Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 231 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
19

❊ ❊ ❊

Sau Beaujeu, Dòng tu chưa từng ngừng tồn tại, không một giây phút nào, và sau Aumont chúng ta thấy một sự nối tiếp liên tục không ngừng nghỉ của các Đại thủ lĩnh Dòng tu cho tới tận thời đại chúng ta đây, và nếu như tên tuổi cùng nơi cư ngụ của Đại thủ lĩnh đích thực cũng như các quan án đích thực, những người lãnh đạo Dòng tu, dẫn dắt công những công tác siêu phàm của nó đến nay vẫn còn là điều bí ẩn, một bí mật khôn dò mà chỉ những người thực sự được khai sáng mới tỏ tường, thì đó là bởi vì thời khắc của Dòng tu chưa điểm và thời gian chưa chín muồi...

− Bản thảo năm 1760, trong Die Entstehung der Rittergrade

in der Freimauerei um die Mitte des XVIII Jahrhunderts, của G. A.

Schiffmann, Leipzig, Zechel, 1882, tr. 178-190

Đó là liên hệ đầu tiên, xa lắc xa lơ của chúng tôi với Kế hoạch. Nếu ngày hôm đó tôi không ngồi trong văn phòng của Belbo thì giờ đây dễ thường tôi đang ở chỗ khác rồi. Tôi có thể đang - ai biết được - bán hạt mè ở Samarkand hay biên tập một loạt sách bằng chữ Braille, hay làm thống đốc Ngân hàng Quốc gia đầu tiên của quần đảo Franz Josef Land không chừng. Các điều kiện phản thực luôn đúng, bởi vì giả thuyết sai. Nhưng ngày hôm ấy tôi ngồi đó, và bây giờ tôi có mặt tại nơi tôi đang ở đây.

Viên đại tá đã trao cho chúng tôi tờ giấy với cử chỉ đầy kịch tính. Tôi vẫn còn giữ nó giữa đám giấy tờ của mình, trong một cái kẹp tài liệu nhựa xinh xinh. Được in trên giấy in nhiệt mà các hàng photocopy dùng thời đó, nay nó ngả vàng hơn, mờ hơn. Thật ra trên tờ giấy có hai phần văn bản: phần đầu tiên kín đặc chữ, chiếm nửa diện tích; phần thứ Hai chia thành các mẩu thơ...

Phần thứ nhất là một loại kinh cầu quỷ dữ, một kiểu nhái lại ngôn ngữ Xê-mít:

Kuabris Defrabax Rexulon Ukkazaal Ukzaab Urpaefel

Taculbain Habrak Hacoruin Maquafel Tebrain Hmcatuin

Rokasor Himesor Argaabil Kaquaan Docrabax Reisaz

Reisabrax Decaiquan Oiquaquil Zaitabor Qaxaop Dugraq

Xaelobran Disaeda Magisuan Raitak Huidal Uscolda

Arabaom Zipreus Mecrim Cosmae Duquifas Rocarbis.

“Không rõ lắm,” Belbo nhận xét.

“Không, không hề rõ,” viên đại tá ranh mãnh tán thành. “Và có khi tôi phải mất cả đời cố gắng giải nghĩa nó nếu không phải có một ngày hầu như tình cờ tôi tìm thấy một cuốn sách về Trithemius* trên một kệ sách và để ý thấy một trong những đoạn mật mã của ông ta: ‘Pamersiel Oshurmy Delmuson Thafloyn...’ Tôi đã vớ được một manh mối và liền ráo riết truy theo nó. Tôi hoàn toàn không biết gì về Trithemius nhưng ở Paris tôi tìm thấy một ấn bản cuốn Steganographia, hoc est ars per occultam scripturam animi sui voluntatem absentibus aperiendi certa của ông ta, xuất bản năm 1606 ở Frankfurt. Nghệ thuật dùng mật mã để phơi bày linh hồn anh với những người ở xa. Một người lôi cuốn, cái ông Trithemius ấy. Tu viện trưởng tu viện Spannheim* dòng Biển Đức cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, một học giả am tường tiếng Hebrew và Chaldea, những ngôn ngữ phương Đông như tiếng Tartar. Ông giao thiệp với những nhà thần học, những giáo sĩ Kabbalah, những nhà giả kim, gần như chắc chắn có giao thiệp với Cornelius Agrippa vĩ đại xứ Nettesheim và có lẽ với cả Paracelsus... Trithemius giấu giếm những hé lộ của mình về mật mã đằng sau những tấm màn khói ma thuật. Ví dụ, ông ấy đề xuất việc gửi những thông điệp được mã hóa như cái mà hai anh đang xem. Người nhận khi ấy sẽ triệu tới những thiên thần như Pamersiel, Padiel, Dorothiel, vân vân, để giúp anh ta giải mã thông điệp thật sự. Nhưng nhiều ví dụ của ông ta thực ra là văn bản quân sự, và cuốn sách của ông ta - được đề tặng cho Philip, Sứ quân và Công tước Bavaria - trình bày một trong những nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về mật mã.”

Johannes Trithemius (1462-1516), là một tu viện trưởng, sử gia, nhà huyền bí người Đức. Ông ta đã cho ra một hệ thống cách viết mật mã riêng.

Tác giả viết nhầm, đáng lẽ phải là Sponnheim.

“Nếu cháu có nói sai thì xin bỏ quá cho,” tôi chen vào, “nhưng chẳng phải bác bảo rằng Trithemius sống ít nhất một trăm năm sau khi văn bản mà chúng ta đang nói tới được viết ra hay sao?”

“Trithemius có quan hệ với một nhà xuất bản Sodalitas Celtica nào đó làm về triết học, thiên văn học, toán học Pythagore. Anh thấy mối liên hệ chưa? Các hiệp sĩ dòng Đền là một dòng tu mà những người thụ giáo cũng được truyền cảm hứng từ trí tuệ của người Celt cổ đại; điều đó đã được chứng minh rộng rãi. Bằng cách nào đó Trithemius cũng học được hệ thống mật mã mà các hiệp sĩ dòng Đền đã sử dụng.”

“Rất tuyệt,” Belbo nói. “Thế còn bản sao của mật thư? Nó nói gì ạ?”

“Tôi sắp kể đây, thưa chư vị. Trithemius trình bày bốn mươi hệ thống mật mã lớn và mười hệ thống nhỏ. Ở đây tôi thật may mắn - hoặc là vậy hoặc chỉ vì các hiệp sĩ dòng Đền ở Provins không bỏ công gì nhiều lắm bởi họ chắc mẩm sẽ chẳng bao giờ có ai giải được mật mã của mình. Tôi thử phương thức đầu tiên trong bốn mươi hệ thống lớn và giả dụ rằng duy chỉ chữ cái đầu tiên của một từ là có ý nghĩa mà thôi.”

Belbo xin được xem tờ giấy và liếc nhìn nó. “Bác vẫn chẳng thu được gì: kdruuuth...”

“Đương nhiên,” viên đại tá nói ra vẻ bề trên. “Các hiệp sĩ dòng Đền có thể không bỏ công gì nhiều cho lắm, nhưng họ cũng không phải hoàn toàn lười biếng. Dãy chữ cái đầu tiên bản thân nó lại là một mật mã, và tôi tự hỏi liệu loạt mười hệ thống mật mã nhỏ có mang lại câu trả lời không. Với loạt thứ Hai này, các anh thấy đấy, Trithemius dùng một số bánh xe. Đây là bánh xe cho hệ thống đầu tiên.”

Ông ta lấy từ trong kẹp tài liệu ra một bản sao chụp, kéo ghế lại sát bàn viết và yêu cầu chúng tôi thật chú tâm, rồi dùng cây bút mực vẫn đang đóng nắp trỏ vào những chữ cái.

img3

“Đây là hệ thống đơn giản nhất trên đời. Hãy chỉ để ý tới vòng bên ngoài. Để mã hóa thứ gì đó, anh thay mỗi chữ cái của thông điệp gốc bằng chữ cái đứng trước nó: thay A bằng Z, thay B bằng A, và cứ như vậy. Ngày nay đó chỉ là trò chơi con nít đối với một điệp viên nhưng vào thời đó nó được coi là phép phù thủy. Để giải mã, tất nhiên anh phải đi theo hướng ngược lại, thay mỗi chữ cái trong thông điệp mã hóa bằng chữ cái liền sau nó. Tôi đã thử và một lần nữa tôi lại gặp may; ngay lần đầu đã thành công. Đây là những gì nó nói.” Ông ta ngâm nga: “‘Les 36 invisibles separez en six bandes.’ Có nghĩa là: ba mươi sáu người vô hình chia thành sáu nhóm.”

“Nghĩa là sao ạ?”

“Thoạt nhìn đúng là không có nghĩa gì. Một loại tiêu đề thông báo sự thành lập của một nhóm. Nó được viết bằng mật mã vì lý do nghi thức. Các hiệp sĩ dòng Đền của chúng ta hài lòng là đã đặt thông điệp của mình trong một chốn thâm cung linh thiêng bất khả xâm phạm nên vui lòng dùng tiếng Pháp thế kỷ 14 của họ. Nhưng hãy nhìn vào phần văn bản thứ Hai.”

a la... Saint Jean

36 p charrete de fein

6... entiers avec saiel

p... les blancs mantiax

r... s... Chevaliers de Pruins pour la... j. nc.

6 foiz 6 en 6 places

chascune foiz 20 a... 120 a...

iceste est l’ordonation

al donjon li premiers

it li secunz joste iceus qui... pans

it al refuge

it a Nostre Dame de l’altre part de l’iau

it a l’ostel des popelicans

it a la pierre

3 foiz 6 avant la feste... la Grant Pute.

“Đây là thông điệp được giải mã?” Belbo hỏi, thất vọng và hài hước.

“Rõ ràng các dấu chấm trong bản sao chép của Ingolt đại diện cho các từ không đọc được. Có lẽ tấm giấy da kia đã bị hư hại ở một số chỗ. Nhưng tôi đã làm bản sao chép cuối cùng và dịch ra, dựa trên những ước đoán mà, tôi nói đây không phải để khoe khoang đâu, không thể nghi ngờ. Tôi đã khôi phục lại mật thư về đúng với hào quang thuở xưa của nó như người ta thường nói.”

Với điệu bộ ảo thuật gia, ông ta lật tờ sao chụp ra cho chúng tôi thấy những ghi chú của ông ta, viết bằng chữ in hoa.

(ĐÊM CỦA) THÁNH JOHN

36 (NĂM) S(AU) XE BÒ CHỞ CỎ

6 (THƯ) NGUYÊN VẸN NIÊM PHONG

C(HO NHỮNG HIỆP SĨ MẶC) ÁO THỤNG TRẮNG [HIỆP SĨ DÒNG ĐỀN]

R(ELAP)S(I) Ở PROVINS ĐỂ (VAIN)JANCE [TRẢ THÙ]

6 LẦN 6 TẠI SÁU NƠI

MỖI LẦN 20 N(ĂM THÀNH) 120 N(ĂM)

ĐÂY LÀ KẾ HOẠCH

NHÓM THỨ NHẤT TỚI LÂU ĐÀI

IT(ERUM) [LẦN NỮA SAU 120 NĂM] NHÓM thứ Hai GIA NHẬP NHÓM KIA

(CỦA) BÁNH MÌ

MỘT LẦN NỮA ĐẾN NƠI ẨN NÁU

MỘT LẦN NỮA TỚI LỆNH NƯƠNG CỦA CHÚNG TA BÊN KIA SÔNG

MỘT LẦN NỮA TỚI NHÀ TRỌ CỦA CÁC POPELICAN

MỘT LẦN NỮA TỚI HÒN ĐÁ

3 LẦN 6 [666] TRƯỚC BỮA TIỆC (CỦA) Ả ĐIẾM VĨ ĐẠI.

“Rõ như ban tối ấy,” Belbo nói.

“Tất nhiên vẫn cần diễn giải thêm. Nhưng Ingolf chắc chắn đã làm được điều ấy, cũng giống như tôi. Nếu biết về lịch sử của dòng tu, các anh sẽ thấy mật thư ít mơ hồ hơn là vẻ bề ngoài của nó.”

Một thoáng ngừng. Ông ta hỏi xin một ly nước và lại cùng chúng tôi rà lại văn bản, từng từ một.

“Nào. Đêm lễ thánh John, ba mươi sáu năm sau sự kiện chiếc xe bò chở cỏ. Những hiệp sĩ dòng Đền mang trọng trách giữ cho dòng tu tiếp tục sống đã thoát khỏi cuộc bắt bớ vào tháng Chín năm 1307 trong một chiếc xe bò chở cỏ. Thời ấy, năm được tính giữa hai lễ Phục sinh. Vậy nên 1307 sẽ kết thúc vào thời điểm mà chúng ta coi là lễ Phục sinh năm 1308. Đếm ba mươi sáu năm sau lễ Phục sinh 1308, anh sẽ có lễ Phục sinh năm 1344. Bức thư được đặt ở hầm mộ trong một chiếc hộp quý, như một dấu niêm phong, một loại chứng thư làm chứng cho một hoạt động nào đó đã diễn ra ở đấy vào đêm lễ thánh John sau sự kiện thành lập dòng tu bí mật. Nói cách khác, vào ngày 23 tháng Sáu năm 1344.”

“Sao lại là năm 1344?”

“Tôi tin rằng trong khoảng từ năm 1307 đến 1344, dòng tu bí mật được tái cơ cấu để chuẩn bị cho kế hoạch mà tấm da dê nhắc tới. Họ phải đợi cho tới khi bụi bặm lắng xuống, cho tới khi những mối liên hệ giữa các hiệp sĩ dòng Đền ở năm hay sáu quốc gia lại bền chắc lại. Giờ nếu các hiệp sĩ dòng Đền đợi ba mươi sáu năm - không phải ba mươi lăm hay ba mươi bảy - thì rõ ràng đó là bởi vì con số 36 có những tính chất huyền bí đối với họ, như bức mật thư kia xác nhận. Tổng các chữ số của ba mươi sáu là chín, và tôi không cần phải nhắc các anh tới tầm quan trọng sâu sắc của con số này.”

“Tôi có làm phiền mọi người không?” Là Diotallevi, anh ta đã lén tới sau lưng chúng tôi, trên đôi chân êm ru như một hiệp sĩ dòng Đền ở Provins.

“Đúng sở trường của anh đấy,” Belbo nói. Anh ta giới thiệu Diotallevi với viên đại tá, ông này dường như không thấy phiền gì cho lắm. Ngược lại, ông ta mừng rỡ khi có cử tọa đông đảo và nhiệt tình hơn. Ông ta tiếp tục cuộc bình giải kinh thánh của mình, Diotallevi chảy nước miếng trước những sơn hào hải vị thần số học ấy. Gematria tinh thuần.

“Giờ chúng ta đến với những dấu niêm phong: sáu thứ nguyên vẹn, được niêm phong. Ingolf đã tìm thấy một chiếc hộp đóng kín với một dấu niêm phong. Chiếc hộp này được niêm phong cho ai? Cho những Người Áo Thụng Trắng, cho hiệp sĩ dòng Đền. Tiếp tới là một chữ r, vài chữ cái bị mất, và một chữ s. Tôi đọc nó là ‘relapsi.’ Vì sao? Bởi vì, như tất cả chúng ta đều biết, relapsi là những bị cáo thú tội sau đó rút lại lời khai, và relapsi đóng một vai trò cốt yếu trong vụ xét xử các hiệp sĩ dòng Đền. Các hiệp sĩ dòng Đền ở Provins mang cái căn tính relapsi kia một cách kiêu hãnh. Họ là những người đã tách bản thân ra khỏi trò khôi hài xấu xa của một vụ xét xử. Vậy nên bức mật thư nhắc tới những hiệp sĩ ở Provins, relapsi, những người đang chuẩn bị - điều gì? Những chữ cái ít ỏi mà chúng ta có gọi đến ‘vainjance’, trả thù.”

“Trả thù điều gì?”

“Thưa các ngài! Toàn bộ bầu thần bí của dòng Đền, kể từ cuộc xét xử, đều tập trung vào kế hoạch báo thù cho Jacques de Molay. Tôi không nghĩ nhiều về nghi thức của Hội Tam điểm, đó chẳng qua là bức biếm họa trưởng giả về tinh thần hiệp sĩ dòng Đền, nhưng dẫu sao nó vẫn là một sự phản chiếu dù nhợt nhạt các hoạt động của hiệp sĩ dòng Đền. Và một trong những cấp bậc của Hội Tam điểm Scotland là hiệp sĩ kadosch, hiệp sĩ báo thù.”

“Được rồi, các hiệp sĩ dòng Đền đang chuẩn bị cho cuộc báo thù. Rồi sao nữa ạ?”

“Mất bao lâu để thực hiện kế hoạch báo thù? Trong mật thư kia có nhắc tới sáu hiệp sĩ xuất hiện sáu lần ở sáu nơi, ba mươi sáu chia thành sáu nhóm. Rồi nó nói ‘Mỗi lần hai mươi.’ Chữ tiếp theo không rõ ràng nhưng trong bản sao chép của Ingolf nhìn na ná chữ a, của từ ‘ans’ hay là năm. Cứ mỗi hai mươi năm, tôi rút ra vậy; sáu lần là một trăm hai mươi năm cả thảy. Sau đó trong mật thư chúng ta tìm thấy một danh sách sáu địa điểm, hoặc sáu nhiệm vụ cần được thực hiện. Có nhắc tới một ordonation, một kế hoạch, dự án, hoặc thủ tục cần được tuân thủ. Và nó cho biết nhóm đầu tiên phải tới một donjon hay pháo đài trong khi nhóm thứ Hai tới nơi nào đó khác, và cứ như vậy cho tới nhóm thứ sáu. Rồi mật thư nói với chúng ta rằng phải còn sáu mật thư nữa, vẫn còn được niêm phong, nằm phân tán ở các nơi khác nhau. Tôi thấy rất rõ ràng rằng những niêm phong này được dự kiến mở theo trình tự với khoảng cách là một trăm hai mươi năm.”

“Nhưng hai mươi năm mỗi lần có nghĩa gì?” Diotallevi hỏi.

“Cứ sau mỗi một trăm hai mươi năm, những hiệp sĩ báo thù này sẽ thực hiện các nhiệm vụ ở những nơi cụ thể. Đó là một loại đua tiếp sức. Rõ ràng sáu hiệp sĩ dòng Đền lên đường vào đêm 1344 đó, mỗi người đi tới một trong sáu nơi có trong kế hoạch. Nhưng người giữ bức mật thư đầu tiên chắc chắn không thể vẫn còn sống sau một trăm hai mươi năm. Thay vào đó, mỗi người giữ mật thư sẽ đảm nhiệm vị trí này trong hai mươi năm rồi thì chuyển giao cho một người kế tục. Hai mươi năm có vẻ là một khoảng thời gian hợp lý. Mỗi bức mật thư sẽ có sáu người canh giữ, mỗi người phục vụ trong hai mươi năm. Khi một trăm hai mươi năm qua đi, người canh giữ cuối cùng của bức mật thư chẳng hạn như là có thể đọc một hướng dẫn và rồi chuyển tiếp nó cho người giữ chính của bức mật thư thứ Hai. Đó là lý do để động từ trong bức mật thư chia theo số nhiều*: nhóm thứ nhất tới đây, nhóm thứ Hai ở đó. Mỗi địa điểm được trông nom cẩn thận trong suốt một trăm hai mươi năm bởi sáu hiệp sĩ, mỗi người phục vụ hai mươi năm. Nếu cộng lại, các anh sẽ thấy rằng có từ địa điểm đầu đến địa điểm thứ sáu có năm quãng một trăm hai mươi năm. Năm lần một trăm hai mươi là sáu trăm. Cộng sáu trăm với 1344 ta có 1944. Nhân tiện, điều đó được xác nhận ở dòng cuối. Hoàn toàn rõ ràng.”

Trong tiếng Pháp, tùy thuộc vào chủ ngữ là số nhiều hay số ít mà động từ được chia khác nhau.

“Rõ ràng thế nào?”

“Dòng cuối nói ‘Ba lần sáu trước bữa tiệc (của) Ả điếm Vĩ đại.’ Đây lại là một trò chơi thần số học nữa, bởi vì tổng các chữ số của 1944 là mười tám. Mười tám là ba lần sáu. Sự ngẫu nhiên về số còn hơn cả phi thường này gợi cho ta một điều bí ẩn khác rất tinh tế về các hiệp sĩ dòng Đền. Năm 1944 là ngày kết thúc của kế hoạch. Nhưng với tầm nhìn tới một mục tiêu khác: năm 2000! Các hiệp sĩ dòng Đền tin rằng thiên niên kỷ thứ Hai sẽ chứng kiến sự khởi sinh Jerusalem của họ, một Jerusalem trần tục, Phản-Jerusalem. Họ bị đàn áp như những kẻ dị giáo, và trong nỗi căm hận giáo hội, họ đã đi tới đồng nhất mình với Kẻ Chống Ki tô. Họ biết rằng trong khắp các truyền thuyết huyền bí, 666 là con số của Quỷ, và năm sáu trăm sáu mươi sáu là năm của Quỷ. Ô, sáu trăm sáu mươi sáu năm sau Năm của Quỷ là năm 2000, khi mà cuộc báo thù của các hiệp sĩ dòng Đền sẽ ca khúc khải hoàn. Phản-Jerusalem sẽ là Tân Babylon và đó là lý do mà 1944 là năm khải hoàn của La Grande Pute, ả điếm vĩ đại thành Babylon được nhắc tới trong sách Khải huyền. Việc nhắc tới con số 666 là một kiểu khiêu khích có phần ngạo ngược của những chàng chiến binh ấy. Một cử chỉ thách thức của những kẻ ngoài lề xã hội như cách chúng ta gọi ngày nay. Một câu chuyện vĩ đại, các anh có nghĩ vậy không?”

Mắt ông ta ươn ướt khi ông ngước nhìn chúng tôi, cả môi và ria cũng vậy. Ông ta vuốt ve kẹp tài liệu.

“Được rồi,” Belbo nói. “Chúng ta hãy giả dụ rằng bức thư kia vạch ra tiến trình của một kế hoạch. Nhưng là kế hoạch gì?”

“Các anh đang hỏi quá nhiều rồi đấy. Nếu tôi biết cả điều ấy, tôi đâu có cần quăng miếng mồi này. Nhưng có một thứ mà tôi biết. Đâu đó trong tiến trình này có sự không ổn xảy ra, và kế hoạch không được thực hiện. Không thì chúng ta đã biết rồi, nếu tôi có thể nói thế. Và tôi có thể hiểu nguyên nhân: 1944 không phải là một năm dễ dàng. Từ năm 1344, các hiệp sĩ dòng Đền không có cách nào tiên đoán trước một cuộc chiến tranh thế giới làm gián đoạn.”

“Xin lỗi đã xen vào,” Diotallevi nói, “nhưng nếu tôi hiểu đúng, khi niêm phong đầu tiên được mở, việc kế tục của những người giữ bức mật thư đó không kết thúc; nó tiếp tục cho tới khi mở dấu niêm phong cuối cùng, khi tất cả các đại diện trong dòng tu sẽ lộ diện. Bởi vậy mà trong mỗi thế kỷ, hoặc nói cho chính xác là mỗi một trăm hai mươi năm, sẽ luôn có sáu người canh gác ở mỗi nơi, hay ba mươi sáu người cả thảy.”

“Phải,” Ardenti nói.

“Sáu nơi, mỗi nơi ba mươi sáu hiệp sĩ, cộng lại là hai trăm mười sáu, tổng các chữ số cộng lại bằng chín. Và bởi vì có sáu thế kỷ, chúng ta có thể nhân hai trăm mười sáu cho sáu, kết quả là một nghìn hai trăm chín mươi sáu, tổng các chữ số cộng lại bằng mười tám, hoặc ba lần sáu, hoặc 666.” Diotallevi có lẽ đã tiếp tục dựa vào thần số học mà dựng lại cả lịch sử thế giới nếu Belbo không ngăn anh ta lại bằng cái nhìn mà các bà mẹ thường ném về phía con cái khi chúng phá bĩnh. Nhưng viên đại tá lập tức nhận ra Diotallevi là một bộ óc được khai sáng.

“Tuyệt vời, giáo sư. Đó là một thiên khải! Nhân tiện, anh có biết rằng chín là số hiệp sĩ đã lập ra dòng Đền ở Jerusalem không?”

“Và Đại Danh của Chúa, như được thể hiện trong Tetragrammaton,” Diotallevi nói, “có bảy mươi hai chữ cái - và bảy cộng với hai bằng chín. Nhưng chưa hết đâu, nếu bác cho phép. Thần số học Pythagore mà Kabbalah bảo tồn - hoặc có lẽ là lấy cảm hứng - lưu ý rằng tổng của những số lẻ từ một đến bảy là mười sáu, và tổng của những số chẵn từ hai tới tám là hai mươi, và hai mươi cộng với mười sáu bằng ba mươi sáu.”

“Chúa ơi, giáo sư!” Viên đại tá mừng quýnh quáng. “Tôi biết mà, tôi biết mà! Anh đã cho tôi can đảm để tiếp tục. Giờ tôi biết rằng tôi đã đến rất gần sự thật.”

Diotallevi đã biến số học thành một tôn giáo hay tôn giáo thành số học? Có lẽ cả hai. Hoặc có thể anh ta chỉ là kẻ vô thần bày trò cợt nhả với sự mê ly của chốn thiên đường cao vời nào đấy. Đáng ra anh ta đã có thể thành một kẻ cuồng bài rulet (và giá như vậy thì tốt hơn); thay vào đó, anh ta coi mình như một giáo sĩ Do Thái hoài nghi.

Tôi không nhớ chính xác chuyện xảy ra như thế nào, nhưng Belbo xen vào phá tan bầu không khí xuất thần với sự tinh tế theo phong cách Piemonte của anh ta. Đại tá vẫn còn nhiều dòng trong bức mật thư cần giải thích và chúng tôi đều nóng lòng muốn nghe. Lúc đó đã sáu giờ. Sáu giờ chiều, tôi thầm nghĩ: mười tám giờ.

Được rồi,” Belbo nói. “Ba mươi sáu mỗi thế kỷ, từng bước một các hiệp sĩ chuẩn bị để đổ về Hòn đá. Nhưng Hòn đá này là gì?”

“Thật là, thưa các ngài! Hòn đá tất nhiên là Chén thánh.”

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.