thắng cảnh mà cô sẽ được thưởng ngoạn trong chuyến đi này. À! Ông Lederer.”
Một người đàn ông da đen, cao, tầm bốn mươi đang bước đi trên cầu tàu phía sau chúng tôi, theo sau là nhân viên khuân vác chật vật với một cái va li khổng lồ.
“Làm ơn cẩn thận,” anh ta nói, rúm người lại thấy rõ khi nhân viên khuân vác va bánh xe đẩy của va li vào một cái gờ trên cầu tàu. “Cái va li chứa thiết bị rất dễ vỡ đấy.”
“Ông Lederer,” Camilla Lidman nói, với một sự nhiệt tình cuồng nhiệt gần bằng những gì cô đã rót vào lời chào mừng vừa nói với tôi. Phải công nhận là tôi thấy khâm phục cô ta - khả năng phường chèo rất ấn tượng, mặc dù đối với Lederer thì hẳn cô ta chẳng mấy mất công bởi anh ta trông cũng ưa nhìn. “Xin chào mừng ông lên thuyền Aurora. Tôi có thể mời ông một ly sâm panh không? Và bà Lederer có ở đây không ạ?”
“Bà Lederer sẽ không đến.” Lederer lấy tay vò đầu rồi nhìn lên chiếc đèn chùm Swarovski với một vẻ hơi sửng sốt.
“Ồ, tôi hết sức xin lỗi.” Cặp lông mày hoàn hảo của Camilla Lidman nhíu lại khi cô cau mày. “Tôi hy vọng mọi chuyện vẫn ổn.”
“Chà, cô ta hoàn toàn khỏe,” Lederer nói: “Thực ra, cô ta đang phịch thằng bạn thân nhất của tôi.” Anh ta cười rồi cầm lấy ly sâm panh.
Camilla chớp mắt rồi nói hết sức trơn tru, “Josef, xin hãy đưa cô Blacklock về phòng.”
Josef hơi cúi mình rồi chìa một tay về phía cầu thang. “Xin mời đi đường này.” anh ta nói.
Tôi im lặng gật đầu rồi đi theo anh ta, tay cầm ly sâm panh. Phía sau tôi vẫn nghe được tiếng Camilla bảo Lederer rằng văn phòng cô ta ở boong dưới.
“Cô sẽ ở phòng số 9, phòng Linnaeus[1],” Josef bảo khi tôi theo anh ta bước vào không gian màu be lờ mờ của một hành lang trải thảm dày không cửa sổ. “Tất cả các phòng đều được đặt tên theo các nhà khoa học vĩ đại người Scandinavia.”
“Ai ở phòng Nobel nhỉ?” tôi bồn chồn nói. Hành lang này khiến tôi có cảm giác lạ lùng, ngột ngạt, nỗi sợ không gian kín đè nặng lên gáy. Không chỉ là vấn đề kích cỡ, mà cảm giác ấy còn đến từ ánh đèn lờ mờ gây buồn ngủ cũng như việc thiếu ánh sáng tự nhiên.
Josef nghiêm túc trả lời, “Riêng hành trình này, phòng Nobel sẽ dành cho Huân tước và Huân tước phu nhân Bullmer. Huân tước Bullmer là giám đốc công ty Bắc Cực Quang sở hữu con thuyền này. Thuyền có mười buồng,” anh ta nói khi chúng tôi đi xuống một lượt thang nữa, “bốn buồng phía trước, sáu buồng phía sau, tất cả đều ở trên tầng boong giữa. Các buồng đều là buồng suite và có tối đa ba phòng, có phòng tắm riêng, bồn tắm nguyên cỡ và vòi hoa sen riêng, giường đôi nguyên cỡ và hàng hiên riêng nhìn ra biển. Phòng Nobel có bồn tắm nước nóng riêng.”
Hiên? Không hiểu sao hàng hiên trên du thuyền nghe có gì đó hết sức sai, nhưng khi nghĩ kỹ, tôi đồ rằng nó cũng chẳng dị hơn việc bất cứ con thuyền nào có boong lộ thiên. Bồn tắm nước nóng? Thôi thì tốt hơn hết là tôi không bàn thêm về nó.
“Mỗi buồng có một người phục vụ riêng để hỗ trợ cô, cả ngày lẫn đêm. Người phục vụ của cô sẽ là tôi và Karla, đồng nghiệp của tôi, mà lát nữa cô sẽ gặp. Chúng tôi rất hân hạnh được trợ giúp cô trong thời gian cô lưu lại trên thuyền Aurora.”
“Vậy đây là boong giữa phải không?” tôi hỏi.
Josef gật đầu. “Vâng, tầng boong này chỉ gồm phòng cho hành khách. Đi lên tầng trên cô sẽ thấy phòng ăn, phòng tắm hơi, phòng khách, thư viện, phòng hứng nắng và những không gian chung khác. Tất cả đều được đặt tên theo các nhà văn người Scandinavia - phòng khách Lindgren, phòng ăn Jansson, vân vân.”
“Jansson?”
“Tove,” anh ta thêm vào.
“Ồ, tất nhiên rồi. Moomin[2],” tôi nói với vẻ ngớ ngẩn. Chúa ơi, đầu tôi đau quá.
Chúng tôi đã đến một cánh cửa gỗ ốp ván ghi nhãn “9: LINNAEUS”. Josef mở cửa và đứng lùi lại để tôi bước vào bên trong.
Nơi này nói không ngoa phải xịn sò gấp bảy tám lần căn hộ của tôi ở nhà, và cũng nhỏ hơn không quá nhiều. Những tủ quần áo ốp kính gương kéo dài về phía bên tay phải tôi, còn ở trung tâm, với một bên là sô pha và bàn trang điểm ở bên còn lại, là một chiếc giường đôi khổng lồ, khăn trải giường vải lanh mềm mịn và mát mẻ đầy mời gọi.
Nhưng thứ làm tôi ấn tượng nhất không phải là không gian - dù nó cũng ấn tượng đó - mà là ánh sáng. Vừa rời khỏi hành lang hẹp chỉ có ánh đèn điện, nắng trời ùa vào từ cửa hiên đối diện đủ khiến ta chói mắt. Mành trắng không tỳ vết bồng bềnh trong gió, và cửa trượt đã được mở. Tôi tức thì cảm thấy nhẹ nhõm, như thể cơn căng thẳng đè nặng trong lồng ngực bỗng dưng biến mất.
“Các cửa có thể chốt lại,” Josef đứng phía sau tôi giải thích, “nhưng các chốt sẽ tự động mở ra nếu thuyền gặp điều kiện thời tiết bất lợi.”
“Ồ, tuyệt,” tôi hờ hững nói, nhưng tất cả những gì tôi nghĩ trong đầu là mong sao Josef đi ngay cho, để tôi có thể rơi tõm xuống chiếc giường kia mà bất tỉnh.
Thay vì thế, tôi đứng, lúng túng nén những cái ngáp ngủ, trong khi Josef hướng dẫn tôi các chức năng của phòng tắm (vâng, tôi đã từng dùng phòng tắm rồi, cảm ơn), tủ ướp lạnh và quầy bar mini (tất cả đều miễn phí - đen đủi thay cho cái lá gan của tôi), và giải thích đá sẽ được thay mới hai lần một ngày và tôi có thể gọi anh ta hoặc Karla bất cứ lúc nào.
Sau cùng, khi tôi không thể tránh được những cái ngáp rũ rượi nữa, anh ta hơi cúi đầu và xin lui, để tôi lại một mình trong buồng.
Vờ tỏ ra tôi không bị choáng ngợp cũng chẳng để làm gì. Tôi bị choáng ngợp. Chủ yếu là bởi cái giường, thực tế nó đang rít lên mời gọi tôi nằm lăn ra rồi ngủ lấy ba bốn chục tiếng đồng hồ. Tôi nhìn cái chăn lông vịt trắng tinh khôi và những chiếc gối màu vàng và trắng, cảm giác thèm khát được ngủ quét qua tôi như hóa chất đang chảy trong huyết mạch, khiến khắp người tôi nổi da gà, từ gáy cho đến tận đầu ngón tay ngón chân. Tôi cần ngủ. Tôi bắt đầu thèm khát ngủ chẳng khác gì con nghiện thèm thuốc, đếm từng giờ cho đến lúc chích được liều tiếp theo. Giấc ngủ ba mươi phút đầy khó chịu trên taxi chỉ khiến cơn thèm khát thêm dữ dội.
Nhưng giờ tôi không được ngủ. Nếu ngủ, tôi sẽ không dậy nổi, mà tôi lại không thể để lỡ tối nay. Tôi có thể bỏ qua một vài hoạt động sau này trong tuần, nhưng tôi dứt khoát phải đến bữa tối và buổi giới thiệu. Đây là đêm đầu tiên trên thuyền - mọi người sẽ điên cuồng làm quen và kết nối với nhau. Nếu tôi bỏ lỡ, đấy sẽ là một điểm trừ to khủng khiếp mà tôi chẳng bao giờ bù lại được.
Nên thay vì lăn ra ngủ, tôi nén một cái ngáp và đi ra ngoài ban công, hy vọng không khí tươi mới sẽ giúp tôi thoát khỏi lớp sương mù kiệt quệ dường như cứ lấn tới mỗi khi tôi đứng im hoặc ngừng nói.
Cái hiên này đẹp đúng như những gì người ta hình dung về ban công riêng trên một du thuyền sang trọng. Lan can làm bằng kính, thế nên ngồi trong phòng bạn sẽ tưởng như không có thứ gì ngăn cách giữa mình và biển, rồi lại có hai chiếc ghế gấp và một cái bàn nhỏ để ta ngồi đó buổi tối và ngắm trời đêm hay Bắc Cực Quang, tùy thuộc ta đặt chỗ chuyến nào.
Tôi ngồi một lúc lâu thật lâu nhìn những con thuyền nhỏ lê thân vào ra cảng Hull, cảm thấy gió mằn mặn trên tóc rồi đột nhiên thấy thuyền có gì đó thay đổi. Mất một thoáng, tôi không hiểu được thay đổi ấy là gì - và rồi tôi nhận ra. Động cơ vẫn kêu rù rù nhè nhẹ từ nửa tiếng trước đã thoáng tăng tốc và con thuyền bắt đầu dịch chuyển. Với một tiếng rần rần, chúng tôi quay đầu rời cầu cảng và hướng ra biển.
Tôi đứng nhìn thuyền rẽ sóng rời cảng giữa hai dãy đèn xanh đỏ đánh dấu đường ra. Tôi cảm thấy chuyển động con thuyền thay đổi sau khi thoát khỏi bức tường quây ngoài cảng và tiến ra Bắc Hải, những gợn sóng nhẹ lăn tăn nhường chỗ cho những con sóng lớn cuồn cuộn của biển thẳm.
Đường bờ biển chầm chậm lùi xa, những tòa nhà ở Hull thu nhỏ thành những chóp nhọn trên đường chân trời, rồi hòa vào cái dải sậm màu có thể là bất cứ nơi nào. Khi nhìn nó dần biến mất, tôi nghĩ về Judah, cùng tất cả những thứ dang dở tôi bỏ lại. Điện thoại của tôi nặng trĩu trong túi, rồi tôi lấy nó ra, hy vọng nhận được một lời nhắn nào đó từ anh trước khi chúng tôi rời khỏi vùng phủ sóng nước Anh. Tạm biệt. Chúc may mắn. Thượng lộ bình an.
Nhưng chẳng có gì. Cột sóng tụt một vạch, rồi một vạch nữa, chiếc điện thoại trong tay tôi vẫn im lìm. Khi bờ biển nước Anh biến mất khỏi tầm mắt, âm thanh duy nhất chỉ còn là tiếng sóng vỗ mạn thuyền.
Từ: Judah Lewis
Tới: Laura Blacklock
Đã gửi: Thứ Ba ngày 22 tháng 9
Chủ đề: Em có ổn không?
Này em yêu, anh không nhận được tin tức gì của em từ sau email ngày Chủ nhật. Anh không rõ tin nhắn của bọn mình có đến nơi không. Em có nhận được thư trả lời hay tin nhắn anh gửi em ngày hôm qua không?
Anh bắt đầu thấy lo rồi đấy, hy vọng em không nghĩ anh đang chui rúc xó nào đó và liếm vết thương. Anh không làm thế. Anh yêu em, anh nhớ em, anh đang nghĩ về em.
Đừng bận tâm những chuyện xảy ra ở nhà - cái răng của anh ổn. Anh nghĩ nó sẽ bắt lại vào hàm như bác sĩ bảo thôi. Dầu sao thì hiện anh cũng đang tự điều trị bằng vodka.
Kể cho anh nghe chuyến đi thế nào nhé - hoặc nếu em bận thì để lại cho anh một dòng để anh biết em vẫn ổn.
Yêu em, J
Từ: Rowan Lonsdale
Tới: Laura Blacklock
cc: Jennifer West
Đã gửi: Thứ Tư ngày 23 tháng 9
Chủ đề: Cập nhật?
Lo, làm ơn trả lời email chị gửi yêu cầu một bản báo cáo tình hình chuyến đi từ hai ngày trước. Jenn bảo chị là em vẫn chưa nộp gì hết, bọn chị mong nhận được bài viết vào ngày mai - ít nhất cũng phải là một mẩu ngắn nhé.
Hãy báo cho Jenn biết càng sớm càng tốt là em định viết về cái gì, rồi cc luôn cho chị.
Rowan
❀ ❀ ❀
[1] Carl Linnaeus (1707-1778) là một nhà thực vật học, bác sĩ kiêm nhà động vật học người Thụy Điển, người đã đặt nền móng cho hệ thống danh pháp hiện đại.
[2] Tove Jansson là tiểu thuyết gia và họa sĩ truyện tranh người Phần Lan. Moomin là một nhân vật truyện tranh nổi tiếng do Jansson sáng tạo ra.