Cô Gái Trong Cabin Số 10

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15

❊ ❊ ❊

Chẳng có lý do gì, ít nhất là trên hồ sơ, giải thích tại sao tôi cần mấy viên thuốc đó. Tôi có một tuổi thơ tuyệt vời, bố mẹ yêu thương, nói chung là hoàn hảo. Tôi không bị đánh đập, không bị ngược đãi, không bị kỳ vọng phải đạt toàn điểm tuyệt đối. Cuộc sống của tôi tràn ngập tình yêu và sự ủng hộ. Nhưng chẳng hiểu sao chừng đó vẫn là không đủ.

Erin bạn tôi nói rằng mỗi người chúng ta đều có một con quỷ bên trong, một giọng nói thì thầm rằng chúng ta chẳng tốt đẹp gì đâu, rằng nếu không nắm lấy cơ hội đề bạt, hay đứng đầu kỳ thi, thì chúng ta sẽ để lộ ra cho thế giới thấy rõ mình kỳ thực là một thứ bị thịt vô giá trị đến mức nào. Có thể điều đó đúng. Có thể đơn giản chỉ là giọng nói bên trong tôi lớn tiếng hơn của những người khác mà thôi.

Nhưng tôi không nghĩ mọi chuyện đơn giản như thế. Cơn trầm cảm tôi sa vào sau khi đậu đại học không phải là về những kỳ thi và lòng tự tôn, mà là một thứ gì khác hơn, một thứ thuộc về sinh hóa, một thứ không liệu pháp trị liệu bằng lời nói nào có thể chữa nổi.

Liệu pháp nhận thức hành vi, tư vấn, trị liệu tâm lý - không gì hiệu quả bằng những viên thuốc. Lissie nói cái trò cân bằng cảm xúc bằng hóa chất thật đáng sợ, chẳng khác gì uống một thứ có thể làm thay đổi con người thực của ta. Nhưng tôi lại không nhìn nhận sự việc theo cách ấy; với tôi thuốc giống như lớp trang điểm - không phải là cải trang, mà là cách để khiến tôi thực với bản chất của mình hơn, bớt thô ráp đi. Con người tốt nhất tôi có thể phô ra.

Ben đã từng thấy tôi khi không có lớp “trang điểm”. Và anh ta bỏ rơi tôi. Tôi đã tức giận suốt một thời gian dài, nhưng sau cùng tôi nhận ra mình không đổ lỗi cho anh ta. Cái năm tôi hai lăm tuổi thật tồi tệ kinh khủng. Nếu có thể bỏ rơi chính mình, hẳn tôi đã làm thế.

Nhưng điều đó không bào chữa được cho những gì Ben vừa làm.

“Mở ra!”

Tiếng bàn phím máy tính xách tay lách cách ngừng lại, rồi vang lên tiếng ghế đẩy ra sau. Rồi cánh cửa cabin được thận trọng mở ra.

“Vâng?” Gương mặt Ben ló ra, biểu cảm của anh ta chuyển sang ngạc nhiên khi thấy tôi. “Lo! Em làm gì ở đây?”

“Thế anh nghĩ tôi làm gì?”

Anh ta thật tử tế khi tỏ ra hơi bối rối. “À, chuyện đó.”

“Vâng, chuyện đó,” tôi xô qua anh ta rồi bước vào phòng. “Anh đã kể cho Nilsson,” tôi gằn giọng.

“Nghe này...” Anh ta giơ một tay, vẻ dỗ dành, nhưng tôi đến đây không phải để được dỗ dành.

“Đừng có nghe này với tôi. Sao anh có thể làm thế, Ben? Mất bao lâu thì anh phun hết ra những thứ đó - suy nhược thần kinh, thuốc, chuyện tôi suýt mất việc - anh kể hết với anh ta rồi hả? Anh đã kể cho anh ta nhưng ngày tôi còn không mặc nổi quần áo, không thể rời khỏi nhà chưa?”

“Không! Tất nhiên là không rồi. Chúa ơi, sao em lại nghĩ thế?”

“Vậy là chỉ kể chuyện tôi uống thuốc thôi chứ gì? Và chuyện tôi bị đột nhập rồi thêm vài tình tiết thêm mắm dặm muối để khiến người ta nghĩ rằng nhất định không nên tin tôi?”

“Không! Không phải như thế!” Anh ta bước tới cửa hiên rồi quay lại nhìn tôi, hai tay vò đầu khiến tóc dựng đứng. “Anh chỉ - chết tiệt, chuyện cứ thế tuôn ra. Anh không biết sao nữa. Anh ta làm việc của mình rất giỏi.”

“Anh là nhà báo cơ mà! Lúc cần nói câu ‘miễn bình luận’ thì anh cất nó ở đâu rồi?”

“Miễn bình luận,” anh ta rên rỉ.

“Anh không hiểu được mình vừa làm gì đâu,” tôi nói. Tay tôi siết lại thành nắm đấm, móng bấm vào lòng bàn tay và tôi bắt mình phải xòe chúng ra, chà đôi bàn tay đau điếng vào quần jean.

“Ý em là sao? Nào, từ từ đã, anh cần một cốc cà phê. Em muốn uống không?”

Tôi muốn bảo anh ta xéo mẹ đi. Nhưng sự thật là tôi cũng muốn một cốc cà phê. Tôi khinh khỉnh gật đầu.

“Sữa, không đường, phải không?”

“Phải.”

“Có những thứ vẫn chẳng thay đổi,” anh ta nói khi đổ nước khoáng vào máy pha espresso và nhét vào đó một viên cà phê. Tôi quắc mắt nhìn anh ta.

“Vô số thứ đã thay đổi, anh biết điều đó. Sao anh có thể nói với anh ta những chuyện kia?”

“Anh - anh không biết nữa.” Ben lại vò tay lên cái đầu rối bù rồi nắm tóc như kiểu nếu kéo đủ mạnh anh ta có thể lôi ra một lời giải thích từ trong đầu. “Anh ta gặp anh khi anh từ phòng ăn sáng trở về, chặn anh ở hành lang và nói rằng anh ta thấy lo cho em - chuyện về tiếng động trong đêm - anh thì vẫn váng vất và thực sự là không thể hiểu được anh ta đang nói về chuyện gì. Đầu tiên anh tưởng anh ta đang nói về vụ đột nhập. Rồi anh ta bắt đầu bảo rằng em đang trong tình trạng không được khỏe - Chúa ơi, Lo, anh xin lỗi, không phải là anh đến đập cửa phòng anh ta mà hăm hở buôn chuyện đâu. Thế rốt cục anh ta đã nói về cái gì vậy?”

“Không quan trọng.” Tôi cầm lấy cốc cà phê anh ta chìa ra. Vẫn nóng quá chưa uống được, tôi ôm nó trên lòng.

“Có quan trọng đấy. Rõ là nó khiến em hoảng loạn. Tối qua có chuyện gì xảy ra à?”

Chừng 95% trong tôi muốn bảo Ben Howard xéo đi, rằng anh ta đã tự vứt bỏ sự tin cậy của tôi khi ba hoa về đời tư và việc tôi không đáng tin với Nilsson, trong tư cách nhân chứng. Không may cho tôi là 5% còn lại dường như đặc biệt có sức thuyết phục.

“Tôi...” Tôi nuốt xuống cơn đau ở cổ họng, cùng cái khao khát muốn kể cho ai đó về những gì đã xảy ra. Có thể nếu tôi kể cho Ben thì anh ta sẽ cho tôi một gợi ý nào đó mà tôi chưa từng nghĩ đến? Sau rốt, anh ta một phóng viên. Và, mặc dù rất khó chịu khi phải thừa nhận điều này, anh ta là một phóng viên khá được nể trọng.

Tôi hít một hơi thật sâu rồi thuật lại câu chuyện tôi đã kể cho Nilsson tối qua, lần này hơi lắp bắp bởi tôi cứ cố khiến cho câu chuyện trở nên thuyết phục.

“Và vấn đề là cô ấy ở đó, Ben,” tôi kết thúc. “Anh phải tin tôi!”

“Oa, oa,” Ben nói. Anh ta chớp mắt. “Tất nhiên là anh tin em rồi.”

“Thật ư?” Tôi ngạc nhiên đến mức đặt cốc cà phê đánh cốp xuống mặt bàn bằng kính. “Thật chứ?”

“Tất nhiên là anh tin em rồi. Anh chưa bao giờ nghĩ em tưởng tượng ra bất kỳ thứ gì.”

“Nilsson thì không tin.”

“Anh có thể hiểu tại sao Nilsson không muốn tin em,” Ben nói. “Ý anh là, chúng ta đều biết rằng tội ác xảy ra trên du thuyền là một vấn đề rất mập mờ.”

Tôi gật đầu. Tôi cũng biết, giống như anh ta - hay bất kỳ nhà báo du lịch nào - về những lời đồn thổi nhan nhản xoay quanh mấy chiếc du thuyền. Không phải chuyện chủ sở hữu của chúng dính líu đến tội ác nhiều hơn các lĩnh vực khác trong ngành công nghiệp du lịch, mà là có một vùng xám cố hữu xoay quanh những tội ác được thực hiện trên biển.

Aurora không giống một số thuyền mà tôi từng viết về. Những thuyền đó giống thành phố nổi hơn là tàu thủy, nhưng nó cũng có chung tình trạng mâu thuẫn pháp lý trên vùng biển quốc tế. Thậm chí với những vụ việc mất tích được báo cáo đầy đủ chi tiết, thì bê bối cũng sẽ được lấp liếm đi. Do không có một quyền tài phán rõ ràng chịu trách nhiệm, nên công việc điều tra thường phụ thuộc vào đội an ninh trên thuyền, những người được thuê bởi công ty du thuyền và sẽ không dám gây rối, ngay cả khi họ muốn làm thế.

Tôi xoa tay, đột nhiên thấy lạnh dù không khí trong cabin ấm sực mùi khói thuốc. Tôi đến chỗ Ben để chửi bới anh ta một trận, những mong cải thiện tâm trạng. Điều tôi không ngờ đến nhất chính là anh ta lại ủng hộ nỗi lo lắng của tôi.

“Điều khiến tôi lo lắng nhất...” tôi nói chậm, rồi ngừng lại.

“Là gì?” Ben sốt sắng.

“Cô ấy... Cô ấy cho tôi mượn một cây mascara. Đấy là lý do tôi gặp cô ấy - tôi không biết là cabin đó trống, nên tôi đã gõ cửa để hỏi mượn.”

“Phải rồi...” Ben nhấp một ngụm cà phê nữa. Phần mặt lộ ra trên cốc cà phê có vẻ bối rối, rõ ràng là không biết tôi đang định nói gì. “Và?”

“Và... nó biến mất rồi.”

“Cái gì - cây mascara ư? Em nói biến mất là sao?”

“Nó biến mất rồi. Khi tôi ra ngoài với Nilsson thì có người đã lấy nó khỏi cabin. Tất cả những thứ khác tôi có thể bỏ qua - nhưng nếu không có chuyện gì mờ ám xảy ra, thì tại sao lại lấy cây mascara? Đấy là bằng chứng hữu hình duy nhất tôi nắm trong tay để chứng minh người ở trong cabin đó, và giờ nó đã biến mất.”

Ben đứng dậy, bước ra hiên rồi kéo tấm mành mỏng tang lại, mặc dù đó có vẻ là một hành động kỳ cục và không cần thiết. Tôi thoáng có một ý nghĩ kỳ lạ, rằng anh ta không muốn đối mặt tôi, và đang nghĩ xem nên nói gì.

Rồi anh ta quay lại và ngồi xuống cuối giường, biểu cảm của anh ta là vẻ quả quyết thuần túy nhà nghề.

“Còn ai khác biết về chuyện này?”

“Về cây mascara ư?” Một câu hỏi quan trọng, và cũng là câu hỏi mà tôi chán nản nhận ra rằng mình chưa từng nghĩ đến mà tự hỏi bản thân. “Ờ... tôi nghĩ... Chẳng có ai, ngoại trừ Nilsson.”

Ý nghĩ đó chẳng làm tôi thấy yên tâm cho lắm. Chúng tôi nhìn nhau một lúc lâu, đôi mắt Ben phản chiếu những câu hỏi bất an thình lình khuấy đảo trong tôi.

“Nhưng anh ta đi cùng tôi,” cuối cùng tôi nói. “Khi cây mascara bị lấy đi.”

“Anh ta ở với em suốt à?”

“Chà... ít nhiều là thế... Không, đợi đã, anh ta có đi một lúc. Tôi ăn sáng. Rồi nói chuyện với Tina.”

“Vậy thì có thể anh ta đã lấy nó.”

“Phải,” tôi đáp chậm rãi. “Anh ta có thể.” Có phải anh ta chính là kẻ đã vào cabin của tôi không? Có phải đấy là cách anh ta biết về tiền sử dùng thuốc của tôi, cùng lời khuyên không nên uống thuốc cùng rượu?

“Nghe này,” cuối cùng Ben nói, “anh nghĩ em nên tới gặp Richard Bullmer đi.”

“Huân tước Bullmer ư?”

“Ừ. Anh kể rồi đó, tối qua anh chơi bài xì với anh ta và có vẻ anh ta là một gã đứng đắn. Mà cứ rầy rà với Nilsson thì cũng chẳng để làm gì - Bullmer mới là người có quyền quyết định. Trước đây bố anh lúc nào cũng nói thế này, nếu ta có phàn nàn thắc mắc điều gì thì cứ lên thẳng cấp cao nhất.”

“Đây không phải là vấn đề dịch vụ khách hàng, Ben.”

“Không quan trọng. Nhưng tay Nilsson ấy - chuyện này có vẻ không hay với anh ta, phải không? Và nếu có người nào đó trên con thuyền này có thể bắt Nilsson chịu trách nhiệm và đưa ra lời giải thích, thì đó là Bullmer.”

“Nhưng anh ta sẽ làm thế chứ? Ý tôi là bắt Nilsson phải khai ra ấy? Anh ta cũng có động cơ chẳng kém gì Nilsson để bưng bít vụ việc này. Thậm chí còn có nhiều hơn. Như anh đã nói, chuyện này có nguy cơ tác động rất xấu đến anh ta. Nếu nó rò rỉ ra, tương lai của Aurora sẽ rất bấp bênh. Ai lại muốn trả cả mấy vạn bảng cho một chuyến du lịch hạng sang trên một con thuyền đã có người chết?”

“Anh cá là vẫn còn thị trường ngách,” Ben nói, với một nụ cười hơi kỳ dị.

Tôi rùng mình.

“Nghe anh này, đến gặp anh ta chẳng thể có hại gì,” Ben vẫn khăng khăng. “Ít nhất chúng ta biết anh ta ở đâu tối qua, thế là nhiều hơn những gì chúng ta biết về Nilsson rồi.”

“Anh có chắc là không người nào ở cùng anh tối qua rời khỏi cabin chứ?”

“Tuyệt đối chắc. Bọn anh ở buồng của Jenssen - chỉ có một cái cửa và anh ngồi đối diện cái cửa ấy suốt cả buổi. Mọi người đứng dậy đi vệ sinh và làm các thứ, nhưng họ đều sử dụng phòng tắm trong cabin. Chloe ngồi đọc một lúc rồi đi vào phòng ngủ bên cạnh - nếu muốn ra ngoài thì bắt buộc phải đi qua phòng chính. Sớm nhất là bốn giờ sáng mới có người ra về. Em có thể gạch tên bốn gã đàn ông, cộng thêm Chloe nữa.”

Tôi cau mày, nhẩm đếm các hành khách trên đầu ngón tay. “Vậy là có... anh, Bullmer... Archer... Lars và Chloe. Như vậy là còn Cole, Tina, Alexander, Owen White và cô Bullmer. Cộng thêm nhân viên nữa.”

“Cô Bullmer ư?” Ben nhướn lông mày. “Anh thấy vậy thì có hơi quá.”

“Sao?” Tôi thủ thế. “Có thể cô ấy không ốm yếu như vẻ bề ngoài.”

“Ừ, phải rồi, cô ấy đã mất bốn năm giả vờ bị ung thư tái phát và quằn quại với hóa trị và xạ trị chỉ để có chứng cứ ngoại phạm trong vụ án giết một cô gái đâu đâu.”

“Không cần phải mỉa mai thế đâu. Tôi chỉ đưa ra ý kiến thôi.”

“Dù vậy anh nghĩ hành khách trên thuyền chỉ là đầu mối dẫn vào ngõ cụt,” Ben nói. “Em không thể lảng tránh sự thực rằng chỉ có em và Nilsson biết về cây mascara đó. Nếu anh ta không lấy nó, thì chắc chắn anh ta đã kể với kẻ lấy nó.”

“Chà...” tôi nói, rồi dừng lại. Một cảm giác bất an, không phải không có chút tội lỗi, đang râm ran lan xuống từ gáy tôi.

“Sao?”

“Tôi - tôi đang cố nhớ lại. Khi Nilsson đưa tôi đi gặp hội nhân viên. Tôi không thể nhớ chính xác... liệu tôi có nhắc đến chuyện đó không.”

“Chúa ơi, Lo,” Ben nói. Anh ta nhìn tôi chằm chằm. “Em có nói hay không? Chuyện này quan trọng đấy.”

“Tôi biết điều đó,” tôi cáu kỉnh nói. Con thuyền ngóc lên rồi hạ xuống sau một đợt sóng, và cảm giác buồn nôn lại xâm chiếm tôi, cái bánh kếp đang tiêu hóa dở ọc ạch khó chịu trong bụng. Tôi cố nghĩ đến những cuộc nói chuyện ở boong dưới, nhưng khó mà nhớ được. Lúc đó tôi vẫn còn váng vất trong đầu, bị rối trí bởi thứ ánh sáng nhân tạo tù túng trong những cabin hẹp không cửa sổ ấy. Tôi nhắm mắt, cảm thấy chiếc sô pha tròng trành và nghiêng đi bên dưới, và cố gắng nhớ lại căng tin của nhân viên, những gương mặt dễ thương, sạch sẽ của các cô gái nghiêng nghiêng hướng về phía tôi. Tôi đã nói cái quái gì nhỉ?

“Tôi không nhớ được,” rốt cục tôi nói. “Thực sự là không thể nhớ được. Nhưng có thể tôi đã nhắc đến. Tôi không nghĩ là tôi đã làm thế, nhưng cũng không thể cam đoan là không.”

“Chết tiệt. Vậy là mọi thứ phức tạp hơn đáng kể rồi đấy.”

Tôi bình tĩnh gật đầu.

“Nghe này,” rốt cục Ben nói, “có thể một trong những hành khách khác đã nhìn thấy gì đó. Một người nào đó ra vào cái cabin trống, hoặc kẻ đã vào phòng em lấy trộm cây mascara. Những người nào ở cabin đuôi thuyền nhỉ?”

“Ờ...” Tôi xòe ngón tay ra đếm. “Chà, có tôi ở buồng chín, anh buồng tám. Alexander ở... tôi nghĩ có thể là buồng sáu?”

“Tina ở buồng năm,” Ben trầm ngâm nói. “Anh đã thấy cô ta vào đó tối qua. Thế nghĩa là Archer phải ở buồng bảy. Được rồi. Muốn đi phỏng vấn chút không?”

“Được,” tôi nói. Không biết vì sao - có lẽ là do cơn giận dữ dâng trào, hoặc cảm giác mình được tin tưởng, hoặc có lẽ chỉ là do đã có một kế hoạch - mà giờ tôi đã cảm thấy khá hơn. Nhưng rồi tôi nhìn đồng hồ trên máy tính xách tay của Ben. “Chết tiệt, giờ tôi không đi được rồi. Tôi còn phải tham gia cái vụ spa chết bằm cho khách nữ nữa.”

“Mấy giờ thì kết thúc?” Ben hỏi.

“Không biết. Nhưng tôi không nghĩ nó sẽ lấn sang giờ ăn trưa. Hội đàn ông định làm gì?”

Ben đứng dậy và giở tờ gấp lịch trình. “Đi thăm quan buồng lái. Phân biệt giới tính kinh nhỉ - đàn ông thì công nghệ, phụ nữ thì spa. À không, đợi đã, có một buổi spa cho đàn ông vào sáng ngày mai. Chắc là do chỗ đó hơi nhỏ.” Anh ta nhặt một tập giấy và cái bút trên bàn trang điểm. “Anh cũng phải đi rồi, nhưng để xem chúng ta tìm hiểu được gì trong sáng nay, sau đó cả hai có thể gặp nhau ở đây sau bữa trưa và gõ cửa phòng những hành khách còn lại. Sau đó chúng ta sẽ mang cả đến cho Bullmer. Biết đâu anh ta có thể bắt thuyền đổi hướng - đưa cảnh sát địa phương lên thuyền.”

Tôi gật đầu. Nilsson không tỏ ra nghiêm túc với tôi, nhưng nếu chúng tôi có thể tìm ra được gì đó chứng thực cho câu chuyện của tôi - dù chỉ là thêm một người nữa cũng nghe thấy tiếng nước bắn - thì Bullmer sẽ rất khó có thể gạt chuyện này đi được.

“Tôi cứ nghĩ về cô ấy,” tôi buột miệng khi chúng tôi ra tôi cửa.

Ben dừng lại, tay đặt trên chốt cửa. “Ý em là sao?”

“Về cô gái - cô gái ở buồng Palmgren. Những gì cô ấy cảm thấy khi hắn tới phòng cô ấy - liệu cô ấy có còn sống không khi rơi xuống nước. Tôi cứ nghĩ mãi đến cái thời khắc ấy, cảm giác choáng váng bởi nước lạnh, còn con thuyền thì cứ đi xa dần...”

Cô ấy có hét lên khi bị sóng nhồi không? Cô ấy có kêu cứu khi nước biển tràn vào phổi, lồng ngực vật lộn khi cái lạnh thấu xương không ngừng ngốn ngấu và ô xi bị rút kiệt khỏi máu, và cô ấy cứ chìm sâu xuống mãi...

Và xác cô ấy, trôi dạt qua cái tối tăm im lìm lạnh lẽo của biển cả sâu thầm, trắng như xương, những đàn cá rỉa mắt cô ấy, tóc cô bồng bềnh trong dòng nước như một làn khói đen... Tôi cũng nghĩ tất cả những thứ đó, mặc dù không nói ra.

“Đừng,” Ben nói. “Đừng để tưởng tượng choán ngợp đầu óc em, Lo.”

“Tôi biết cảm giác đó thế nào mà,” tôi nói khi anh ta mở cửa. “Anh không hiểu u? Tôi biết cô ấy cảm thấy thế nào, khi ai đó đến tìm cô ấy vào lúc nửa đêm. Đó là lý do tôi phải tìm cho ra những kẻ đã làm thế với cô ấy.”

Và còn bởi nếu tôi không tìm ra, thì tôi sẽ là người tiếp theo.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.