“Cô Blacklock!” Tiếng gõ cửa lại vang lên, và tôi nghe tiếng thẻ khóa tổng tra vào cửa, rồi một tiếng rầm khi cửa mở ra được một phân, kéo căng dây xích chốt.
“Cô Blacklock, Johann Nilsson đây. Cô ổn chứ? Đã tám giờ rồi. Cô bảo tôi đến gọi cô?”
Cái gì? Tôi chật vật chống khuỷu tay, đầu đau điếng. Vì lẽ quái nào tôi lại bảo người ta gọi mình dậy lúc tám giờ cơ chứ?
“Chờ một giây!” tôi nói. Miệng tôi khô rang, như thể đã nuốt cả nắm tro, rồi tôi với tay lấy ly nước bên bàn và nốc vài ngụm. Trong khi tôi làm thế, ký ức buổi tối hôm qua tràn về trong trí óc.
Tiếng ồn đã đánh thức tôi giữa đêm.
Máu trên tấm kính ngoài hiên.
Cái xác.
Tiếng tõm...
Tôi vung chân khỏi giường, cảm thấy con thuyền chuyển động và tròng trành bên dưới, và đột nhiên buồn nôn dữ dội.
Tôi chạy vào nhà tắm, vừa kịp đứng trước bồn rửa là bắt đầu ồng ộc nôn bữa tối hôm qua xuống lớp sứ trắng tinh.
“Cô Blacklock?”
Xéo. Đi.
Những lời này không thoát được khỏi miệng tôi, nhưng có lẽ tiếng nôn ồng ộc đã truyền đạt thay điều đó, bởi cánh cửa đóng lại rất nhẹ nhàng, và tôi có thể đứng thẳng người để nhìn lại bản thân mà không có khán giả nào bên cạnh.
Trông tôi thật đáng sợ. Phần còn lại của lớp trang điểm mắt đã nhòe dọc hai bên má, tóc xơ xác, mắt vằn tia máu, viền mắt cũng đỏ quạch. Vết bầm trên má tôi chỉ dự phần vào cái ấn tượng tổng thể.
Biển sáng nay có vẻ động hơn, mọi thứ quanh bồn rửa bị xô lệch và va đập lanh canh. Tôi choàng áo ngủ quanh người, quay lại phòng chính rồi mở hé cánh cửa ít nhất có thể - chỉ vừa đủ để nhìn qua.
“Tôi phải tắm,” tôi nói cộc lốc, “anh không phiền đợi một chút chứ?” rồi đóng cửa lại.
Bên trong phòng tắm tôi giật nước toilet và lấy giấy lau sạch thành bồn cầu, cố xóa mọi dấu vết nôn mửa vừa rồi. Nhưng khi đứng lên, lọt vào mắt tôi không phải là gương mặt xám xịt tan nát của mình, mà là thanh mascara Maybelline, nghiêm trang như một anh lính bên bồn rửa. Tôi đương đứng, bấu tay vào bàn trang điểm, hơi thở dồn dập, thì con thuyền tròng trành và mọi thứ trên mặt bàn xô lệch ngả nghiêng, thanh mascara rơi xuống, bị nứt một vết nhỏ và lăn vào thùng rác. Tôi với tay nhặt nó lên, giữ nó trong nắm tay siết chặt.
Đây là bằng chứng hữu hình duy nhất rằng cô gái đó có tồn tại, rằng không phải là tôi đang phát điên.
Mười phút sau, tôi mặc quần jean và chiếc sơ mi trắng phẳng phiu được là bởi một ai đó đã dỡ va li của tôi ra, mặt tôi nhợt nhạt nhưng sạch sẽ. Tôi gỡ dây xích khóa và mở cửa, thấy Nilsson đang kiên nhẫn đợi ngoài hành lang, nói chuyện vào máy điện đàm. Anh ta ngước lên khi thấy tôi và tắt máy đi.
“Tôi rất xin lỗi, thưa cô Blacklock,” anh ta nói. “Có lẽ tôi không nên đánh thức cô nhưng vì tối qua cô nhất quyết...”
“Tôi ổn,” tôi nói, răng nghiến lại. Tôi không có ý cộc lốc như vậy, nhưng nếu mở miệng nhiều quá tôi sẽ lại thấy buồn nôn. Ơn Chúa, con thuyền tròng trành cho tôi cớ để giải thích cái dạ dày trái tính này. Bị say sóng thì cũng hơi mất mặt, nhưng thôi thì vẫn còn đỡ a-ma-tơ hơn bị coi là sâu rượu.
“Tôi đã nói chuyện với đội ngũ nhân viên,” Nilsson nói. “Không có ai bị báo mất tích, nhưng tôi nghĩ cô nên xuống khu nhân viên để xem liệu người phụ nữ cô nói có ở đó không. Như thế thì cô sẽ không phải băn khoăn nữa.”
Tôi định phản đối rằng cô ấy không phải là nhân viên, trừ phi lao công dọn phòng mặc nhõn áo phông Pink Floyd trên người. Nhưng rồi tôi không nói gì. Tôi muốn tận mắt nhìn các boong dưới.
Tôi đi theo anh ta qua hành lang tròng trành tới một cánh cửa nhỏ cho nhân viên cạnh cầu thang. Cửa có khóa mã số, Nilsson bấm nhanh mật mã sáu số và cánh cửa bật mở. Nếu đứng bên ngoài, tôi hẳn sẽ nghĩ cái cửa này giấu sau nó tủ đồ lau dọn, nhưng hóa ra lại có một thềm nhỏ được chiếu sáng lờ mờ và dãy bậc thang hẹp dẫn xuống boong dưới. Khi chúng tôi đi xuống, tôi lo lắng nhận ra hẳn giờ đây chúng tôi đã ở dưới mớn nước, hoặc rất gần rồi.
Chúng tôi bước xuống một hành lang tù túng gây cho ta ấn tượng hoàn toàn khác với khu vực dành cho hành khách. Mọi thứ đều khác: trần thấp hơn, nhiệt độ cao hơn vài độ, hai bên tường cũng gần hơn và được sơn sắc be xám xịt. Đèn ở đây là đèn huỳnh quang lờ nhờ, với tần số nhấp nháy cao lạ lùng khiến mắt ta mỏi gần như tức thì.
Cửa xếp dọc hai bên trái phải, chừng tám hoặc mười cabin nhồi vào không gian tương đương hai cabin ở tầng khách. Chúng tôi đi ngang qua một cánh cửa khép hờ, dẫn vào một cabin không cửa sổ được chiếu sáng bởi cùng ánh đèn huỳnh quang xám xịt, một người phụ nữ Á châu đang ngồi trên giường tầng bên trong, đang đi tất chân, đầu và vai rúm ró trong khoảng không chật hẹp dưới giường tầng trên. Cô ta ngước lên với vẻ lo lắng khi Nilsson đi qua, rồi khi nhìn thấy tôi, gương mặt cô ta cứng đờ vì sợ, như con thỏ hoảng loạn trước ánh đèn pha. Mất một thoáng, cô ta cứ ngồi đó bất động, rồi với một cú máy giật, cô ta thò chân ra đá cánh cửa đóng lại, âm thanh cửa sập trong không gian kín nghe chẳng khác nào tiếng súng.
Tôi thấy mình đỏ mặt như gã biến thái nhìn trộm phụ nữ bị bắt quả tang, rồi vội chạy theo tấm lưng của Nilsson.
“Lối này,” Nilsson ngoái lại nói, và chúng tôi rẽ vào một cánh cửa đề “Phòng ăn nhân viên”.
Căn phòng này ít nhất cũng lớn hơn, và tôi cảm thấy nỗi sợ không gian kín vơi đi đôi chút. Trần phòng vẫn thấp, và cũng chẳng có cửa sổ, nhưng căn phòng thông sang một phòng ăn nhỏ, giống phiên bản mini của căng tin bệnh viện. Chỉ có ba bàn, mỗi bàn chắc ngồi được chùng sáu người, mặt bàn bằng formica, tay vịn bằng sắt, cùng cái mùi rất nồng của việc nấu nướng tập trung kết hợp lại càng làm rõ thêm sự khác biệt giữa boong này và boong hành khách bên trên.
Camilla Lidman ngồi một mình một bàn, đang uống cà phê và lướt qua một bảng tính gì đó trên máy tính xách tay. ở đầu kia phòng, năm cô gái đang ngồi quanh cái bàn còn lại, ăn bữa sáng là bánh ngọt. Họ ngước lên khi chúng tôi bước vào.
“Hej, Johann,” một người nói, theo sau là một tràng tiếng Thụy Điển, mà cũng có thể là tiếng Đan Mạch, tôi không chắc nữa.
“Xin hãy nói tiếng Anh nào,” Nilsson nói, “vì chúng ta có khách ở đây. Cô Blacklock đang cố lần theo một phụ nữ cô ấy đã nhìn thấy trong cabin bên cạnh - cabin số 10, Palmgren. Một phụ nữ da trắng, tóc đen dài, tuổi trên dưới hoặc đầu ba mươi, nói tiếng Anh trôi chảy.”
“Chà, có tôi với Birgitta,” một cô gái mỉm cười nói, hất đầu về phía người bạn ngồi đối diện. “Tên tôi là Hanni. Nhưng tôi không nghĩ mình đã từng bước vào cabin Palmgren. Tôi chủ yếu làm việc sau quầy bar. Birgitta?”
Tôi lắc đầu. Hanni và Birgitta đều da trắng tóc đen, nhưng cả hai không phải cô gái trong cabin, và ngay cả khi tiếng Anh của Hanni vào loại xuất sắc thì ta vẫn nhận ra được âm sắc Scandinavia trong đó.
“Tôi là Karla, thưa cô Blacklock,” một trong hai cô gái tóc vàng nói. “Chúng ta đã gặp nhau hôm qua nếu cô còn nhớ. Và chúng ta đã nói chuyện qua điện thoại.”
“Tất nhiên rồi,” tôi lơ đãng nói, nhưng đang mải quan sát gương mặt của hai cô gái kia nên chẳng thể chú tâm vào lời cô ấy. Karla và cô gái thứ tư ngồi ở bàn đều tóc vàng, còn cô thứ năm có màu da của dân Địa Trung Hải và tóc rất ngắn, gần như kiểu đầu pixie. Quan trọng hơn, không người nào trong số họ có gương mặt sinh động, sốt ruột như trong ký ức của tôi.
“Đều không phải,” tôi nói. “Còn người nào khác khớp với mô tả không? Những người lau dọn thì sao? Hay đội thuyền?”
Birgitta cau mày rồi nói gì đó với Hanni bằng tiếng Thụy Điển. Hanni lắc đầu rồi nói bằng tiếng Anh.
“Đội thuyền chủ yếu là đàn ông. Có một phụ nữ nhưng cô ấy tóc đỏ và có lẽ đã bốn năm mươi tuổi rồi, tôi nghĩ vậy. Nhưng có một lao công tên là Iwona giống với mô tả của cô. Cô ấy là người Ba Lan.”
“Tôi sẽ đi gọi cô ấy,” Karla nói. Cô ta mỉm cười đứng dậy rồi lách ra từ sau bàn.
“Còn Eva nữa,” Nilsson ân cần nói khi Karla rời phòng. “Cô ấy là một trong các chuyên viên trị liệu spa trên thuyền,” anh ta giải thích thêm với tôi.
“Cô ấy đang ở phòng spa, tôi nghĩ vậy,” Hanni nói. “Để thu xếp bắt đầu ngày làm việc. Nhưng cô ấy ít nhất cũng phải cuối ba mươi, có thể đầu bốn mươi.”
“Xong ở đây, chúng ta sẽ đến nói chuyện với cô ấy,” Nilsson nói.
“Đừng quên Ulla.” Cô gái để kiểu đầu pixie lần đầu lên tiếng.
“À phải rồi,” Nilsson nói. “Cô ấy đang vào ca à? Ulla là một trong những chiêu đãi viên ở các cabin đầu thuyền và buồng suite Nobel,” anh ta nói thêm với tôi.
Cô gái gật đầu. “Vâng, nhưng tôi nghĩ cô ấy sắp nghỉ rồi.”
“Cô Blacklock,” một giọng nói vang lên sau lưng tôi, và tôi quay lại thì thấy Karla đang giới thiệu một đồng nghiệp, một người phụ nữ lùn nhỏ tầm bốn mươi, tóc nhuộm đen với chân tóc điểm bạc. “Đây là Iwona.”
“Tôi có thể giúp gì?” Iwona nói, giọng Ba Lan đặc sệt. “Có vấn đề phải không?”
Tôi lắc đầu. ‘Tôi rất xin lỗi...” Tôi không biết phải hướng câu trả lời ấy về phía Iwona, Nilsson hay Karla “Cô ấy - cô không phải là người phụ nữ tôi đã thấy. Nhưng tôi chỉ muốn nói điều này - chắc chắn người phụ nữ đó đang gặp rắc rối. Không phải chuyện trộm cắp hay thứ gì đó tương tự. Tôi thấy lo cho cô ấy - tôi đã nghe thấy một tiếng thét.”
“Một tiếng thét?” Cặp lông mày mảnh của Hanni gần như biến mất dưới lớp tóc mái, và cô nhìn Karla, cô này mở miệng chực nói gì đó nhưng từ phía sau chúng tôi, Camilla Lidman lên tiếng trước.
“Tôi chắc chắn không có ai trong đội thuyền là người phụ nữ mà cô đang tìm, cô Blacklock.” Cô ta bước qua phòng và đứng cạnh bàn, đặt tay lên vai Hanni. “Nếu thấy có vấn đề thì họ hẳn đã nói ngay. Chúng tôi là một nhóm rất... Cái từ đó là gì nhỉ? Rất mật thiết.”
“Rất gần gũi,” Karla nói. Ánh nhìn của cô ấy chuyển sang Camilla Lidman rồi lại quay về tôi, và cô ấy cười, mặc dầu đôi lông mày trơ trọi nhướn lên kia khiến ta không khỏi nghĩ đến một thái độ lo lắng, kém thuyết phục rất kỳ cục. “Chúng tôi là một thủy thủ đoàn rất hạnh phúc.”
“Thôi đừng bận tâm,” tôi nói. Có thể thấy tôi sẽ chẳng biết thêm được điều gì từ mấy cô gái này. Nhắc đến tiếng hét là một sai lầm, và giờ họ đã co cụm lại. Có lẽ nói chuyện với họ khi có mặt Camilla và Nilsson cũng là một sai lầm. “Đừng lo. Tôi sẽ đi nói chuyện với - Eva, phải không nhỉ? Và Ulla. Cảm ơn mọi người đã trò chuyện cùng tôi. Nhưng nếu mọi người nghe ngóng được gì, bất kỳ điều gì - thì tôi ở cabin số 9, Linnaeus. Hãy đến gặp tôi, lúc nào cũng được.”
“Chúng tôi không nghe thấy gì,” Hanni nói vẻ cương quyết. “Nhưng tất nhiên chúng tôi sẽ báo cho cô nếu có gì thay đổi. Chúc cô có một ngày tuyệt vời, cô Blacklock.”
“Cảm ơn,” tôi nói. Khi tôi quay đi, con thuyền tròng trành khiến mấy cô gái phát ra những tiếng kêu vui vẻ báo động nhau và cùng giữ chặt cốc cà phê của mình. Tôi loạng choạng, hẳn đã ngã nếu Nilsson không tóm lấy tay tôi.
“Cô ổn chứ, cô Blacklock?”
Tôi gật đầu, nhưng quả thật tay anh ta bóp mạnh quá, khiến cánh tay tôi đau điếng. Cú tròng trành choáng váng đó khiến đầu tôi như bị một cơn đau đâm thấu, và tôi ước giá mà mình đã làm một viên aspirin trước khi ra ngoài.
“Tôi thích việc Aurora là một con thuyền nhỏ, không giống như mấy con quái vật rẽ sóng ở Caribe, nhưng điều đó cũng có nghĩa là cô cảm nhận tác động của sóng lớn rõ hơn so với khi ở trên một con thuyền to. Cô chắc là mình vẫn ổn chứ?”
“Tôi ổn,” tôi nói cụt ngủn, xoa xoa tay. “Chúng ta đi gặp Eva nào.”
“Đầu tiên, chúng ta sẽ đi vòng qua nhà bếp,” Nilsson nói. “Rồi chúng ta có thể đi thẳng lên phòng spa để nói chuyện với Eva, và cuối cùng dừng lại ở phòng ăn sáng.” Anh ta có một danh sách nhân viên trong tay và đang gạch đi một vài cái tên. “Đấy là tất cả mọi người rồi, có lẽ chỉ thiếu hai thành viên đội thuyền và một vài chiêu đãi viên cabin.”
“Tốt,” tôi nói cộc lốc. Thực tế, tôi muốn thoát khỏi đây - thoát khỏi những bức tường giam hãm và những hành lang ngột ngạt, thoát khỏi ánh đèn xám xịt và cảm giác bị bủa vây, bị đánh bẫy bên dưới mớn nước. Tôi thoáng nghĩ đến một hình ảnh khủng khiếp: con thuyền va phải cái gì đó, nước tràn vào không gian kín, những cái miệng hớp hớp lấy từng mẩu không khí đang cạn kiệt dần.
Nhưng tôi không thể bỏ cuộc lúc này. Làm thế tức là thừa nhận thất bại, thừa nhận rằng Nilsson đã đúng. Tôi đi theo anh ta trên một hành lang dẫn tới mũi thuyền, cảm thấy sàn xê dịch và tròng trành còn mùi nấu nướng càng lúc càng nồng. Có mùi thịt lợn muối, dầu chiên, có mùi bơ không lẫn đi đâu được của bánh sừng bò đang nướng, nhưng cũng có cả mùi cá luộc, và nước xốt, và cái gì đó ngòn ngọt. Hỗn hợp mùi khiến tôi ứa nước miếng, không phải theo nghĩa tích cực, và tôi lại nghiến răng rồi bám vào thành lan can khi con thuyền leo lên một con sóng nữa rồi lao xuống, khiến dạ dày tôi nôn nao.
Tôi đang tự hỏi liệu có phải đã quá muộn để yêu cầu Nilsson đưa chúng tôi quay vòng lại thì anh ta dừng trước một cánh cửa sắt với hai ô kính, và đẩy mở nó ra. Những cái đầu đội mũ trắng quay lại, gương mặt họ tỏ ra ngạc nhiên một cách lịch sự khi thấy tôi đứng sau Nilsson.
“Hej, allal” Nilsson nói, lại bắn một tràng tiếng Thụy Điển. Anh ta quay về phía tôi. “Tôi xin lỗi, tất cả nhân viên trên boong và đội tiếp khách đều nói được tiếng Anh, nhưng không phải tất cả đầu bếp. Tôi vừa giải thích tại sao chúng ta ở đây.”
Có những nụ cười và những cái gật đầu, rồi một đầu bếp bước tới, chìa tay ra.
“Xin chào, cô Blacklock,” anh ta nói tiếng Anh thuần thục. “Tên tôi là Otto Jansson. Bất kỳ nhân viên nào của tôi cũng sẽ rất hân hạnh được giúp đỡ, mặc dù không phải ai cũng nói được tiếng Anh. Tôi có thể phiên dịch. Cô cần biết điều gì?”
Nhưng tôi không nói được. Tôi chỉ có thể nuốt nước bọt, nhìn xuống bàn tay xòe ra, đeo găng cao su trắng của đầu bếp, máu rần rật trong tai tôi.
Tôi ngước lên đôi mắt xanh thân thiện của anh ta, rồi lại nhìn xuống chiếc găng tay với những sợi lông màu đen lấp ló bị ép vào lớp cao su từ bên trong, và nghĩ Mình không được hét. Mình không được hét.
Jansson nhìn xuống tay mình, như thể để xem tôi đang há hốc miệng nhìn cái gì, rồi anh ta cười và lấy tay kia lột găng cao su ra. “Xin lỗi, tôi quên mất mình đang đi găng. Phải đeo khi chuẩn bị thực phẩm mà, cô biết đấy.”
Anh ta ném chiếc găng tay trắng mềm nhũn vào thùng rác, rồi bắt bàn tay èo uột mềm nhũn của tôi, nắm tay anh ta chặt, những ngón tay ấm áp và lấm tấm bột từ lớp phủ nhựa mủ.
“Tôi đang tìm một cô gái,” tôi nói, biết rằng mình hơi đường đột, nhưng tôi bàng hoàng đến nỗi không thể tỏ ra lịch sự hơn. “Tóc đen, tầm tuổi tôi hoặc trẻ hơn chút. Xinh, da trắng. Cô ấy không có âm sắc vùng khác - hoặc cô ấy là người Anh, hoặc là người thuần thục hai thứ tiếng.”
“Tôi xin lỗi,” Jansson nói với vẻ lấy làm tiếc, và trông anh ta đúng là thế thật. “Tôi không nghĩ có nhân viên nào của tôi khớp với mô tả đó, dù cô hoàn toàn có thể đi quanh chỗ này để xem có ai là cô gái mà cô đang tìm không. Tôi chỉ có hai nhân viên nữ và cả hai đều nói tiếng Anh khá kém. Jameela đang ở chỗ cửa phục vụ, Ingrid đang làm salad đằng sau khu nướng ở kia. Nhưng cả hai đều không khớp với mô tả của cô. Có thể là một trong các chiêu đãi viên hoặc bồi bàn chăng?”
Tôi nghển cổ nhìn hai phụ nữ anh ta vừa nhắc đến, và nhận ra anh ta nói đúng. Cả hai đều chẳng giống chút nào với cô gái tôi đã thấy. Mặc dù cô ấy đang cúi đầu và gù người vẻ né tránh, nhưng tôi đoan chắc Jameela chính là người phụ nữ châu Á tôi đã trông thấy trong cabin hồi nãy. Tôi nghĩ cô ta là người Pakistan hoặc Bangladesh - và chắc chắn là rất nhỏ con, thậm chí chưa được một mét rưỡi. Ingrid thì lại là người Scandinavia và phải nặng gần sáu chục cân, lại còn cao hơn tôi mười lăm phân lận. Khi tôi nhìn Ingrid, cô ấy đang chống tay lên hông và ngó tôi vẻ gây hấn, mặc dù tôi biết nghĩ thế thì thật không phải - chính chiều cao lừng lững kia đã khiến động tác chống tay mang vẻ hăm dọa.
“Thôi, anh đừng bận tâm,” tôi nói. “Xin lỗi đã làm phiền anh.”
“Tack, Otto,” Nilsson nói, rồi đùa một câu bằng tiếng Thụy Điển khiến Otto phá lên cười. Anh ta vỗ lưng Nilsson rồi nói gì đó khiến Nilsson ha hả đáp lại, một trận cười bò khiến bụng anh ta rung lên. Anh ta giơ tay chào đội bếp. “Hej, då!” Nilsson nói, rồi dẫn tôi ra ngoài hành lang.
“Xin lỗi về chuyện đó,” anh ta ngoái lại nói khi dẫn tôi ra cầu thang. “Ngôn ngữ chính thức trên thuyền là tiếng Anh và chính sách của chúng tôi là không được nói những thứ tiếng khác trước mặt khách người Anh, nhưng tôi nghĩ trong hoàn cảnh này...” anh ta nói nhỏ dần rồi ngừng lời, và tôi gật đầu.
“Không sao. Mọi người vẫn thấy thoải mái và hiểu câu hỏi của tôi là được rồi.”
Chúng tôi lại đi qua cabin của thủy thủ đoàn, tôi liếc vào trong một vài cabin để ngỏ cửa và một lần nữa choáng váng trước sự nhếch nhác chật chội bên trong. Tôi không thể hình dung việc sống hết tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác trong những không gian kín không cửa sổ như vậy. Có lẽ Nilsson đã cảm thấy sự im lặng của tôi sau lưng, bởi anh ta lại lên tiếng.
“Mấy cabin đó hơi nhỏ, phải không? Nhưng chỉ có chừng một tá nhân sự, ngoại trừ đội lái thuyền, thế nên chúng tôi không cần quá nhiều không gian. Và tôi có thể cam đoan với cô là mấy cabin này còn tử tế hơn rất nhiều cabin trên các du thuyền khác.”
Tôi không nói những gì mình đang nghĩ - thứ làm tôi choáng váng không phải là không gian, mà chính là sự đối lập giữa những căn phòng sáng sủa lộng gió ở tầng trên với nơi đây. Quả thực, những cabin này cũng chẳng tệ hơn cabin trên rất nhiều con phà vượt eo biển sang Pháp mà tôi đã từng đi; thực tế một số phà có cabin còn nhỏ hơn thế này. Nhưng chính khoảng cách mênh mông giữa kẻ giàu người nghèo được minh họa bằng hình ảnh sống động mới là thứ khiến ta khó chịu, cảnh voi chó đang xảy ra ngay trước mắt.
“Mọi người đều ở chung cabin à?” tôi hỏi khi chúng tôi đi qua một cabin tối. Bên trong cánh cửa khép hờ, một người nào đó đang thay đồ còn một người khác đang nằm ngáy trên giường tầng. Nilsson lắc đầu.
“Nhân sự cấp dưới, đội lao công và chiêu đãi viên trẻ phải ở chung cabin, nhưng nhân sự cấp cao đều có cabin riêng.”
Chủng tôi đã tới cầu thang dẫn lên boong trên và tôi đi lên rất chậm, bám vào tay vịn cầu thang, theo sau tấm lưng rộng của Nilsson. Nilsson mở cửa trượt ngăn khu vực hành khách với khu vực nhân viên, rồi quay sang tôi khi đóng lại cánh cửa sau lưng cả hai.
“Tôi rất xin lỗi vì mọi chuyện diễn ra không được như ý,” anh ta nói. “Tôi đã hy vọng một trong những cô gái dưới đó là người phụ nữ mà cô đã gặp, để cô không phải lo lắng nữa.”
“Nghe này...” Tôi xoa mặt, cảm thấy vết sẹo đang lành sần lên trên má và cơn đau đầu bắt đầu đè nặng. “Tôi không chắc...”
“Chúng ta đi gặp Eva nào,” Nilsson nói với vẻ kiên quyết. Rồi anh ta quay đi và dẫn tôi đi theo hành lang tới một cái thang nữa.
Con thuyền dường như đang gặp thời tiết xấu, cứ tròng trành qua sóng lớn hết đợt này đến đợt khác. Tôi nuốt xuống cả ngụm nước bọt, cảm thấy mồ hôi ướt lạnh trên xương sống dưới lớp áo. Trong một thoáng tôi đã nghĩ đến chuyện quay lại cabin của mình. Không chỉ vì đầu tôi đang đau điếng. Tôi vẫn phải đọc cho xong tập hồ sơ quảng bá và viết phần mở đầu bài báo để nộp cho Rowan khi trở về. Tôi hoàn toàn ý thức được rằng Ben, Tina, Alexander và tất cả những người khác hẳn đang viết ghi chú, sắp xếp các bài viết, tra cứu về Bullmer và soạn ra những tấm hình quảng bá.
Nhưng rồi tôi hạ quyết tâm. Nếu muốn được Nilsson nghiêm túc lắng nghe thì tôi phải đi đến tận cùng chuyện này. Và dù rất muốn được lên chức ở Velocity, có những thứ quan trọng hơn mà tôi phải làm.
Chúng tôi tìm thấy Eva ở quầy tiếp tân phòng spa, một căn phòng xinh đẹp, yên tĩnh ở boong trên, lắp toàn kính, mành dài bắt gió khi cửa mở. Tường kính nhìn ra boong thuyền, nắng sáng đến chói mắt sau khi ta rời khỏi cái hang thỏ màu be với những căn phòng lờ mờ bên dưới.
Một người phụ nữ tóc đen, trông khá hấp dẫn, tầm bốn mươi đeo vòng trên tai ngước lên khi Nilsson và tôi bước vào.
“Johann!” Cô ấy vui vẻ nói. “Cậu cần gì ở đây thế? Và đây là...?”
“Lo Blacklock,” tôi nói, chìa tay ra. Tôi tức thì cảm thấy dễ chịu hơn khi được thoát khỏi không gian kín bung của nhân viên, Cơn buồn nôn lợm lợm lui dần trước làn gió biển.
“Chào buổi sáng, thưa cô Blacklock,” cô ta mỉm cười. Tôi bắt tay cô ta, bàn tay siết mạnh, ngón tay xương xương nhưng rất khỏe. Tiếng Anh của cô tốt đến ngạc nhiên - gần ngang với cô gái trong cabin - nhưng cô không phải là cô gái ấy. Cô già quá, làn da được dưỡng ẩm cẩn thận để lộ đôi chút vẻ dãi dầu vì phơi nắng hơi nhiều. “Tôi có thể giúp gì cho cô đây?”
“Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Tôi đang tìm một người, và những cô gái ở boong dưới bảo có thể cô là người đó, nhưng không phải rồi.”
“Cô Blacklock đã nhìn thấy một phụ nữ tối qua,” Nilsson xen vào. “Trong cabin bên cạnh cabin của cô ấy. Cô ta tầm hai mươi tuổi, tóc đen dài, da trắng. Cô Blacklock đã nghe thấy vài tiếng động khiến cô ấy lo lắng, và chúng tôi đang cố xác minh xem đấy có phải là một nhân viên trên thuyền không.”
“Tôi e mình không phải là người đó rồi,” Eva nói, nhưng với vẻ khá thân thiện. Không chút dấu vết dè chừng hơi kiểu bầy đàn ở những cô gái tầng dưới. Cô ta bật cười. “Thành thật mà nói thì quãng tuổi đôi mươi của tôi đã trôi qua khá lâu. Cô đã nói chuyện với các chiêu đãi viên chưa? Hanni và Birgitta đều có tóc đen và cũng tầm tuổi đó. Ulla cũng vậy.”
“Vâng, chúng tôi đã nói chuyện với họ,” Nilsson nói. “Và giờ chúng tôi đang trên đường tới gặp Ulla.”
“Cô ấy không có vấn đề gì hết,” tôi nói. “Ý tôi là cô gái kia. Tôi thấy lo cho cô ấy thôi. Nếu cô nhớ ra được ai đó có thể...”
“Xin lỗi, tôi không giúp được cô rồi,” Eva xen ngang, nói trực tiếp với tôi, và quả trông cô có vẻ lấy làm tiếc, với thái độ quan tâm thành thực nhất trong số những người mà tôi đã gặp đến giờ. Hai hàng lông mày được tỉa rất đẹp hơi nhíu lại. “Thật sự đấy. Nếu tôi nghe được gì...”
“Cảm ơn cô,” tôi nói.
“Cảm ơn Eva,” Nilsson nói, rồi quay đi.
“Không có chi,” Eva nói. Cô ấy đi theo chúng tôi ra cửa. “Hẹn lát nữa gặp lại, cô Blacklock. Tôi rất mong chờ đến lúc đó.”
“Lát nữa?”
“Lúc mười một giờ sáng. Chúng tôi sẽ spa cho các quý bà quý cô trên thuyền - không phải thời gian biểu có ghi ư?”
“Cảm ơn,” tôi nói. “Hẹn gặp cô lúc đó.” Khi quay đi, tôi nghĩ đến những trang giấy chưa đọc trong tập hồ sơ quảng bá và cảm thấy hơi tội lỗi, đồng thời tự hỏi không biết mình còn bỏ lỡ những điều gì.
Chúng tôi rời phòng spa qua cửa ra boong ngoài trời; khi tôi đẩy cửa, nó liền vuột khỏi tay tôi vì gió lớn, rồi sập mạnh vào đế đỡ cao su. Nilsson đóng cửa, còn tôi thì đi tới chỗ lan can thuyền, run rẩy trong gió.
“Cô lạnh không?” Nilsson gào lên, cố át đi tiếng gió rít và tiếng ầm ầm của động cơ.
Tôi lắc đầu. “Không... Ý tôi là, có, tôi có lạnh, nhưng tôi cần chút khí trời.”
“Cô vẫn cảm thấy không khỏe ư?”
“Ở ngoài này thì không. Nhưng đầu tôi đang hơi đau.”
Tôi đứng đó, bám vào lan can sắt phủ sơn lạnh toát, rồi rướn người ra ngoài, nhìn qua ban công tường kính ở đuôi thuyền, xuống những con sóng bọt trắng xóa mà con thuyền để lại đằng sau, cùng biển cả mênh mông, thăm thẳm và lạnh lẽo không tưởng. Tôi nghĩ đến màu đen cuồn cuộn, đến cái tối tăm và câm lặng bên dưới, đến hành trình mà một thứ - một người - chìm xuống suốt nhiều ngày, qua tất cả những thăm thẳm đen ngòm đó, rồi cuối cùng yên nghỉ nơi đáy biển không chút ánh sáng.
Tôi nghĩ đến cô gái hôm qua, nghĩ mới dễ dàng làm sao để một người - Nilsson, Eva, bất cứ ai - chỉ cần bước tới sau lưng tôi, đẩy nhẹ một cái...
Tôi rùng mình.
Chuyện gì đã xảy ra? Tôi không hình dung được. Tiếng thét và tiếng nước bắn, dễ hiểu rồi. Nhưng vệt máu thì không. Tôi không hiểu được chuyện đó.
Tôi hít đẫy lồng ngực không khí trong lành của Bắc Hải, rồi quay lại và quả quyết mỉm cười với Nilsson, lắc đầu để gạt đi đám tóc gió đã thổi hất lên ngang mặt.
“Chúng ta đang ở đâu?”
“Vùng biển quốc tế,” Nilsson nói. “Tôi tin là chúng ta đang trên đường tới Trondheim.”
“Trondheim?” Tôi cố nhớ lại cuộc nói chuyện tối qua. “Tôi tưởng Huân tước Bullmer đã nói chúng ta sẽ đến Bergen trước tiên.”
“Có lẽ có thay đổi trong kế hoạch. Tôi được biết Huân tước Bullmer rất hy vọng rằng mọi người sẽ được ngắm nhìn Bắc Cực Quang. Có lẽ tối nay hội tụ đủ các điều kiện đặc biệt thuận lợi cho việc đó nên ông ấy muốn đi gấp về phía Bắc. Hoặc thuyền trưởng là người gợi ý - vì lý do thời tiết nên phải thay đổi lộ trình chẳng hạn. Chúng tôi không có lịch trình cố định, mà hoàn toàn có thể du di tùy theo ý thích của hành khách. Có lẽ trong bữa tối hôm qua có vị khách nào đó tỏ ra đặc biệt sốt sắng muốn đến Trondheim.”
“Có gì ở Trondheim vậy?”
“Trondheim ư? Chà, một nhà thờ nổi tiếng. Thành phố cũng có nhiều thắng cảnh. Nhưng đáng xem nhất là các vịnh hẹp. Nó nằm xa về phía Bắc hơn Bergen, nên chúng ta sẽ có thêm khả năng được chiêm ngưỡng aurora. Nhưng cũng có thể thuyền phải đi xa hơn nữa, tới Bodo hay thậm chí là Tromso. Vào thời điểm này trong năm thì vẫn chưa nói chắc được.”
“Tôi hiểu rồi.” Không biết tại sao câu trả lời của anh ta lại khiến tôi bồn chồn. Biết mình là một phần của một hành trình đã được lên kế hoạch trước là một chuyện. Nhận ra mình đang di chuyển trong vô định với một người lạ cầm bánh lái lại là một chuyện hoàn toàn khác.
“Cô Blacklock...”
“Làm ơn,” tôi ngắt lời, “hãy gọi tôi là Lo.”
“Vậy thì, Lo.” Gương mặt to bè tự tin của Nilsson trông có vẻ khổ sở. “Tôi không muốn cô nghĩ là tôi không tin cô, Lo ạ, nhưng giờ khi đã tỉnh táo...”
“Liệu tôi có còn tin vào chuyện đó không ư?” tôi nói nốt. Anh ta gật đầu. Tôi thở dài khổ sở, nhớ lại nỗi hoài nghi của mình về đêm qua và việc câu hỏi không nói ra của Nilsson lặp lại cái giọng nói rầy la khó ưa trong đầu tôi. Tôi vặn vẹo những ngón tay trong lần vải áo rồi nói, “Sự thực là, tôi không biết nữa. Lúc đó đã muộn, và anh nói đúng, tôi đã say - có thể tôi đã lẫn lộn về tiếng hét và tiếng nước bắn. Thậm chí là vệt máu - tôi đoán hẳn có thể đấy là do ánh sáng, mặc dù tôi vẫn tin chắc mình đã thấy máu. Nhưng người phụ nữ trong cabin - không thể nào có chuyện tôi tưởng tượng ra cô ấy. Tôi không thể làm thế được. Tôi đã nhìn thấy cô ấy, tôi đã nói chuyện với cô ấy. Nếu cô ấy không ở đây - ý tôi là không ở trên thuyền này - thì cô ấy đang ở đâu?”
Một khoảng im lặng dài.
“Chà, chúng ta vẫn chưa gặp Ulla,” cuối cùng anh ta nói. “Theo mô tả của cô thì tôi không nghĩ đấy là cô ấy, nhưng ít nhất chúng ta cũng nên kiểm tra cho chắc.” Anh ta rút điện đàm rồi bắt đầu bấm nút. “Không biết cô thế nào, nhưng tôi có thể làm một cốc cà phê, thế nên có lẽ chúng ta nên hẹn Ulla trong phòng ăn sáng.”
Phòng ăn sáng chính là căn phòng tối qua chúng tôi dùng bữa tối, nhưng hai chiếc bàn lớn đã được tách ra thành sáu chiếc nhỏ hơn. Khi Nilsson đẩy cửa, không có ai ở trong ngoại trừ một anh bồi với tóc nhuộm màu chải lật sang một bên. Anh ta tiến đến, mỉm cười chào tôi.
“Cô Blacklock phải không ạ? Cô đến để dùng bữa sáng?”
“Vâng,” tôi hờ hững đáp, nhìn quanh phòng. “Tôi ngồi đâu được nhì?”
“Bất cứ chỗ nào cô muốn.” Anh ta khua một tay về phía những chiếc bàn trống. “Hầu hết hành khách chọn dùng bữa sáng trong cabin của mình. Cô ngồi bàn cạnh cửa sổ nhé? Tôi sẽ mang cho cô trà, hay cà phê?”
“Cho tôi cà phê,” tôi nói. “Thêm sữa, không đường.”
“Và một cốc cho tôi, Bjorn,” Nilsson nói. Rồi, ngó qua vai Bjorn, anh ta nói thêm, “A, chào Ulla.”
Tôi ngoảnh lại thì thấy một cô gái xinh đẹp lộng lẫy với mái tóc đen dày đang bước qua phòng ăn tới bàn chúng tôi.
“Chào Johann,” cô nói. Âm điệu giọng nói của cô đã đủ để loại đi khả năng này rồi, nhưng từ trước khi cô mở miệng, tôi đã biết chắc cô không phải là cô gái trong cabin. Cô đẹp đến khó tin, làn da trắng sứ trên nền tóc đen. Cô gái trong cabin xinh kiểu đầy sức sống, chứ không phải cái vẻ yêu kiều thanh tú cổ điển hệt như một bức tranh Phục Hưng thế này. Với lại, Ulla chắc phải cao gần mét tám; cô gái trong cabin chỉ cao tầm tôi, không thể chạm nóc như Ulla được. Nilsson nhìn tôi ra ý hỏi, nhưng tôi lắc đầu.
Bjorn quay lại với hai chiếc cốc trên khay và một tờ menu cho tôi, còn Nilsson hắng giọng.
“Em không uống với bọn anh ư, Ulla?”
“Cảm ơn anh,” cô lắc đầu, mớ tóc nặng lắc lư sau gáy. “Hôm nay em ăn sáng rồi, nhưng em sẽ ngồi cùng hai người một lúc.”
Cô ấy lách người ngồi vào ghế đối diện rồi nhìn cả hai chúng tôi, mỉm cười chờ đợi. Nilsson lại húng hắng lần nữa.
“Cô Blacklock, đây là Ulla. Cô ấy là chiêu đãi viên ở các cabin đầu thuyền, tức là cho ông bà Bullmer, ông bà Jenssen, ông Cole Lederer và ông Owen White. Ulla, cô Blacklock đây đang tìm một cô gái mà cô ấy đã nhìn thấy ngày hôm qua và giờ đang sốt ruột lần theo. Cô gái đó không nằm trong danh sách hành khách, nên bọn anh nghĩ có thể là một nhân viên trên thuyền, thế nhưng đến giờ bọn anh vẫn chưa tìm ra. Cô Blacklock, cô có muốn tả lại cô gái ấy không?”
Tôi tả sơ lược cô gái nọ, có lẽ là lần thứ một trăm rồi. “Cô có nghĩ đến ai không?” Tôi nhận ra giọng mình bắt đầu có vẻ khẩn nài, “bất kỳ ai khớp với mô tả?”
“Chà, rành rành là tôi tóc đen rồi,” Ulla bật cười. “Nhưng đấy không phải tôi, nên tôi cũng không chắc nữa. Có Hanni đấy, cô ấy cũng tóc đen, và Birgitta...”
“Tôi đã gặp họ rồi,” tôi ngắt lời. “Không phải họ. Còn ai khác không? Lao công? Đội thuyền?”
“K-không... trong đội thuyền không có ai khớp với mô tả,” Ulla chầm chậm nói. “Trong đội nhân viên thì có Eva, nhưng cô ấy già quá. Cô đã nói chuyện với đội bếp chua?”
“Thôi bỏ đi.” Tôi bắt đầu tuyệt vọng. Tôi đang dần dà thấy chuyện này giống một cơn ác mộng trở đi trở lại, thẩm vấn hết người này đến người khác trong khi ký ức về cô gái tóc đen bắt đầu mờ nhòa tan biến, trượt qua những ngón tay tôi như nước. Càng nhìn nhiều gương mặt, mỗi cái đều hơi hơi giống nhưng lại không hoàn toàn khớp với ký ức, tôi lại càng thấy khó giữ lấy hình ảnh cô gái kia trong đầu.
Thế nhưng, có một thứ gì đó rất đặc trưng ở cô ấy, một thứ mà tôi tin chắc mình sẽ nhận ra nếu gặp lại cô ấy lần nữa. Không phải là đường nét gương mặt - cô ấy cũng xinh, nhưng chỉ xinh kiểu bình thường. Cũng không phải tóc tai, hay chiếc áo phông Pink Floyd. Có một cái gì đó ở bản thân cô ấy, vẻ hứng khởi và hoạt bát trong biểu cảm khi cô ấy thình lình nhìn ra ngoài hành lang, vẻ ngạc nhiên khi cô ấy trông thấy mặt tôi.
Liệu có thật là cô ấy đã chết?
Nhưng viễn cảnh còn lại cũng chẳng khá khẩm gì hơn. Bởi nếu cô ấy không chết, thì chỉ còn duy nhất một khả năng - và đột nhiên tôi không biết nó tốt hơn hay tệ hơn nữa - đấy là tôi đã hóa điên.