Li frere, Li mestre du Temple
Qu’ estoient rempli et ample
D’ or et d’ argent et de richesse
Et qui menoient tel noblesse,
Où sont ils? que sont devenu?
− Chronique à la suite du roman de Favel
Et in Arcadia ego*. Pilade tối đó là hình ảnh của kỷ nguyên vàng son. Những buổi tối như thế, trong lòng bạn cảm thấy không chỉ cách mạng sắp nổ ra đến nơi rồi mà còn Hiệp hội các Nhà sản xuất sẽ đứng ra làm Mạnh Thường Quân cho nó. Còn ở nơi nào nữa ngoài Pilade bạn có thể chứng kiến một ông chủ nhà máy bông để râu quai nón mặc áo da có mũ trùm ngồi chơi bài với một kẻ bận áo vest đeo cà vạt mà trong tương lai sẽ trốn chui trốn nhủi công lý? Đây là buổi bình minh của những thay đổi lớn trong phong cách. Cho tới đầu thập niên 1960, râu quai nón đồng nghĩa với phát xít và bạn phải cắt tỉa râu ria, cạo hai má nhẵn nhụi theo phong cách của Italo Balbo; nhưng đến khoảng năm ‘68, râu quai nón hàm nghĩa phản kháng và giờ chúng trở nên trung tính, phổ biến, là vấn đề sở thích cá nhân. Râu quai nón vốn đã luôn được dùng làm mặt nạ (bạn đeo một bộ râu giả để khỏi bị nhận ra), nhưng trong những năm tháng đầu thập niên 1970 ấy, râu ria thật cũng là một kiểu cải trang. Bạn có thể giả trá trong khi đang nói sự thật hay đúng hơn là bằng cách làm cho sự thật trở nên vòng vo và bí ẩn. Không còn đoán biết quan điểm chính trị của một người qua bộ râu của anh ta được nữa. Tối hôm đó, những bộ râu quai nón dường như lượn lờ trên những khuôn mặt cạo nhẵn nhụi mà chính sự thiếu lông tóc lại như hàm ý thách thức.
Tiếng Latin có nghĩa “Ta có mặt ngay cả tại Arcadia”, đồng thời là tiêu đề bức họa nổi tiếng của Nicolas Poussin (1594-1965) họa cảnh những người chăn cừu lý tưởng hóa thời xưa vây quanh một nấm mồ khắc khổ. Theo cách hiểu thông dụng nhất, “ta” ở đây đồng nghĩa với cái chết và “Arcadia” có nghĩa là vùng đất thanh bình, yên ả nhất. Tuy nhiên, cũng có người hiểu rằng “người nằm dưới mộ từng sống ở Arcadia”, nói cách khác, rằng người ấy cũng từng hân hưởng lạc thú trần gian. Cách hiểu sau khá phổ biến vào thế kỷ 18 và 19.
Tôi lạc đề rồi. Belbo và Diotallevi xuất hiện, mặt mũi khá căng thẳng, gay gắt rì rầm với nhau về bữa tối vừa xong. Mãi sau này tôi mới biết những bữa tối của Signor Garamond là thế nào.
Belbo gọi ngay món nước cất yêu thích còn Diotallevi sau hồi lâu ngẫm nghĩ quyết định gọi tonic. Chúng tôi tìm thấy một chiếc bàn nhỏ cuối quán. Hai tay lái xe buýt hôm sau phải dậy sớm đang rời bàn.
“Nào,” Diotallevi lên tiếng, “những hiệp sĩ dòng Đền này...”
“Nhưng quả thực anh có thể đọc về hiệp sĩ dòng Đền ở bất kỳ đâu...”
“Chúng tôi ưa chuyện truyền miệng hơn,” Belbo nói.
“Nó huyền bí hơn,” Diotallevi nói. “Chúa trời sáng tạo ra thế giới bằng lời nói, Người không gửi điện tín.”
“Fiat lux, dừng,” Belbo nói.
“Tiếp đến là Thư sứ đồ,” tôi đáp.
“Vậy còn hiệp sĩ dòng Đền?” Belbo hỏi.
“Vâng,” tôi đáp. “Trước tiên...”
“Cậu không bao giờ nên mở đầu bằng ‘Trước tiên’,” Diotallevi phản đối.
“Trước tiên, ta có cuộc Thập tự chinh thứ Nhất. Godefroy làm lễ ở nhà thờ Mộ Thánh và làm trọn lời thề của mình. Baudouin trở thành vị vua đầu tiên của Jerusalem. Một vương quốc Cơ đốc giáo ở Đất Thánh. Nhưng giữ Jerusalem là một chuyện, chinh phục phần còn lại của Palestine là chuyện khác. Người Hồi suy yếu nhưng vẫn còn ở đó. Cuộc sống không hề dễ dàng với. những kẻ chiếm đóng mới tới và không dễ dàng với cả người hành hương. Và rồi vào năm 1118, dưới triều đại Baudouin II, chín chàng trai trẻ do một người tên Hugues de Payns dẫn đầu đến đó dựng nên hạt nhân của dòng Những Chiến hữu Nghèo của Chúa Jesus: một dòng tu nhưng tay cầm kiếm và khiên. Ba lời thề kinh điển về thanh bần, giữ mình trong trắng và phục tùng, thêm một điều thứ Tư: bảo vệ người hành hương. Nhà vua, giám mục, mọi người ở Jerusalem quyên góp tiền bạc, cung cấp cho những hiệp sĩ này chỗ ở, và cuối cùng để họ cư ngụ tại nhà tu của Đền Solomon cũ. Từ đó trở đi, họ được biết đến như những Hiệp sĩ dòng Đền.”
“Nhưng thực ra họ là gì?”
“Hugues và tám người đầu tiên có lẽ là những kẻ mộng mơ bị cuốn hút bởi sự thần bí của Thập tự chinh. Nhưng những tân binh sau này giống các chàng trai non tơ theo đuổi những chuyến phiêu lưu mạo hiểm. Hãy nhớ rằng tân vương quốc ở Jerusalem cũng na ná như California ngày nay, đó là nơi anh tới để đổi đời. Tương lai ở quê nhà chẳng sáng sủa gì, nên một số hiệp sĩ có thể vì lý do này khác mà phải trốn chạy. Tôi nghĩ nó giống như một dạng lính lê dương. Anh sẽ làm gì nếu đang dính vào rắc rối? Anh gia nhập hàng ngũ các hiệp sĩ dòng Đền, nhìn ngắm thế giới này, vui vẻ một chút, đánh đấm một tẹo. Họ cho anh cơm ăn áo mặc, và cuối cùng, như một món quà tặng kèm, anh cứu rỗi được linh hồn mình. Tất nhiên, anh phải ở trong tình cảnh vô cùng tuyệt vọng, bởi vì tới đây có nghĩa là đâm đầu vào sa mạc, ngủ trong lều, ngày qua ngày không thấy một kẻ nào ngoài những hiệp sĩ dòng Đền khác, thảng hoặc chắc thêm được một người Thổ. Trong suốt những ngày dài ấy, anh cưỡi ngựa dưới ánh mặt trời chói chang, chết dần chết mòn vì khát và mổ bụng moi gan những kẻ đáng thương khác.”
Tôi thoáng ngừng lại. “Hình như tôi đang khiến câu chuyện nặng hơi hướm miền Tây nước Mỹ quá. Có lẽ còn có một thời kỳ thứ ba. Một khi dòng tu trở nên hùng mạnh, có lẽ người ta muốn gia nhập nó dù ở nhà sống không tồi. Tuy nhiên, đến lúc này thì anh có thể là một hiệp sĩ dòng Đền mà không cần phải tới Đất Thánh, anh cứ làm hiệp sĩ dòng Đền tại gia thôi. Chuyện trở nên phức tạp. Đôi khi họ nổi tiếng là những chiến binh sắt đá, đôi khi họ lại phô bày tính nhạy cảm. Ví dụ, anh không thể gọi họ là những kẻ phân biệt chủng tộc. Phải, họ đánh người Hồi giáo, luôn luôn là như vậy, nhưng họ chiến đấu với tinh thần thượng võ và tôn trọng lẫn nhau. Một lần, trong khi sứ thần của tiểu vương xứ Damascus viếng thám Jerusalem, các hiệp sĩ dòng Đền để ông ta cầu nguyện tại một thánh đường Hồi giáo nhỏ đã cải thành một nhà thờ Cơ đốc. Ngày nọ, có một gã Frank bước vào, thấy một người Hồi giáo ở chốn linh thiêng thì nổi cơn điên lao vào đánh đấm ông ta. Nhưng các hiệp sĩ dòng Đền liền ném tay Frank cố chấp kia ra khỏi cửa và xin lỗi người Hồi giáo. Sau này, sự khoan hòa với kẻ thù ấy đã dẫn tới ngày tàn của họ: một trong những lời buộc tội họ ở phiên tòa là họ có quan hệ với các phái Hồi giáo bí truyền. Cũng có thể điều ấy không sai. Họ có chút gì đó giống với những nhà thám hiểm thế kỷ 19 nhiễm luôn chất địa phương và mắc phải mal d’Afrique*. Những hiệp sĩ dòng Đền bởi thiếu nền giáo dục tu viện thông thường nên chậm nắm bắt những điểm tinh tế của thần học. Hãy nghĩ về họ như những Lawrence xứ Ả Rập, sau một thời gian là bắt đầu ăn mặc như người Hồi giáo... Nhưng khó có được một hình ảnh khách quan về hành vi của họ bởi vì các sử gia Cơ đốc giáo đương thời, chẳng hạn William xứ Tyrus, tìm mọi cơ hội để phỉ báng họ.”
Tiếng Pháp, chỉ những người đến Phi châu và khi trở về cố hương thì cảm thấy khuyết thiếu trong lòng.
“Vì sao?”
“Các hiệp sĩ dòng Đền mạnh lên quá nhanh. Tất cả là từ thánh Bernard mà ra cả. Dĩ nhiên các anh chẳng xa lạ gì với thánh Bernard. Một nhà tổ chức kỳ tài. Ông ta đã cải cách dòng tu Biển Đức và loại bỏ những vật trang trí khỏi nhà thờ. Nếu một đồng sự chọc giận ông ta, ví như Abelard, ông ta liền tấn công theo phong cách McCarthy và cố ném đối phương lên giàn thiêu. Nếu không xoay xở nổi việc đó, ông ta sẽ đốt sách vở của kẻ phạm lỗi. Và tất nhiên ông ta ủng hộ Thập tự chinh: Chúng ta hãy cầm vũ khí lên và các ngươi hãy tiến bước...”
“Anh không ưa ông ta mấy nhỉ,” Belbo nhận xét.
“Nếu tôi mà có quyền quyết thì thánh Bernard kia đã rơi thẳng xuống một trong những tầng địa ngục ghê rợn nhất. Thánh ư, đồ chết tiệt! Nhưng ông ta giỏi nâng bản thân lên. Hãy xem Dante đã đối xử với ông ta thế nào: biến ông ta thành cánh tay phải của Đức Mẹ. Ông ta buộc phải trở thành một vị thánh thôi, bởi vì ông ta toàn chọn đúng người mà bợ đỡ. Nhưng hãy quay lại Với các hiệp sĩ dòng Đền. Bernard lập tức nhận ra rằng ý tưởng này có tiềm năng. Ông ta ủng hộ chín kẻ phiêu lưu mạo hiểm đầu tiên, biến họ trở thành lực lượng dân quân của Chúa Jesus. Anh thậm chí có thể nói rằng tầm nhìn anh hùng của các hiệp sĩ dòng Đền là tác phẩm của ông ta. Năm 1128, ông ta tổ chức một công đồng ở Troyes nhằm mục đích không che giấu là xác định vai trò của những thầy tu-hiệp sĩ mới kia, và vài năm sau, ông ta viết một bài tán tụng về họ cũng như vạch ra luật lệ cho họ, dài bảy mươi hai điều. Các điều này đọc rất tức cười, chúng chứa tất cả mọi thứ, mỗi thứ một tí. Thánh lễ mỗi ngày, không giao du với những hiệp sĩ bị rút phép thông công, mặc dù nếu một người trong số những hiệp sĩ kia xin gia nhập dòng Đền, anh ta sẽ được đón nhận với tinh thần Cơ đốc giáo. Các anh hiểu ý tôi khi nói lính lê dương rồi đấy. Người ta yêu cầu họ mặc áo thụng trắng, không điểm lông thú, sang nhất cũng chỉ là da cừu non hoặc da dê chưa thuộc. Họ bị cấm đi giày mũi vểnh khá mốt thời đó, và khi đi ngủ chỉ mặc đồ lót, nằm nệm rơm, chỉ có một tấm ga trải giường và một chiếc chăn...”
“Xứ đó nóng nực thế kia thì cái mùi hôi ra sao tôi có thể hình dung,” Belbo bình luận.
“Một phút nữa sẽ đến mục mùi hôi. Trong luật dòng còn có những giới hạn khắc nghiệt khác: hai người chung một bát; ăn trong yên lặng; một tuần ba bữa thịt; sám hối mỗi thứ Sáu; thức dậy vào lúc rạng đông mỗi ngày. Nếu công việc đặc biệt nặng nhọc, họ có thể ngủ thêm một giờ, nhưng bù lại họ buộc phải đọc trên giường mười ba Kinh lạy Cha. Có một thủ lĩnh và một loạt những cấp thấp hơn, xuống tới thị vệ, cận vệ, trợ tá và người hầu. Mỗi hiệp sĩ sẽ có ba con ngựa và một cận vệ, không được phép trang trí trên dây cương, yên hay đinh thúc ngựa. Vũ khí đơn giản nhưng sắc bén. Săn bắn bị cấm, trừ săn sư tử. Nói tóm gọn lại, một cuộc đời hành xác và chiến đấu. Và không quên giữ mình trong trắng. Giới luật đặc biệt nghiêm ngặt về khoản này. Hãy nhớ rằng những người này không sống trong tu viện. Họ đang chiến đấu ngoài chiến trường, sống giữa đời, nếu các anh có thể dùng từ đó cho cái ổ sâu bọ như Đất Thánh hẳn thế trong những ngày tháng ấy. Luật dòng khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng dan díu với đàn bà là vô cùng nguy hiểm nên đàn ông chỉ được phép hôn mẹ, chị em cùng cô dì của mình.”
“Cô dì ấy hả?” Belbo lầm bầm. “Nếu là tôi thì tôi sẽ cẩn thận hơn về điểm đó... Nhưng nếu đúng như lời kể, chẳng phải các hiệp sĩ dòng Đền bị kết tội kê gian sao? Có cuốn sách do Klossowski viết đó, Baphomet. Baphomet là một trong những vị thần ma quỷ mà họ thờ phụng, chẳng phải sao?”
“Lát nữa tôi cũng sẽ nói đến chuyện đó. Nhưng hãy động não nghĩ một chút xem. Anh sống hết ngày này qua tháng khác trong sa mạc, heo hút đồng không mông quạnh, và ban đêm anh chung lều với một gã xúc ăn cùng bát với anh. Anh mệt mỏi, lạnh lẽo, khát khô và sợ hãi. Anh khao khát có mẹ hiền ở bên. Vậy anh sẽ làm gì?”
“Tình trai, quân đoàn Thebes*,” Belbo gợi ý.
Đội quân Thebes với 150 cặp đồng tính nam vào thế kỷ 4 TCN, đã lập những chiến tích huy hoàng.
“Những tay lính khác không mang lời thề hiệp sĩ dòng Đền. Khi cướp phá một thành phố, họ sẽ hãm hiếp những cô nàng Ma-Rốc nước da màu mật, bụng màu hổ phách, mắt nhưng. Và hiệp sĩ dòng Đền sẽ phải làm gì trong mùi hương tuyết tùng của Li Băng? Anh có thể thấy vì sao có câu nói nổi tiếng: ‘Nốc rượu và báng bổ như hiệp sĩ dòng Đền.’ Nó giống cảnh một giáo sĩ trong chiến hào nốc brandy và chửi thề với đám lính thất học. Ấn triện của hiệp sĩ dòng Đền luôn khắc họa các hiệp sĩ đi theo cặp, một người ngồi sau lưng người kia trên cùng con ngựa. Sao lại như vậy? Luật dòng cho phép họ mỗi người có ba con ngựa. Đó hẳn phải là một trong những ý tưởng của Bernard, một nỗ lực để biểu tượng hóa sự thanh bần hoặc có lẽ vai trò kép tu sĩ và hiệp sĩ của họ. Nhưng anh không khó hình dung điều mà thiên hạ chắc hẳn từng bàn tán, hai người đàn ông nhấp nhểnh trên lưng ngựa, mông người này ép vào bụng kẻ kia. Nhưng không chừng họ cũng chỉ là bị vu cáo...”
“Chắc chắn là họ yêu cầu thế rồi,” Belbo cắt ngang. “Ông thánh Bernard kia không phải kẻ khờ đấy chứ?”
“Khờ ư, không. Nhưng bản thân ông ta cũng là tu sĩ, và thời đó các tu sĩ có những ý tưởng lạ lùng của riêng mình về cơ thể con người... Lúc nãy tôi có bảo là hình như tôi đang khiến câu chuyện nặng hơi hướm cao bồi Viễn Tây quá, nhưng giờ nghĩ lại thì... Hãy nghe những lời Bernard đã phải thốt lên về những hiệp sĩ con cưng của mình. Tôi mang theo lời trích này vì nó rất đáng nghe: ‘Họ tránh xa và ghê tởm kịch câm, bọn ảo thuật và bọn nghệ sĩ tung hứng, những khúc ca dâm dật và bọn hề; họ cắt tóc ngắn bởi thánh tông đồ nói rằng một người đàn ông chải chuốt tóc tai là đáng hổ thẹn. Chưa ai từng thấy họ sửa sang đầu tóc, và họ cũng hiếm khi tắm rửa. Râu tóc họ rối bù, bết bụi bẩn và mồ hôi vì áo giáp cùng cái nóng.’”
“Tôi sẽ chẳng mong được ngủ trong lều của họ đâu,” Belbo nói.
“Các nhà khổ tu luôn có đặc thù là nuôi dưỡng một sự bẩn thỉu lành mạnh để nhục mạ thể xác mình,” Diotallevi tuyên bố. “Chẳng phải thánh Macarius sống trên một cây cột và nhặt dòi bọ rớt ra từ người mình rồi thả lại lên người để chúng, vốn cũng là tạo vật của Chúa, có thể tận hưởng bữa tiệc của mình đó sao?”
“Người sống trên cột là thánh Simeon,” Belbo chữa lại, “và tôi nghĩ ông ấy ở trên cái cột đó để dễ bề nhổ nước miếng vào những kẻ đi bên dưới.”
“Sao mà tôi căm ghét cái lối miệt thị của thời Khai sáng đến thế chứ,” Diotallevi nói. “Trong trường hợp nào đi nữa, dù là Macarius hay Simeon, tôi chắc chắn là có một ẩn sĩ sống trên cột với lũ dòi bọ, nhưng tất nhiên tôi không có thẩm quyền gì về đề tài này bởi những trò điên của bọn không phải người Do Thái không hấp dẫn tôi.”
“Đám giáo sĩ Do Thái Gerona của anh thì gọn gàng ngăn nắp lắm đấy,” Belbo nói.
“Họ sống nhem nhuốc bần hàn bởi đám người ngoại đạo các anh buộc họ phải sống trong các ghetto. Còn hiệp sĩ dòng Đền thì ngược lại, tự lựa chọn cuộc sống dơ dáy.”
“Chúng ta đừng lạc đề,” tôi nói. “Các anh đã bao giờ thấy một trung đội tân binh sau một ngày hành quân? Lý do tôi kể với các anh tất cả những điều này là để giúp các anh hiểu được thế tiến thoái lưỡng nan của hiệp sĩ dòng Đền. Anh ta buộc phải thần bí, khổ hạnh, không tiệc tùng, rượu chè hay gái gú, nhưng cùng lúc đó anh ta lang thang trên sa mạc cắt đầu những kẻ thù của Chúa Jesus; càng cắt được nhiều đầu, anh ta càng kiếm được nhiều điểm để lên thiên đàng. Anh ta bốc mùi, lông tóc ngày một rậm rạp, và rồi Bernard khăng khăng rằng sau khi chiếm được một thành phố, anh ta không thể nhảy bổ vào một gái tơ hoặc nạ dòng nào đó để làm chuyện kia. Và vào những đêm đen không trăng, khi cơn gió khô nóng cuốn theo cát thổi khắp sa mạc, anh ta không thể kiếm tìm chút an ủi nào từ chiến hữu mến yêu của mình. Làm sao anh có thể vừa là một tu sĩ vừa là một tay kiếm, phút trước còn mổ bụng người ta, phút sau đã ngâm nga Kinh Kính mừng? Họ bảo anh ngay cả mắt người chị em họ của mình cũng không được nhìn vào, nhưng khi anh tiến vào một thành phố, sau những ngày dài vây thành, đám lính Thập tự chinh khác ăn sống nuốt tươi vợ của vua Hồi ngay trước mắt anh, và những nàng Shulammite bốc lửa cởi áo lót van vỉ, Hãy chiếm thân em, hãy chiếm thân em nhưng đừng giết em... Không, hiệp sĩ dòng Đền phải vững như bàn thạch, lo cầu kinh, râu ria và bốc mùi, đúng như thánh Bernard mong muốn ở anh ta. Về vấn đề này, chỉ cần các anh đọc cuốn Những chân dung*...”
Cuốn Retraits của Bertrand de Blanchefort, Đại Thủ lĩnh thứ sáu của các hiệp sĩ dòng Đền. Trong cuốn sách, ông đã mô tả cấu trúc thứ bậc của Dòng. Điều đó cũng có nghĩa các hiệp sĩ có vị trí vai trò rõ ràng hơn. Ông cũng đã lập ra bộ phận kiểm tra trong đội ngũ lãnh đạo của Dòng, chấm dứt việc các Đại Thủ lĩnh đưa ra các quyết định cho hướng đi của dòng Đền mà không có sự ủng hộ của các hiệp sĩ.
“Đọc gì?”
“Các luật dòng, được lập ra khá muộn, sau khi dòng tu này đã khoác áo thụng và xỏ đôi dép lê, ấy là nói vậy. Chẳng có gì tồi tệ hơn là một đội quân khi chiến tranh đã qua đi. Chẳng hạn có thời điểm người ta cấm cãi lộn, cấm đả thương một giáo dân Cơ đốc để trả thù, cấm mua bán với phụ nữ, cấm phỉ báng sư huynh của mình. Một hiệp sĩ dòng Đền không được cho phép nô lệ trốn thoát, không được mất bình tĩnh và dọa bỏ đạo theo quân Hồi, không được để ngựa đi mất, không được cho đi bất cứ con vật nào trừ chó hoặc mèo, không được ra đi nếu không có sự cho phép, không được hủy dấu triện của một thủ lĩnh, không được ra khỏi doanh trại vào ban đêm, không được cho mượn tiền của dòng nếu không ai cho phép hoặc không được ném áo xuống đất trong cơn nóng giận.”
“Từ các điều cấm, có thể suy ra những gì người ta thường làm,” Belbo nói. “Đó cũng là một cách để vẽ lên bức tranh về cuộc sống thường nhật.”
“Xem nào,” Diotallevi tiếp lời. “Tối nọ, một hiệp sĩ dòng Đền nóng gáy vì điều gì đó mà các sư huynh nói hoặc làm, liền cưỡi ngựa ra ngoài mà không được phép, mang theo một cậu nhỏ Hồi giáo, trên yên ngựa đeo ba con gà trống thiến. Anh ta tới chỗ một ả lăng loàn, dâng gà trống cho nàng rồi lao mình vào cuộc mây mưa bị cấm đoán. Trong lúc cuộc trác táng diễn ra, cậu nhỏ Hồi giáo cưỡi ngựa đi mất, thế là hiệp sĩ dòng Đền của chúng ta, mình mẩy mướt mồ hôi và bẩn thỉu hơn cả thường ngày, cúp đuôi bò về trại. Để chuồn êm vào trong, anh ta đút lót ít tiền (của dòng) cho một tên Do Thái cho vay nặng lãi bấy giờ đang chực sẵn như con kền kền đậu trên cành...”
Chính ngài nói đó*, Caiaphas*,” Belbo chen vào.
Lời Chúa Jesus nói với thượng tế Caiaphas, theo sách Mattheu 26:63.
Joseph Caiaphas, theo Kinh Tân ước, là thượng tế Do Thái được cho là đã bày mưu sát hại Chúa Jesus.
“Ở đây chúng ta chỉ đang dùng lối nói rập khuôn thôi. Với số tiền đó, hiệp sĩ dòng Đền cố lấy về nếu không phải là cậu nhỏ người Hồi thì ít nhất cũng là một con ngựa nom tương tự. Nhưng một hiệp sĩ dòng Đền khác nghe được về tai nạn này và một tối - chúng ta biết rằng tính đố kỵ là đặc điểm cố hữu trong những cộng đồng như thế này - anh ta buông vài ngụ ý khá rõ ràng trong bữa tối, khi món thịt được bày lên. Người chỉ huy sinh lòng nghi, kẻ bị tình nghi lắp bắp, đỏ mặt, rồi rút dao găm ra lao vào sư huynh của mình...”
“Vào tên luồn cúi phản trắc,” Belbo sửa lại lời anh ta.
“Vào tên luồn cúi phản trắc, hay lắm. Anh ta lao vào kẻ bất hạnh, chém vào mặt gã. Kẻ bất hạnh rút gươm, thế là một cuộc đánh lộn lố bịch nổ ra, người chỉ huy dùng chuôi kiếm cố gắng lập lại trật tự, các sư huynh khác cười thầm...”
“Nốc rượu và báng bổ như hiệp sĩ dòng Đền,” Belbo nói.
“Dao găm của Chúa, nhân danh Chúa, vết thương của Chúa, máu Chúa,” tôi tiếp lời.
“Nhân vật chính của chúng ta đang phát hỏa, và một hiệp sĩ dòng Đền làm gì khi anh ta phát hỏa?”
“Đỏ mặt tía tai,” Belbo gợi ý.
“Phải. Anh ta đỏ mặt tía tai, giật bỏ áo tu ném xuống đất.”
“Thế còn: ‘Vứt được cái áo thụng này thì cũng vứt được ngôi đền trời đánh thánh vật của các người!’ thì sao?” tôi đề xuất. “Và rồi anh ta dùng kiếm hủy đi dấu triện, tuyên bố mình sẽ gia nhập quân Hồi giáo.”
“Vi phạm liền trong một cứ ít nhất tám giới luật.”
“Dầu sao đi nữa,” tôi nói, quay trở lại luận điểm của mình, “hãy tưởng tượng một người như thế, nói rằng anh ta sẽ gia nhập quân Hồi. Và một hôm khâm sai của nhà vua bắt giữ anh ta, gí sắt nung đỏ vào anh ta và nói: ‘Thú tội đi, thằng bất nhân! Thú nhận là mày đã xuyên thứ đó vào mông sư huynh của mình!” Ai, tao á? Đống sắt nung của mày làm tao phát buồn cười. Tao sẽ cho mày thấy hiệp sĩ dòng Đền là như thế nào! Tao sẽ xuyên thứ đó vào mông mày, mông Giáo hoàng. Cả mông vua Philip nữa, nếu hắn bén mảng lại tao đủ gần!’”
“Một lời thú tội! Chắc hẳn chuyện đã diễn ra theo lối đó,” Belbo nói. “Rồi nó theo anh ta vào ngục, ngày ngày được tẩm thêm dầu để anh ta sẽ bén lửa hơn khi thời điểm tới.”
“Họ chỉ là một đám con nít,” Diotallevi kết luận.
Câu chuyện bị cắt ngang bởi một cô gái có vết bớt trái dâu trên mũi; cô ta cầm trong tay mấy tờ giấy và hỏi chúng tôi đã ký thư kiến nghị thả các đồng chí Argentina đang bị cầm tù chưa. Belbo không buồn đọc, ký luôn. “Họ còn khốn khổ hơn cả tôi,” anh ta nói với Diotallevi đang trợn tròn mắt nhìn mình. “Anh ta không ký được đâu,” Belbo nói với cô gái. “Anh ta thuộc một giáo phái Ấn Độ cấm các thành viên viết tên mình ra. Nhiều người trong số họ đang ngồi tù vì bị chính phủ đàn áp ngược đãi.” Cô gái nhìn Diotallevi đầy thương cảm và đưa bản kiến nghị cho tôi.
“Thế họ là ai vậy?” tôi hỏi.
“Anh hỏi vậy là sao? Các đồng chí Argentina.”
“Nhưng họ thuộc về nhóm nào?
“Tôi nghĩ là Tacuara.”
“Tacuara là lũ phát xít,” tôi nói. Cứ như thể tôi phân biệt được các nhóm vậy.
“Đồ lợn phát xít,” cô gái phun rít lên với tôi. Cô bỏ đi.
“Có phải lúc nãy cậu đang nói hiệp sĩ dòng Đền chỉ là những gã khốn nghèo khó?” Diotallevi hỏi.
“Không,” tôi đáp. “Có lẽ tôi không nên cố tô vẽ cho câu chuyện sống động. Chúng ta đang nói đến toàn tốt đen, nhưng ngay từ đầu, dòng tu này đã nhận được những khoản quyên góp khổng lồ và từng chút từng chút một dựng lên các trang ấp khắp châu Âu. Alfonso xứ Aragon chẳng hạn, cho họ cả một vùng. Trên thực tế, trong di chúc ông muốn để lại cả vương quốc cho họ trong trường hợp ông băng hà mà không có người nối dõi. Các hiệp sĩ dòng Đền không tin tưởng ông ta, vậy nên họ tiến hành một thỏa thuận - cầm lấy tiền và tẩu vi thượng sách, hầu như là vậy. Trừ việc thay vì tiền là nửa tá thành trì ở Tây Ban Nha. Vua Bồ Đào Nha cho họ một khu rừng. Bởi vì khu rừng này vô tình lại do người Hồi chiếm đóng, các hiệp sĩ dòng Đền tổ chức một cuộc tấn công, đuổi cổ người Moor và trong quá trình đó lập ra Coimbra. Và đó chỉ là một vài tình tiết. Mấu chốt nằm ở đây: một phần của dòng tu đang chiến đấu ở Palestine, nhưng phần lớn lại ở nhà. Rồi chuyện gì xảy ra? Coi như ai đó phải đi Palestine đi. Anh ta cần tiền, và anh ta sợ phải mang theo châu báu trên đường, vậy nên anh ta để gia tài của mình cho các hiệp sĩ dòng Đền ở Pháp, Tây Ban Nha hoặc Ý. Họ đưa cho anh ta một giấy biên nhận và đến Trung Đông anh ta có thể đổi lấy tiền.”
“Một thư tín dụng.”
“Phải. Họ phát minh ra séc từ rất lâu trước các nhà băng vùng Florence. Từ những khoản quyên góp, chiến lợi phẩm, và phần trăm nào đó từ hoạt động tài chính của mình, các hiệp sĩ dòng Đền trở thành một công ty đa quốc gia. Điều hành một hoạt động như vậy đòi hỏi những người biết mình đang làm gì. Những người có thể thuyết phục Giáo hoàng Innocent II ban cho họ các đặc quyền đặc lợi hiếm có. Dòng tu này được phép giữ chiến lợi phẩm của mình, và ở bất kỳ nơi nào họ sở hữu tài sản, họ không phải chịu trách nhiệm trước nhà vua, đức giám mục hoặc giáo trưởng của Jerusalem, mà chỉ chịu trách nhiệm trước Giáo hoàng. Họ được miễn mọi loại thuế thập phân nhưng họ có quyền áp đặt thuế thập phân lên những đất đai mà họ nắm giữ... Nói tóm lại, tổ chức này luôn ở trong bóng tối và không ai có quyền soi mới nó. Các anh có thể hiểu vì sao giới giám mục và vua chúa không thích họ dù không có họ thì không xong. Quân Thập tự chinh cực kỳ thổ tả, hành quân mà không hề hay biết mình đang đi về đâu hoặc sẽ thấy những gì khi tới đó. Nhưng các hiệp sĩ dòng Đền tỏ tường từng đường đi nước bước. Họ biết cách đối phó với kẻ địch, họ quen thuộc thủy thổ và hiểu binh pháp. Dòng Đền trở thành một cơ sở làm ăn bề thế mặc dù danh tiếng của nó dựa trên việc khoa trương về những đội quân giết chóc của mình.”
“Và thùng rỗng thường kêu to?” Diotallevi hỏi.
“Thường là vậy. Lại nữa, điều đáng ngạc nhiên ở đây là cái hố sâu giữa một bên là kỹ năng chính trị và quản lý hành chính, bên kia là phong cách Mũ nồi xanh của họ: chỉ toàn gan, không hề có não. Chúng ta hãy ngẫm lại vụ Ascalon...”
“Ừ nói đi,” Belbo nói sau thoáng sao nhãng để thực hiện màn chào hỏi đầy ong bướm với một cô nàng tên Dolores.
Cô ta nhập hội và bảo, “Tôi phải nghe cho bằng được chuyện về Ascalon!”
“Được thôi. Một ngày đẹp trời vua nước Pháp, hoàng đế đế quốc La Mã Thần thánh, Vua Baudouin III của Jerusalem, cùng những đại thủ lĩnh của các hiệp sĩ dòng Đền và các hiệp sĩ Cứu tế quyết định bao vây Ascalon. Họ cùng lên đường: nhà vua, triều đình, giáo trưởng, các thầy tu vác những cây thập tự cùng cờ, và những đức giám mục vùng Tyre, Nazareth, Caesarea. Sự kiện ấy giống như một bữa đại tiệc, cờ xí ngập trời, lán trại dựng khắp xung quanh thành đô đối phương, trống nện dồn dập. Ascalon được một trăm năm mươi ngọn tháp bảo vệ và cư dân từ lâu đã chuẩn bị đối phó với một cuộc vây thành: nhà nào cũng có khe đục trên tường; chúng giống như những thành trì bên trong thành trì. Ý tôi là các hiệp sĩ dòng Đền là những chiến binh thông minh, đáng lẽ họ phải biết những điều này. Nhưng không, ai cũng phấn khích, và họ làm cột gỗ công thành cùng tháp gỗ: anh biết đấy, tháp gỗ là những công trình có bánh xe mà anh đẩy cho áp vào thành địch rồi từ đó anh có thể ném đá hay gỗ cháy hoặc bắn tên trong khi máy bắn đá phóng đá từ xa. Người Ascalon đã cố đốt các tháp ấy nhưng gió lại thổi về phía họ thành ra họ đốt cháy chính tường của mình, rồi một chỗ tường đổ sụp. Quân công thành xông cả vào khe hở kia.
“Và rồi một chuyện lạ lùng xảy ra. Đại thủ lĩnh của các hiệp sĩ dòng Đền đã thiết lập một rào chắn để chỉ có người của ông ta vào được trong thành. Bọn Phe chỉ trích cay độc bảo rằng ông ta rắp mưu sao cho chỉ có các hiệp sĩ dòng Đền kiếm chác được chiến lợi phẩm. Một cách giải thích tử tế hơn là ông ta sợ trong thành có bẫy nên muốn cử những người lính dũng cảm của mình vào trước. Dù nói theo cách nào, tôi cũng sẽ không cắt cử ông ta đứng đầu học viện quân sự đâu. Bốn mươi hiệp sĩ dòng Đền tràn trề nhiệt huyết xông thẳng vào thành rồi dừng phắt lại ở bức tường phía bên kia trong đám mây bụi khổng lồ, nhìn nhau băn khoăn không biết mình đang ở đây làm cái quái quỷ gì. Rồi họ quay một trăm tám mươi độ và thục mạng lao ngược lại, guồng chân qua những người Hồi đang trút mưa đá và phi tiêu vào họ, phần lớn bị tàn sát, trong đó có cả đại thủ lĩnh. Sau đó người Hồi bịt chỗ hở, treo đám xác lên tường thành và chế nhạo lính Cơ đốc giáo bằng những cử chỉ tục tĩu và tiếng cười man rợ.”
“Người Moor thật tàn bạo,” Belbo nói.
“Giống con nít,” Diotallevi thêm vào.
“Những hiệp sĩ dòng Đền này của anh điên thật rồi!” Dolores ngưỡng mộ nói.
“Làm tôi nhớ tới Tom và Jerry,” Belbo bình luận.
Tôi cảm thấy có chút tội lỗi. Dầu sao thì tôi đã sống với những hiệp sĩ dòng Đền suốt hai năm và đã phải lòng họ. Thế mà giờ đây, để mua vui cho thói hợm đời của mấy khán giả của mình, tôi đã khiến họ chẳng khác nào đám nhân vật bước ra từ phim hoạt hình. Có lẽ đó là lỗi của William xứ Tyrus, gã chép sử xảo trá đó. Tôi gần như có thể thấy ngay trước mắt những hiệp sĩ dòng Đền của mình, râu quai nón và dung mạo sáng ngời, thập tự đỏ ngời chói trên áo trắng như tuyết, nhấp nhô trên lưng chiến mã dưới bóng Beauceant, lá cờ nửa đen nửa trắng của dòng tu. Họ đã quá đỗi mê say với bữa tiệc của tử thần và dũng khí. Có lẽ giọt mồ hôi mà thánh Bernard mô tả là cái ánh đồng tô điểm vẻ quý tộc mỉa mai cho những nụ cười dữ dội của các chàng hiệp sĩ khi họ ăn mừng cuộc chia lìa với sự sống... Những con mãnh sư trong chiến trận, Jacques de Vitry gọi họ như vậy, nhưng cũng là những con cừu non ngoan hiền trong thời bình; gan góc ngoài chiến trường, sùng kính trong cầu nguyện; tàn bạo với kẻ thù nhưng tràn đầy từ tâm với những người anh em. Sắc trắng và đen trên lá cờ của họ đối nghịch nhau làm sao: với những bằng hữu của Chúa, họ trong trắng thánh thiện; với kẻ thù của Người, họ dữ tợn và biến thành nỗi kinh hoàng.
Những người bảo vệ đức tin đáng thương, tia sáng le lói cuối cùng của buổi hoàng hôn tinh thần hiệp sĩ. Vì sao lại chơi trò Ariosto cũ kỹ với họ trong khi tôi có thể là Joinville* của họ? Tác giả của Histoire de Saint Louis đã song hành cùng vị vua được phong thánh này tới Đất Thánh, vừa đóng vai trò người ghi chép vừa là chiến binh. Giờ tôi nhớ lại những gì ông ta viết về các hiệp sĩ dòng Đền. Lúc đó dòng tu này đã ra đời được hơn một trăm tám mươi năm và kinh qua đủ nhiều thập tự chinh để làm xói mòn lý tưởng của bất kỳ ai. Những hình ảnh anh hùng của Nữ hoàng Melisende và vị vua hủi Baudouin đã tan biến như bóng ma; đấu tranh bè phái ở Li Băng - tới tận lúc đó còn đẫm máu - đã gần đến hồi kết; Jerusalem đã sụp đổ một lần; Barbarossa đã chìm nghỉm ở Cilicia; Richard Tim Sư tử thất trận và nhục nhã đã cải trang trở về cố hương trong bộ dạng một hiệp sĩ dòng Đền, ồ, giữa bao nhiêu lựa chọn khác; người Cơ đốc giáo đã thua trận. Cái nhìn của người Moor về liên minh của các vị vua tự trị tập hợp lại để bảo vệ nền văn minh của mình đã rất khác biệt. Họ đã đọc Avicenna* và họ không dốt nát như người châu Âu. Làm sao anh có thể sống kề bên một nền văn hóa khoan dung, huyền bí, tự do trong suốt hai thế kỷ mà không chịu thua trước sức quyến rũ của nó, đặc biệt là khi anh so sánh nó với văn hóa Tây phương thô sượng, khiếm nhã, man rợ và Giéc-manh? Thế rồi vào năm 1244, sự sụp đổ cuối cùng, dứt khoát của Jerusalem cũng tới. Cuộc chiến tranh bắt đầu từ một trăm năm mươi năm trước đã thất bại. Người Cơ đốc giáo đã phải buông vũ khí ở một vùng đất giờ được dâng hiến cho hòa bình và hương tuyết tùng Li Băng. Tội nghiệp các hiệp sĩ dòng Đền. Thiên anh hùng ca của các anh, tất cả đã tan thành mây khói.
Sử gia người Pháp, tác giả cuốn Histoire de Saint Louis (Tiểu sử Thánh Louis), nguồn tư liệu chính về cuộc đời và sự nghiệp của Louis IX.
Nhà bác học người Ba Tư, đã viết 450 tác phẩm cho nhiều chủ đề khác nhau. Trong số 240 tác phẩm còn lưu giữ được của ông, có 150 bản tập trung vào triết học và 40 bản tập trung vào y thuật.
Chẳng mấy khó hiểu vì sao trong nỗi muộn sầu dịu nhẹ của vinh quang nhạt phai, già cỗi của mình, họ đã lắng tai nghe những học thuyết bí truyền của huyền học Hồi giáo, những thầy tu bảo vệ các kho báu được chôn giấu. Có lẽ huyền thoại về những hiệp sĩ dòng Đền đã ra đời như thế, thứ huyền thoại vẫn còn ám ảnh một số đầu óc thất vọng và thèm khát, huyền thoại về một nguồn sức mạnh vô biên vẫn còn nằm yên chưa được dụng tới, chưa được chế ngự...
Ngay cả trong thời của Joinville, vị vua được phong thánh Louis, người mà Aquinas đã cùng dùng bữa, vẫn khăng khăng tin vào Thập tự chinh mặc cho hai thế kỷ của những giấc mơ tan tành vì sự ngu ngốc của kẻ thắng trận. Liệu có đáng thử thêm một lần nữa? Có chứ, Louis nói. Và các hiệp sĩ dòng Đền sẵn sàng, tự nguyện; họ đi theo ông ta vào thất bại, bởi vì đó là công việc của họ. Không có Thập tự chinh, làm sao họ có thể biện chính cho dòng tu của mình?
Louis tấn công Damietta* từ ngoài khơi. Bờ biển của kẻ địch chói lòa những giáo mác, kích, cờ xí, khiên và mã tấu. Những người đàn ông điển trai, Joinville hào hiệp kể, mang vũ khí bằng vàng lấp lóa dưới ánh mặt trời. Louis có thể đợi, nhưng ông ta quyết định phải cập bờ bằng bất cứ giá nào. “Hỡi các môn đồ trung thành của ta, chúng ta sẽ bất khả chiến bại nếu chúng ta không tách rời thiện nguyện của mình. Nếu thua trận, chúng ta sẽ là những người tử vì đạo. Nếu chúng ta ca khúc khải hoàn, vinh quang của Thiên Chúa sẽ còn vĩ đại hơn.” Các hiệp sĩ dòng Đền không tin điều này nhưng họ đã được huấn luyện để trở thành hiệp sĩ cho lý tưởng, và đây là hình ảnh của chính họ mà họ phải khẳng định. Họ sẽ tiến bước theo nhà vua trong cơn điên rồ bí hiểm của ông ta.
Một bến cảng, cũng là thử phủ vùng Damietta của Ai Cập, cách Cairo 200 km về phía Bắc.
Thật phi thường, cuộc cập bờ đã thành công; và cũng phi thường không kém, người Hồi giáo bỏ rơi Damietta. Nhưng vị vua chần chừ chưa muốn tiến vào thành phố, sợ cạm bẫy. Có điều cạm bẫy ở đâu ra: thành phố nằm đó cho ông ta chiếm lấy cùng với những của nả và hàng trăm thánh đường Hồi giáo mà Louis lập tức biến thành nhà thờ phụng sự Chúa. Giờ ông ta có một quyết định phải đưa ra: ông ta nên hành quân tới Alexandria hay Cairo? Lựa chọn sáng suốt sẽ là Alexandria, đoạt đi của Ai Cập một bến cảng quan trọng. Nhưng cuộc viễn chinh có thiên tài ma quỷ của nó, em trai của nhà vua, Robert xứ Artois, một kẻ hoang tưởng tự đại đói khát vinh quang. Một con ngựa non háu đá điển hình. Ông ta thuyết phục Louis tiến về Cairo, trái tim của Ai Cập. Các hiệp sĩ dòng Đền ban đầu còn thận trọng, giờ đã hăng máu. Nhà vua ban lệnh tránh những đụng độ lẻ tẻ, nhưng nguyên soái của dòng Đền tự rước lấy trách nhiệm vi phạm lệnh cấm kia. Thấy một đội lính của vua Hồi, ông ta thét to: “Đập tan chúng, nhân danh Chúa, ta không thể chịu nổi nỗi nhục nhã thế này!”
Người Hồi giáo đào hào bên kia con sông gần Mansura. Người Pháp cố dựng một con đập và tạo ra một chỗ cạn, bảo vệ nó bằng các tháp di động, nhưng người Hồi giáo đã học được nghệ thuật chế tạo lửa Hy Lạp - thiết bị phun lửa của người Byzantine. Lửa Hy Lạp có dạng thùng với đuôi là một thứ cây thương lớn. Nó được phóng đi như một tia sét, một con rồng bay. Nó cháy mạnh đến nỗi về đêm trong doanh trại Cơ đốc giáo người ta có thể thấy rõ như ban ngày.
Trong khi doanh trại rừng rực cháy, một tên phản bội người Bedouin dẫn nhà vua và lính của ngài tới một chỗ cạn đổi lấy ba trăm đồng vàng La Mã. Nhà vua quyết định tấn công. Lội qua đó đâu có dễ, nhiều người bị dòng nước nhấn chìm hoặc cuốn phăng đi trong khi ba trăm lính Hồi cưỡi ngựa đợi sẵn ở bờ bên kia. Khi phần chủ lực của lực lượng tấn công cuối cùng cũng vào tới bờ, các hiệp sĩ dòng Đền theo kế hoạch đi tiên phong, tiếp theo là bá tước Artois. Kỵ binh Hồi bỏ chạy và các hiệp sĩ dòng Đền đợi những người còn lại của đoàn quân tới. Nhưng Artois và quân của mình lao lên trước để truy đuổi kẻ thù.
Các hiệp sĩ dòng Đền, sợ bị mất danh dự, liền lao theo nhưng chỉ đuổi kịp Artois sau khi ông ta đã vào được doanh trại địch và bắt đầu tàn sát. Quân Hồi giáo rút về Mansura, đúng điều mà Artois hy vọng. Ông ta khởi hành đuổi theo họ. Các hiệp sĩ dòng Đền gắng cản ông ta; sư huynh Gilles, chỉ huy tối cao của dòng tu, đã thử dùng lời ngon ngọt bảo Artois rằng ông ta đã lập một chiến công phi thường, có lẽ là chiến công vĩ đại nhất từng đạt được ở hải ngoại. Nhưng Artois nôn nóng giành vinh quang đã buộc tội hiệp sĩ dòng Đền phản bội, tuyên bố rằng nếu thực tâm muốn thì các hiệp sĩ dòng Đền và hiệp sĩ Cứu tế đã có thể chinh phục được vùng đất này từ lâu rồi. Ông ta đã cho họ thấy một người đàn ông mang dòng máu nóng trong huyết quản có thể làm gì. Sự xúc phạm ấy vượt quá sức chịu đựng. Các hiệp sĩ dòng Đền phải chứng minh rằng họ không thua kém ai. Họ tấn công vào thành phố và dồn đuổi kẻ thù tới tận chân tường thành bên kia. Rồi đột nhiên các chàng hiệp sĩ nhận ra rằng họ đã lặp lại sai lầm ở Ascalon. Trong khi đám người Cơ đốc giáo bận vơ vét cung điện của vua Hồi, người ngoại đạo đã tập hợp lại và vô tình vớ được những kẻ săn mồi giờ đã bị phân tán.
Liệu các hiệp sĩ dòng Đền có lần nữa cho phép bản thân bị mờ mắt vì lòng tham? Một số người đã kể rằng trước khi cùng Artois tiến vào thành phố, sư huynh Gilles đã quay sang bảo ông ta với vẻ lãnh đạm thản nhiên: “Thưa ngài, các anh em tôi và tôi không run sợ. Chúng tôi đi theo ngài. Nhưng chúng tôi thực nghi ngờ rằng sẽ có ai trong chúng ta quay lại được.” Và quả thực, Artois tử trận, cơ man nào hiệp sĩ dũng mãnh hy sinh cùng ông ta, trong đó có hai trăm tám mươi hiệp sĩ dòng Đền.
Đó còn hơn cả một thất bại, đó là một nỗi ô nhục. Nhưng ngay cả Joinville cũng đâu có ghi lại nó như thế. Chuyện đã diễn ra và đó là vẻ đẹp của chiến tranh.
Ngòi bút Joinville biến đa phần các trận chiến và cuộc đụng độ nhỏ ấy thành những vũ khúc ba lê mê hoặc. Bao mái đầu xanh rơi rụng, bao tiếng khẩn cầu hướng tới Chúa nhân từ, và nhà vua rơi lệ trước sự hy sinh của một người lính trung thành. Nhưng tất cả chỉ là thứ màu kỹ thuật sặc sỡ giả tạo, được điểm tô cho hoàn mỹ bằng những tấm yên ngựa đỏ thắm, dây cương mạ vàng, mũ sắt và gươm đao sáng lóa dưới mặt trời sa mạc vàng rực, và một vùng biển ngăn ngắt xanh ở hậu cảnh. Nhưng ai biết được? Có lẽ các hiệp sĩ dòng Đền đã thực sự sống qua những ngày chém giết theo cách ấy.
Tầm nhìn của Joinville dao động theo chiều thẳng đứng, tùy theo ông ta rơi khỏi lưng ngựa hay đã lại leo lên mình ngựa. Ông ta sắc sảo quan sát những cảnh riêng rẽ nhưng vuột mất bức tranh tổng thể. Chúng ta thấy những cuộc đấu tay đôi riêng lẻ mà kết quả thường không theo quy luật nào. Joinville lao tới cứu lãnh chúa vùng Wanon. Một người Thổ dùng thương tấn công ông ta, con ngựa của Joinville khuỵu xuống, Joinville ngã bổ qua đầu con vật, ông ta đứng dậy, kiếm trong tay và hiệp sĩ Erard de Siverey (“cầu Chúa vinh danh anh ta”) chỉ về một ngôi nhà đổ nát mà họ có thể ẩn nấp. Họ bị quân Thổ cưỡi trên lưng ngựa giày xéo. Hiệp sĩ Frederic xứ Loupey bị đánh từ phía sau, “đòn ấy tạo ra một vết thương lớn tới nỗi máu ục ra từ cơ thể anh ta như tràn từ lỗ nút thùng rượu.” Siverey nhận một cứ chém sượt qua mặt khiến “mũi anh ta rớt lủng lẳng trên môi.” Và cứ như vậy, cho tới khi quân cứu viện tới. Họ rời ngôi nhà và di chuyển đến một địa điểm khác trên chiến trường, nơi có thêm nhiều cái chết cùng những cuộc giải cứu vào phút chót, và thêm những tiếng ồn ào cầu nguyện thánh James. Trong lúc đó, vị bá tước dũng mãnh vùng Soissons vừa vung gươm vừa thét lớn, “Ngài Joinville, cứ để lũ chó má kia tru như chúng muốn. Xin thề trên mũ trùm của Chúa, rồi chúng ta sẽ có lúc tán với nhau về cái ngày này, anh và tôi, yên vị ở nhà bên các phu nhân của chúng ta!” Nhà vua hỏi tin tức người em trai của mình, bá tước Artois khốn khổ, thì sư huynh Henri de Ronnay, mục sư trưởng của các hiệp sĩ Cứu tế, trả lời rằng ông ta “có tin tốt, vì chắc chắn giờ bá tước đang ở trên thiên đàng.” “Những gì cậu ấy hiến dâng đã vinh danh Chúa,” nhà vua đáp, những giọt lệ lớn nhỏ từ khóe mi ngài.
Nhưng câu chuyện không phải lúc nào cũng là một vở ba lê, thiên thần và nhuốm máu. Đại thủ lĩnh Guillaume de Sonnac tử trận, bị lửa Hy Lạp thiêu sống. Xú khí của xác chết và sự thiếu thốn lương thực khiến quân Cơ đốc nhiễm bệnh hoại huyết. Lính của thánh Louis cuối cùng bị đánh tan tác. Nhà vua bị bệnh lỵ hành thê thảm đến nỗi phải cắt béng luôn đít quần để tiết kiệm thời gian trên chiến trường. Damietta thất thủ và hoàng hậu phải thương lượng với quân Hồi giáo, trả năm trăm ngàn đồng livre tournois chuộc nhà vua về.
Những cuộc thập tự chinh được tiến hành trong trò lừa đạo đức. Trên đường về Saint-Jean-d’Acre, vua Louis được tung hô như người chiến thắng, toàn thành phố đổ ra đường đón chào ông ta, trong đó có cả giới tăng lữ, phụ nữ và trẻ em. Các hiệp sĩ dòng Đền thấy được chiều gió đang thổi liền cố gắng mở thương lượng với Damascus. Louis phát hiện ra chuyện này và, nổi cơn tam bành vì bị qua mặt, không công nhận vị đại thủ lĩnh mới ngay trước mặt các sứ giả Hồi giáo. Vị đại thử linh kia phải rút lại những lời hứa với kẻ thù, quỳ xuống trước mặt nhà vua cầu xin vua tha thứ. Không ai có thể nói rằng các Hiệp sĩ đã không chiến đấu quả cảm và quên mình nhưng nhà vua nước Pháp vẫn sỉ nhục họ để củng cố lại quyền lực của mình. Và nửa thế kỷ sau, người kế nhiệm của Louis, Philip, để củng cố quyền lực của mình, sẽ ném các Hiệp sĩ lên giàn thiêu.
Năm 1291, Saint-Jean-d’Acre bị người Moor chiếm đóng, tất cả cư dân bị tàn sát. Vương quốc Cơ đốc giáo của Jerusalem vĩnh viễn diệt vong. Các hiệp sĩ dòng Đền giàu có hơn, đông đảo hơn, quyền lực hơn bao giờ hết, nhưng họ được sinh ra để chiến đấu ở Đất Thánh, vậy mà ở Đất Thánh chẳng còn lại ai.
Họ sống trong sung tức, tách biệt trong những trang ấp trên khắp châu Âu và trong Ngôi đền ở Paris, nhưng họ vẫn mơ về vùng cao nguyên của Ngôi đền ở Jerusalem những ngày vinh quang, mơ về thánh đường đẹp đẽ Saint Mary Lateran* dát vàng dát bạc với những nguyện đường nhỏ, mơ về hàng mớ chiến tích của mình, và mọi thứ còn lại: những xưởng rèn, yên cương, kho thóc, những dãy chuồng chứa hai nghìn con ngựa, những đoàn cận vệ, trợ tá phi nước kiệu, những kỵ xạ địa phương, những chữ thập đỏ trên nền áo trắng, áo tế sẫm màu của các trợ tá, những công sứ của vua Hồi đầu đội khăn xếp lớn và mũ giáp mạ vàng, những người hành hương, một ngã tư giăng kín lính tuần tra và những người cưỡi ngựa theo hầu bảnh bao, niềm hoan hỉ trước những rương tiền nặng trĩu, bến cảng mà từ đó những mệnh lệnh và kiện hàng được chuyển tới các pháo đài nằm sâu trong lục địa, trên đảo hoặc bên những bờ biển Tiểu Á...
Người dịch không tìm thấy tư liệu về thánh đường Saint Mary Lateran, chỉ tìm thấy nhà thờ Saint John Lateran ở Ý.
Tất cả đã xa rồi, những hiệp sĩ dòng Đền khốn khổ của tôi.
Tối đó, ở Pilade, đến ly whiskey thứ năm mà Belbo trả tiền, khăng khăng đòi trả, tôi chợt nhận ra rằng mình đã đang mơ thành tiếng và - xấu hổ thay - chứa chan cảm xúc. Nhưng hẳn tôi đã phải kể một câu chuyện đẹp đẽ, đầy trắc ẩn, bởi vì đôi mắt của Dolores ngấn lệ còn Diotallevi sau khi hăng máu liều lĩnh gọi cốc tonic thứ hai, đang bằng ánh mắt của những thiên thần tối cao trân trối nhìn lên thiên đường, hay đúng hơn là nhìn cái trần rõ ràng không hề có hơi hướng Kabbalah của quán bar. Anh ta lẩm bẩm: “Có lẽ họ là tất cả những thứ đó: linh hồn lạc lối và vị thánh, kỵ sĩ và kẻ dắt ngựa, chủ nhà băng và người hùng...”
“Họ rất xuất chúng, không nghi ngờ gì,” là tổng kết của Belbo. “Nhưng hãy cho tôi biết, Casaubon, anh yêu họ phải không?”
“Tôi đang làm luận văn về họ. Nếu anh làm luận văn về bệnh giang mai, cuối cùng anh cũng sẽ yêu cả xoắn khuẩn.”
“Dễ thương quá,” Dolores nói. “Giống như phim vậy. Nhưng tôi phải đi đây. Tôi phải đi in tờ rơi cho sáng mai. Có một cuộc biểu tình ở nhà máy Marelli.”
“Chúc em may mắn. Em dư sức đảm đương,” Belbo đáp. Anh ta đưa bàn tay ơ hờ lên vuốt tóc cô nàng. Rồi anh ta gọi cái mà anh ta bảo là ly whiskey cuối cùng. “Sắp nửa đêm rồi. Tôi nói điều này không phải cho những người bình thường, mà vì lợi ích của Diotallevi. Nhưng chúng ta tiếp tục đi. Tôi muốn nghe về vụ xét xử. Ai, cái gì, khi nào và vì sao.”
“Cur, quomodo, quando,” Diotallevi tán thành. “Phải đó.”