Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 238 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16

❊ ❊ ❊

Sau đó, sư huynh Etienne vùng Provins được đưa vào diện kiến các vị chức trách kể trên và được yêu cầu biện hộ cho dòng tu nhưng anh ta tuyên bố không muốn làm việc ấy. Nếu các vị thủ lĩnh mong bảo vệ nó thì cứ việc, còn anh ta mới chân ướt chân ráo gia nhập dòng tu này có chín tháng thì đã bị bắt rồi.

− Lời cung, ngày 27 tháng Mười một năm 1309

Trong Abulafia, tôi tìm thấy những câu chuyện khác của Belbo về sự bỏ chạy. Và buổi đêm hôm ấy, tôi đã ngẫm nghĩ về chúng khi đứng giữa bóng tối trong cái kính tiềm vọng, lắng tai nghe những tiếng sột soạt, rin rít, cót két và tự nhủ mình chớ có phát hoảng lên bởi đây chỉ là cách mà các viện bảo tàng, thư viện cùng những lâu đài cổ kính tự độc thoại trong đêm. Chỉ là tiếng những tủ kính già nua vặn mình, tiếng những khung cửa sổ phản ứng lại sự âm thấp của đêm tối, tiếng thạch cao rạn nứt với tốc độ khốn khổ mỗi thế kỷ một milimét, tiếng những bức tường ngáp dài. Mày không thể trốn chạy, tôi tự nhủ. Mày ở đây để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra với một người đàn ông, người mà trong một nỗ lực can đảm điên rồ (hay tuyệt vọng) cuối cùng đã cố thử một lần thôi trốn chạy - có lẽ nhằm đẩy nhanh hơn cuộc gặp gỡ với sự thật sau quá nhiều lần trì hoãn.

Kenhdoc

Là bởi cảnh sát hay một lần nữa lại bởi vì lịch sử mà tôi bỏ chạy? Điều ấy thì có thay đổi được gì không? Tôi tới buổi diễu hành vì lựa chọn của lương tâm hay chẳng qua chỉ để ném mình vào một thử nghiệm khác của Cơ hội? Cứ cho rằng tôi đã quá sớm hay quá muộn cho tất cả những Cơ hội lớn, nhưng lỗi là do ngày sinh tháng đẻ của tôi. Tôi sẽ vui lòng được có mặt trên chiến trường mưa bom bão đạn, nã súng cho dù cái giá phải trả có là bắn nhầm chính bà ngoại. Nhưng tôi không có mặt bởi lý do tuổi tác chứ không phải vì hèn nhát. Được rồi. Thế còn cuộc diễu hành? Lại một lần nữa tôi bỏ chạy bởi nguyên nhân thế hệ: đó không phải là cuộc chiến của tôi. Nhưng dẫu có như vậy thì đáng ra tôi vẫn có thể chấp nhận rủi ro dù trong lòng không có lửa, chỉ để chứng minh rằng nếu tôi từng có mặt trên chiến trường mưa bom bão đạn, tôi hẳn sẽ biết phải lựa chọn thế nào. Liệu có hợp lý không khi túm lấy Cơ hội sai chỉ để tự thuyết phục mình rằng giá anh có Cơ hội kia thì anh đã có thể lựa chọn đúng? Tôi tự hỏi có bao nhiêu người trong số những kẻ lựa chọn chiến đấu hôm nay làm thế vì chính nguyên cớ ấy. Nhưng một Cơ hội được trù tính không phải là Cơ hội thật sự.

Liệu anh có thể gọi bản thân là kẻ hèn nhát chỉ bởi vì anh thấy cái dũng khí mà kẻ khác đang tỏ ra dường như quá độ trong tương quan với tính vặt vãnh của cơ hội? Thế là sự khôn ngoan tạo ra kẻ hèn nhát. Và bởi vậy anh bỏ lỡ mất Cơ hội trong khi bận dùng cả đời mình tìm kiếm nó. Anh phải nắm lấy Cơ hội một cách bản năng, trong thời khắc ấy không hề hay biết rằng đây chính là Cơ hội. Liệu có khả năng nào tôi đã từng chộp được nó một lần mà không hay biết? Làm sao anh có thể cảm thấy mình như thằng hèn bởi vì anh sinh ra sai thập kỷ? Câu trả lời: Anh cảm thấy mình như thằng hèn chỉ bởi vì anh đã từng là một thằng hèn.

Nhưng nếu anh chối từ Cơ hội bởi anh cảm thấy nó không tương xứng thì sao?

Miêu tả ngôi nhà ở ***, nằm cô lẻ trên ngọn đồi giữa những ruộng nho - chẳng phải họ gọi đó là những ngọn đồi hình vú? - và rồi con đường dẫn tới rìa thành phố, tới dãy nhà cuối cùng (hoặc đầu tiên, tùy theo anh đi từ hướng nào). Thằng nhóc sơ tán đã gạt đi sự che chở của gia đình mà dấn thân vào cái thành phố với những xúc tu vươn dài kia, bước trên những đại lộ mênh mông, rón bước trong Ngõ mà nó khiếp hãi đầy ganh tị.

Ngõ là nơi tụ tập của băng nhóm Ngõ. Bọn trai quê, bẩn thỉu, to mồm. Tôi quá thành phố: tốt nhất là nên tránh xa chúng. Nhưng để tới quảng trường, quầy báo cùng hiệu sách thì trừ phi tôi thử đi gần như một vòng quanh xích đạo và thực sự thiếu phẩm giá, lộ trình duy nhất là đi dọc theo Kênh. Và bọn trai Ngõ so với băng nhóm Kênh thì vẫn còn là những thiếu gia lịch lãm. Con kênh ấy lấy theo tên của một dòng suối ngày xưa, giờ là một mương thoát nước, chạy qua khu vực nghèo nàn tăm tối nhất của thành phố. Bọn trẻ Kênh là đám kiết xác bẩn thỉu và bạo lực.

Trẻ Ngõ đừng hòng đi qua khu vực Kênh mà không bị tấn công, bị nện tơi bời. Thoạt đầu tôi không biết mình là một đứa trẻ Ngõ. Tôi vừa mới chuyển tới đây, thế mà băng nhóm Kênh đã liệt tôi vào danh sách kẻ địch. Tôi đi qua khu vực của chúng, tạp chí thiếu nhi mở to trước mặt, vừa đi vừa đọc. Chúng thấy tôi, tôi chạy. Chúng đuổi theo, ném đá. Một hòn đá xuyên thẳng qua tờ tạp chí mà tôi vẫn giữ khư khư trước mặt trong khi chạy, cố níu nẳng lấy một chút phẩm giá. Tôi thoát được nhưng tờ tạp chí thì mất. Ngày hôm sau tôi quyết định gia nhập băng nhóm Ngõ.

Tôi trình diện trước hội đồng Sanhedrin của chúng và được chào đón bằng những tràng cười nhạo. Khi ấy tóc tôi rất dày và hay dựng đứng trên đầu, nom hơi giống đầu Struwwelpeter. Mốt thời đó, như có thể thấy nhan nhản trong phim ảnh, quảng cáo hoặc trong các cuộc tản bộ ngày Chủ nhật sau Thánh lễ Misa, thường là những nam thanh niên vai rộng, áo vest ngực đúp, ria bôi sáp, tóc bóng lộn chải lật ngược ra sau, ôm sát lấy ót. Và đó chính là điều tôi muốn, một mái tóc bóng mượt như thế. Thế là ở quảng trường chợ, vào một ngày thứ Hai, tôi đã bỏ hết một số tiền khổng lồ đối với cái thằng tôi khi ấy để mua mấy hộp sáp chải tóc đặc quánh như mật ong hoa đậu. Rồi tôi đã mất đến vài tiếng đồng hồ để bôi trát thứ đó cho tới khi tóc tôi bết cứng, một chiếc mũ nặng như chì, chiếc mũ nhung đỏ của Giáo hoàng. Rồi tôi đội một cái mũ lưới bao tóc để giữ cho tóc tai ép chặt. Bọn trẻ Ngõ thấy tôi đi qua đầu đội mũ lưới thì bèn ré lên chế nhạo với cái thổ ngữ nặng nề mà tôi nghe thì hiểu nhưng không nói lại được. Vào cái ngày hôm ấy, sau khi ru rú hai tiếng đồng hồ trong nhà với cái mũ lưới trên đầu, tôi cởi nó ra, kiểm tra kết quả chói ngời trong gương rồi hùng dũng đi gặp băng nhóm mà tôi hy vọng có thể nói lời tuyên thệ trung thành. Tôi tiếp cận chúng đúng lúc sáp chải tóc mất đi sức kết dính và tóc tôi bắt đầu chậm chạp lấy lại cái dáng điệu thẳng đứng của mình. Hoan hỉ giữa những đứa trẻ Ngõ vừa đứng quây quanh tôi vừa huých nhau, tôi xin gia nhập hội.

Đen đủi sao, tôi nói tiếng Ý. Một người ngoài. Thủ lĩnh của chúng, Martinetti, khi ấy trong mắt tôi khác nào một người khổng lồ, bước tới, ngời ngời, chân trần. Y quyết định tôi phải chịu một trăm cứ đá vào mông. Có lẽ những cú đá ấy nhằm đánh thức con rắn Kundalini. Tôi đồng ý và đứng áp mặt vào tường. Hai trung sĩ giữ cánh tay tôi, thế rồi tôi nhận một trăm cứ đá bằng chân trần. Martinetti hoàn thành phần của mình dữ dội và điệu nghệ, đá sang bên cho khỏi đau ngón chân. Cả hội giữ vai trò dàn đồng ca cho buổi lễ, đếm bằng tiếng địa phương của chúng. Rồi chúng nhốt tôi trong một chuồng thỏ nửa tiếng đồng hồ trong khi chúng tán gẫu với nhau bằng thứ âm yết hầu. Tới lúc tôi phàn nàn rằng chân mình tê cứng cả rồi thì chúng cũng thả tôi ra. Tôi tự hào đã có khả năng chịu nổi nghi thức của một bộ tộc mọi rợ. Tôi là một trang nam tử được đặt cho cái tên Ngựa.

Vùng *** thời đó là nơi đóng quân của những hiệp sĩ Giéc-manh thời hiện đại, những người không đặc biệt cảnh giác bởi quân kháng chiến vẫn còn chưa lộ mặt - khi ấy là gần cuối năm 1943 và đầu năm 1944. Một trong những chiến công đầu tiên của chúng tôi là lẻn vào một nhà kho trong khi vài thằng trong nhóm đứng tâng bốc anh lính gác cửa, một gã Langobard to vĩ đại đang ngốn một chiếc bánh mì khổng lồ kẹp thứ mà chúng tôi thầm đoán và thấy sợ là salami và mứt. Đám chim mồi làm sao nhãng gã người Đức, tán dương những vũ khí của gã trong khi đám còn lại rón rén chui qua mấy tấm ván sắp long ra sau lưng nhà kho, trộm vài thanh thuốc nổ TNT. Tôi không tin sau đó chỗ thuốc nổ này từng được mó tới nhưng theo kế hoạch của Martinetti thì ý tưởng ban đầu là cho nổ ở vùng nông thôn, thuần túy vì mục đích làm pháo hoa và bằng những phương pháp mà giờ đây tôi biết là rất thô sơ và sẽ chả đi đến đâu cả. Sau này, người Đức được thay thế bởi đám hải quân phát xít thuộc Decima MAS. Họ lập ra rào chắn gần con sông, ngay trên ngã tư nơi bọn con gái từ trường Santa Maria Ausiliatrice cứ sáu giờ tối lại đi dọc theo đại lộ. Martinetti thuyết phục lính hải quân Decima (họ không thể nào quá mười tám tuổi) cột một bó lựu đạn mà quân Đức bỏ lại, những quả lựu đạn có chốt an toàn dài, và giật chốt để chúng có thể nổ ở mép nước đúng thời điểm bọn con gái đi tới đó. Martinetti biết cách tính toán thời gian. Nó giảng giải cho đám phát xít, và hiệu quả thật choáng ngợp: trong tiếng nổ rền vang như sấm, một tấm màn nước dựng lên dọc bờ kênh ngay khi bọn con gái vừa rẽ ở khúc cua. Những bước chân chạy tán loạn, những tiếng la hét the thé, và chúng tôi cùng đám phát xít cười nôn ruột. Những người sống sót sau thời gian cầm tù của quân Đồng minh sẽ nhớ ngày vinh quang ấy, chỉ sau có vụ thiêu sống Molay.

Trò tiêu khiển chính của đám trẻ Ngõ là sưu tầm vỏ đạn và những rác thải chiến tranh khác, những thứ trở nên nhiều vô kể sau ngày 8 tháng Chín và Đức chiếm đóng Ý: mũ sắt cũ, bao đạn, ba lô, đôi khi cả những viên đạn còn nguyên. Bạn làm như thế này với một viên đạn ngon nghẻ: một tay giữ vỏ đạn, nhét đầu đạn vào một lỗ khóa, xoay vòng rồi kéo vỏ đạn ra, thêm nó vào bộ sưu tập của mình. Thuốc súng được lấy hết ra (thỉnh thoảng có một dải mỏng thuốc nổ không khói) và rắc theo những đường ngoằn ngoèo rồi đốt cháy bùng lên. Vỏ đạn, đặc biệt có giá nếu đầu đạn còn nguyên vẹn, làm giàu cho đội quân của một đứa. Đứa nào giỏi sưu tầm có sẽ có nhiều vỏ đạn, xếp thành hàng dựa theo cấu tạo, màu sắc, hình dạng và xuất xứ. Có những tổ lính bộ binh là súng tiểu liên và vỏ đạn Sten, rồi đến những cận vệ và hiệp sĩ là vỏ đạn súng trường mẫu 1891 (sau khi quân Mỹ đến chúng tôi mới biết tới Garand) và cuối cùng, khao khát tột cùng của một thằng nhóc, những đại thủ lĩnh cao vòi vọi, chính là những vỏ đạn súng máy rỗng.

Một tối nọ, khi chúng tôi đang mê mải với những cuộc kiếm tìm an lành ấy, Martinetti báo với cả bọn rằng thời khắc đã tới. Một lời thách đấu đã được gửi tới băng nhóm Kênh và đã được chấp nhận. Cuộc chiến sẽ diễn ra ở một địa điểm trung lập, đằng sau nhà ga. Tối đó, lúc chín giờ.

Lúc ấy chiều muộn, một ngày hè, một ngày khiến người ta mệt bã nhưng lại đầy phấn khích bừng bừng. Chúng tôi tự trang bị những vật dụng hãi hùng nhất, kiếm những thanh gỗ dễ cầm, nhét đá đủ kích cỡ đầy túi và ba lô. Một vài đứa còn lấy dây đeo súng để chế ra rơi, nếu bạo tay dùng thì sẽ rất tuyệt. Trong mấy tiếng đồng hồ nhập nhoạng ấy, tất cả chúng tôi cảm thấy mình như người hùng, nhất là tôi. Đó là cả nỗi niềm phấn khích trước một cuộc tấn công: cay đắng, đau đớn, huy hoàng. Tạm biệt, mẹ yêu, con cất bước tới Yokohama*; hãy nhắn lời tới nơi xa ấy*. Chúng tôi đang hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc như từng được dạy trên lớp trước ngày mùng tám tháng Chín.

Theo bài hát nổi tiếng thời chiến tranh, “Goodbye Mama I’m off to Yokohama”.

“Over There” là ca khúc do George M. Cohan sáng tác năm 1917, thịnh hành trong binh lính Mỹ trong cả hai cuộc Thế chiến.

Kế hoạch của Martinetti khá khôn ngoan. Chúng tôi sẽ leo qua con đê có đường xe lửa tít xa mạn phía Bắc và đánh úp từ sau lưng chúng, làm chúng bất ngờ và thế là giành phần thắng ngay từ đầu. Sau đó là giết không tha.

Nhá nhem tối, chúng tôi trèo qua đường đê xe lửa, bò lên những bờ dốc và lội qua các con mương, người ngợm nặng trịch đá và gậy gộc. Từ đường ray trên đỉnh dốc, chúng tôi thấy chúng nằm phục kích sau mấy buồng xí nhà ga. Nhưng chúng cũng thấy chúng tôi bởi vì chúng đang ngó lại sau lưng, ngờ rằng chúng tôi sẽ tới từ hướng đó. Điều duy nhất lũ chúng tôi còn có thể làm là lao tới, không cho chúng thời gian ngạc nhiên trước mánh khóe hiển nhiên của chúng tôi.

Trước khi trèo lên đỉnh con đê, không đứa nào nhấp lấy một giọt rượu grappa nhưng chúng tôi vẫn quăng mình vào cuộc chiến, hò hét vang trời. Rồi tới bước ngoặt, khi chỉ còn cách nhà ga khoảng một trăm mét. Đứng ở đấy là những ngôi nhà phố thị đầu tiên, và tuy ít ỏi, chúng vẫn tạo nên một mạng lưới những ngõ ngách nhỏ hẹp. Chính tại điểm đó, nhóm dũng cảm nhất xông tới, gan góc kiên cường, trong khi tôi và (may mắn sao cho tôi) một vài đứa khác chậm lại rồi trốn chui trốn nhủi sau mé tường nhà, chỉ dám giương mắt nhìn từ xa.

Nếu Martinetti tổ chức chúng tôi thành quân tiên phong và quân hậu vệ thì mấy đứa tôi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhưng đây là đội hình tự phát: những thằng có gan chạy trước, bọn hèn nhát ở sau. Từ nơi ẩn nấp, chỗ nấp của tôi xa hơn những thằng khác, chúng tôi quan sát cuộc chiến. Một cuộc chiến không bao giờ nổ ra.

Hai nhóm tiến tới cách nhau vài mét và đứng đó thách thức, gầm gừ. Rồi thủ lĩnh hai bên bước tới hội ý. Hội nghị Yalta. Chúng quyết định chia lãnh thổ của mình thành các khu vực và đi tới đồng thuận cho phép đối phương thi thoảng đi qua mà không sứt mẻ gì, như người Cơ đốc giáo và người Hồi ở Đất Thánh. Tình đoàn kết giữa các nhóm hiệp sĩ đã thắng thế tính tất yếu của cuộc chiến. Mỗi bên đã tự chứng minh bản thân. Hai phe đối địch rút lui trong thuận hòa, vẫn là địch thủ, theo hai hướng ngược chiều nhau.

Giờ đây tôi tự nhủ mình rằng tôi không lao đến cùng vào cuộc chiến ấy bởi vì tôi thấy nó tức cười. Nhưng đó không phải điều tôi tự nhủ khi ấy. Vào cái thời khắc kia, tôi có cảm giác mình như một thằng hèn, và có vậy thôi.

Ngày nay, thậm chí còn ươn hèn hơn, tôi tự bảo mình rằng giá như ngày đó tôi xông lên cùng những kẻ khác, tôi sẽ đâu có hề hấn gì, và cuộc đời tôi sau đó sẽ tốt đẹp hơn bao nhiêu. Tôi đã lỡ mất Cơ hội ở tuổi mười hai. Nếu lần đầu mà anh chẳng cương lên nổi thì cả đời anh bất lực.

Một tháng sau, một vài xâm phạm ngẫu nhiên kéo hai phe Ngõ và Kênh đối mặt nhau trên một cánh đồng và những nắm đất từ mỗi phe bắt đầu bay tới. Tôi không biết là bởi kết quả của cuộc chiến trước đó khiến tôi an lòng hay bởi lòng khao khát tuẫn đạo, nhưng dù bởi gì đi nữa thì lần này tôi cũng đứng ở hàng đầu. Đó là một cuộc chiến ném đá không đổ máu, ngoại trừ tôi. Một nắm đất giấu trong mình nó cả hòn đá táng thẳng tới làm môi tôi rách toạc. Tôi òa khóc chạy về nhà và mẹ tôi đã phải dùng nhíp gắp từng mẩu đất bẩn khỏi vết thương bên trong môi. Sự thực là vết thương để lại một sẹo lồi ngay cạnh răng nanh hàm dưới và đến tận bây giờ, mỗi lần lướt đầu lưỡi qua đó, tôi lại cảm thấy run rẩy, rùng mình.

Nhưng cái sẹo lồi đó nào có xoa dịu tội lỗi cho tôi, bởi vì tôi nhận được nó do khinh suất chứ đâu phải do lòng dũng cảm. Tôi liếm môi và tôi làm gì? Tôi viết. Nhưng văn chương tồi đâu đem lại cứu rỗi.

Sau hôm diễu hành tôi không gặp lại Belbo trong khoảng một năm. Tôi phải lòng Amparo và không còn tới Pilade nữa, hay ít nhất là trong những lần ít ỏi tôi ghé qua đấy cùng Amparo thì Belbo không có đó. Dẫu sao Amparo cũng không thích nơi này. Với quan điểm chính trị và đạo đức khắt khe - mà chỉ có vẻ yêu kiều cùng lòng kiêu hãnh ngất trời của nàng mới sánh nổi - thì nàng coi Pilade là chốn tụ tập của lũ bảnh chọe phe tự do, mà theo như nàng biết là một sợi chỉ mảnh khó nhận biết trong tấm vải âm mưu của chủ nghĩa tư bản. Với bản thân tôi, đó là một năm tận tụy, nghiêm túc, miệt mài. Tôi tập trung một cách phấn khởi nhưng trầm lặng vào luận văn.

Rồi một ngày tôi vô tình gặp Belbo dọc mấy con kênh cách không xa nhà xuất bản Garamond. “Chà, xem ai đây nào,” anh ta vui vẻ nói. “Chàng hiệp sĩ dòng Đền mà tôi hâm mộ! Nghe này, tôi vừa được tặng một thiên niên mỹ tửu ngon khôn tả. Ghé qua văn phòng của tôi nhé? Tôi có cốc giấy và một buổi chiều rảnh rỗi.”

“Zeugma,” tôi nói.

“Không. Bourbon*. Và tôi tin chắc là được đóng chai trước khi Alamo sụp đổ.”

Zeugma là một phép tu từ sử dụng một từ để kết hợp với nhiều từ khác theo nhiều cách khác nhau. Trong câu của Belbo, từ “có” được dùng để kết hợp với “cốc giấy” theo nghĩa “sở hữu cốc giấy”, còn kết hợp với “một buổi chiều rảnh rỗi” theo nghĩa “tôi rảnh rỗi vào buổi chiều” (chứ thực ra không thể sở hữu buổi chiều ấy). Đồng thời Zeugma cũng là tên một thành phố ở Thổ Nhĩ Kỳ. Causabon cố ý hiểu theo nghĩa thứ hai này để đáp lại l là “Bourbon”, cũng là tên một thành phố, đồng thời là tên một loại rượu.

Tôi theo gót anh ta. Chúng tôi vừa nhấp ngụm đầu tiên thì Gudrun bước vào nói có một ông muốn gặp Belbo. Anh ta vỗ trán. Anh ta đã quên khuấy mất cuộc hẹn. Nhưng cái sự tình cờ nó thường khoái mưu đồ, anh ta bảo tôi. Theo như anh ta hiểu thì người kia muốn cho anh xem một cuốn sách liên quan tới Hiệp sĩ dòng Đền. “Tôi sẽ cắt đuôi hắn mau thôi,” anh ta nói, “nhưng anh phải giúp tôi một tay với vài phản bác sắc bén đấy.”

Đó chắc chắn là một sự tình cờ. Và vậy là tôi đã sa vào lưới.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.