Chúng ta có đủ loại đồng hồ kỳ dị; và cả thứ khác như Những chuyển động Quy hồi... Chúng ta cũng có những Ngôi nhà Đánh lừa Giác quan, nơi ta tái hiện mọi Ngón nghề Tung hứng, Bóp méo thị giác, Lừa đảo và Ảo ảnh... Những thứ ấy (con trai ta) là của cải trong Ngôi nhà Salomon.
- Francis Bacon, New Atlantis,
Rawley biên tập, Luân Đôn, 1627, tr. 41-42
Tôi lại làm chủ được tinh thần cùng trí tưởng tượng của mình. Tôi vẫn phải tiếp tục trò chơi này một cách đầy mỉa mai, như tôi vẫn chơi cho tới vài hôm trước thôi, không để mình bị cuốn vào. Tôi đang ở trong một viện bảo tàng và buộc phải cực kỳ lanh trí và sáng suốt.
Tôi ngắm nghía những chiếc máy bay giờ đã trở nên quen thuộc trên đầu mình: tôi có thể trèo vào trong khoang một tàu bay lớn mà ngóng chờ màn đêm buông xuống như thể đang bay qua Eo biển Anh, ngóng chờ Huân chương Bắc đẩu bội tinh. Tên của những chiếc ô tô trên mặt đất mang một niềm hoài cổ thắm thiết. Chiếc Hispano-Suiza 1932 khá thích hợp và chào mời nhưng quá gần quầy lễ tân. Hẳn tôi đã lẻn qua mặt người trực nếu tôi bận quần chẽn gối ống rộng và áo vest Norfolk*, bước sang bên nhường chỗ cho một mệnh phụ bận bộ đồ màu kem, cái cổ mảnh dẻ quấn một chiếc khăn dài, mũ cloche chụp lên mái tóc cắt ngắn. Chiếc Citroën C6G 1931 trưng bày theo mặt cắt ngang, một giáo cụ tuyệt vời nhưng lại là một chỗ trốn ngớ ngẩn. Chiếc xe hơi nước to tổ chảng của Cugnot, khả dĩ có mỗi nồi hơi, hay vạc, thì khỏi cần bàn tới. Tôi ngó sang tay phải, nơi những chiếc xe đạp đẩy chân bánh to vĩ đại kiểu Nghệ thuật Mới và những chiếc xe đẩy bằng chân ghi đông bẹt như trên xe tay ga gợi nhắc tới những tôn ông đội mũ chóp cao, những hiệp sĩ xiển dương cho tiến bộ dấn pê đan qua công viên Bois de Boulogne.
Bộ trang phục của nam giới cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đặc biệt phổ biến khi đi đánh gôn.
Đối diện đám xe đạp là những chiếc xe hơi thân còn nguyên vẹn, dư dả chỗ chứa. Có lẽ không phải chiếc Panhard Dynavia 1945 quá lộ liễu và chật hẹp với hình dáng khí động học thon gọn; nhưng chiếc Peugeot 1909 cao lớn - một căn gác mái, một khuê phòng - rõ ràng đáng cân nhắc. Một khi tôi vào được đó, êm ái lún sâu trên chiếc đi văng bọc da, sẽ chẳng ai nghi ngờ gì sất. Nhưng chui vào đó không dễ, một tay bảo vệ đang ngồi trên băng ghế ngay đối diện, quay lưng lại đám xe đạp. Tôi hình dung cảnh mình bước lên bậc gác chân, lóng ngóng trong chiếc áo khoác cổ lông, còn anh ta, bắp chân nịt trong quần da bó, ngả chiếc mũ lưỡi trai và khúm núm mở cửa xe...
Trong một khắc, tôi tập trung vào chiếc Obeissante mười hai chỗ, đời 1872, phương tiện vận chuyển có bánh răng đầu tiên của Pháp. Nếu chiếc Peugeot là một căn phòng, thì đây là cả một tòa dinh thự. Nhưng đừng hòng bước chân vào đó mà không gây chú ý. Thật khó ẩn nấp khi chỗ trốn là những bức hình đang được triển lãm.
Tôi băng qua sảnh lại, ở đó có bức tượng Nữ thần Tự do, “éclairant le monde”* trên chiếc bệ cao ít nhất hai mét mang hình dáng một mũi tàu nhọn hoắt. Trong bệ có một dạng chòi gác mà từ đó có thể chiêm ngưỡng cảnh tầm sâu của bến cảng New York qua cửa sổ mạn tàu. Một điểm quan sát tốt vào nửa đêm, bởi vì qua bóng tối có thể nhìn về bục ca đoàn ở tay trái và gian giữa bên tay phải, lưng bạn thì đã có một pho tượng Gramme bằng đá kỳ vĩ bảo vệ, tượng này đứng ở cánh ngang và quay mặt về những hành lang khác. Khốn nỗi, dưới ánh sáng ban ngày, bạn có thể nhìn rõ mồn một từ bên ngoài vào chòi gác, và một khi khách tham quan ra về hết, tay bảo vệ nào đó có thể tuần tra như thường lệ và ghé mắt ngó qua để cẩn tắc vô áy náy.
Tiếng Pháp: thắp sáng thế giới. Tên chính thức của pho tượng theo tiếng Pháp là La liberté éclairant le monde (Tự do thắp sáng thế giới).
Tôi không còn nhiều thời gian: năm rưỡi họ sẽ đóng cửa. Tôi xem nhanh lối đi bộ. Không động cơ nào hữu dụng hết. Cả động cơ tàu thủy to vĩ đại bên phải, chút di thể của một chiếc Lusitania bị sóng biển nhấn chìm nào đó, cả động cơ gas hoành tráng của Lenoir với bộ bánh răng phong phú. Trên thực tế, giờ khi ánh ngày đang nhạt dần, bàng bạc xuyên qua những ô kính cửa sổ màu xám, tôi lần nữa thấy run rẩy trước viễn cảnh phải ẩn náu giữa những con thú này, tôi khiếp sợ phải chứng kiến chúng bật sống dậy trong đêm tối, lừng lững hồi sinh trước ánh đèn pin của tôi. Tôi khiếp sợ cảnh chúng phì phò, sợ hơi thở nặng nề, đậm mùi địa khí của chúng, những bộ xương không thịt da, phủ tạng rít ken két và đầy dãi nhớt dầu mỡ đen đúa bốc mùi nồng nặc. Làm sao tôi có thể chịu đựng nổi ở giữa cái chuỗi kết hợp hôi hám của những bộ phận sinh dục diesel và những âm đạo chạy bằng tuốc-bin, những cổ họng vô cơ đã từng phun lửa, phì hơi, gầm rít, và biết đâu sẽ lại như vậy trong chính đêm Hạ chí ấy? Hoặc biết đâu chúng sẽ kêu vo vo như những con bọ vừng hay kêu ong ong như ve sầu giữa những hiện thân xương xẩu của công năng thuần túy, trừu tượng, những cỗ máy tự động có khả năng nghiền, cưa, nâng, phá, thái, tăng tốc, nhồi và tu xăng, đám xi lanh của chúng thổn thức. Hoặc chúng sẽ giật cục như những con rối hung hiểm, xoay trống, biến đổi tần số, chuyển hóa năng lượng, quay các bánh đà. Tôi sẽ chống chọi chúng thế nào nếu chúng rượt theo tôi, dưới sự giật dây của các Thủ lĩnh của Thế giới, những kẻ dùng chúng làm bằng chứng - những cỗ máy vô dụng, chỉ là ngẫu tượng của đám chúa tể của tầng vũ trụ thấp hơn - của sai lầm của tạo hóa?
Tôi phải đi, rời khỏi đây; chuyện này thật điên rồ. Tôi đang rơi vào chính cạm bẫy, chính trò chơi đã khiến Jacopo Belbo mất trí, chính tôi, kẻ nghi ngờ...
Tôi không biết cái đêm cách đây hai hôm mình đã đúng hay sai khi trốn trong viện bảo tàng đó. Nếu không trốn, tôi sẽ biết được khởi đầu của câu chuyện nhưng không phải kết thúc. Và giờ tôi cũng sẽ không ở đây, một mình trên ngọn đồi này, nghe tiếng chó sủa xa xa vẳng lại từ thung lũng dưới chân đồi mà lòng tự hỏi: Liệu đây có thực là kết thúc, hay kết thúc vẫn còn chưa tới?
Tôi quyết định đi tiếp. Tôi rời nhà nguyện, đến pho tượng Gramme thì rẽ trái và tiến vào một phòng trưng bày. Đây là khu đường sắt, và những đầu máy cùng toa xe mô hình nhiều màu nom giống những thứ đồ chơi xoa dịu lòng người lấy từ Toyland, Madurodam hay Disney World. Đến lúc này tôi đã quen với những đợt triều luân phiên nhau của lo lắng và tự tin, khiếp hãi và hoài nghi (phải đây chính là chớm bệnh?), và tôi tự nhủ rằng những thứ tôi thấy trong nhà thờ khiến tôi bồn chồn bởi vì tôi đến đó vì bị bùa mê từ những gì Jacopo Belbo viết, những con chữ mà tôi đã phải dụng đến quá nhiều thủ thuật để giải mã, dù tôi vẫn biết chúng đều do anh ta sáng tác ra.
Dầu sao thì đây cũng là một viện bảo tàng công nghệ. Mày đang ở trong một viện bảo tàng công nghệ, tôi tự nhắc mình, một nơi trung thực, có lẽ hơi chất phác, nhưng vật chết ở đây vô hại. Mày biết viện bảo tàng có nghĩa là gì mà, chưa có ai bị nàng Mona Lisa - một Medusa lưỡng tính riêng trong mắt những kẻ duy mỹ - ăn thịt bao giờ, và càng khó có chuyện mày vào bụng động cơ Watt, một con ngoáo ộp chỉ dọa được các ông thời Ossian và Tân Gothic, một thỏa hiệp đáng thương, thực tình là vậy, giữa công năng và kiểu dáng Corinth xa hoa, tay cầm và đầu cột, nồi hơi và cột trụ, bánh xe và trán tường. Jacopo Belbo, mặc dù đã rất xa nơi đây, đang cố kéo tôi vào mớ ảo giác đã hủy hoại anh ta. Mày phải hành xử như một nhà khoa học, tôi tự bảo mình. Một nhà nghiên cứu núi lửa không tự thiêu như Empedocles*. Frazer đâu có bị săn đuổi và phải trốn chạy vào rừng già xứ Nemi*. Tiến lên, mày hãy là Sam Spade. Điều tra khám phá những ngõ phố tồi tàn - đó là việc của mày. Ả đàn bà tóm mày cuối cùng sẽ phải chết, và nếu có thể thì bởi chính tay mày. Vĩnh biệt, Emily, khoảng thời gian qua không tồi, nhưng cô là một người máy, cô không có trái tim.
Triết gia Hy Lạp, sống vào thế kỷ 5 TCN. Theo truyền thuyết, ông đã gieo mình vào một ngọn núi lửa đang hoạt động.
JG. Frazer, tác giả của bộ The Golden Bough (Cành vàng), trong đó kể về các rex Nemorensis, vua của Nemi, đồng thời là tư tế của nữ thần Diana ở Aricia (Ý), bên bờ hồ Nemi. Truyền thuyết kể rằng các rex Nemorensis giành được vị trí của mình bằng cách giết người tiền nhiệm trong một cuộc đấu. Nhưng trước tiên ứng viên thành công phải thử thách lòng can đảm bằng cách hái một cành vàng trong rừng thiêng.
Khu vực vận tải tình cờ nằm ngay cạnh gian Lavoisier, quay mặt vào một cầu thang lớn dẫn lên tầng trên.
Kiểu sắp đặt những tủ kính dọc hai bên, ban thờ thuật giả kim ở chính giữa, nghi thức tế lễ của một macumba thế kỷ 18 được văn minh hóa - đây không phải ngẫu nhiên mà có tính biểu tượng, một mánh khóe.
Thứ nhất, tất cả những tấm gương đó. Mỗi khi bạn soi gương, chỉ con người mới vậy, là bạn muốn ngắm nghía mình. Nhưng ở đây bạn không thể. Bạn nhìn vào vị trí trong không gian nơi tấm gương sẽ bảo “Anh ở đây, và anh là anh,” bạn nhìn, nghểnh cổ, vặn vẹo, nhưng chẳng ích gì, bởi vì những tấm gương của Lavoisier, dù lõm hay lồi, đều không cho bạn thỏa nguyện, chúng nhạo báng bạn. Bạn lùi lại, trong thoáng chốc bỗng thấy bóng mình, nhưng chỉ cần hơi dịch chuyển là bạn lại biến mất. Cái nhà hát phản xạ này được chế ra để tước đi căn tính của bạn và khiến bạn cảm thấy mơ hồ về vị trí của mình. Như thể muốn nói rằng: Mi không phải là Con lắc hay thậm chí mi còn không ở được gần giống nó. Vậy là bạn cảm thấy không chắc chắn, không chỉ về bản thân bạn, mà còn về những vật thể nằm đó giữa bạn và một tấm gương khác. Tất nhiên, vật lý học có thể giải thích cho bạn cách thức và nguyên nhân một gương cầu lõm hội tụ ánh sáng từ một vật - trong trường hợp này là một nồi cất đặt trong một giá đỡ bằng đồng - rồi ném trả lại những tia sáng theo cách khiến bạn thấy vật thể không phải nằm trên gương mà ở bên ngoài nó, như bóng ma, lộn ngược giữa không trung, và nếu bạn chỉ hơi nhúc nhích, hình ảnh ấy, phù du làm sao, liền tan biến.
Rồi đột ngột tôi thấy mình đứng lộn ngược trong một tấm gương.
Thật không chịu đựng nổi.
Lavoisier đang cố nói điều gì, và những thiết kế gia của Học viện này đang ám chỉ gì? Chúng ta đã biết về ma thuật của những tấm gương kể từ thời Trung cổ, từ thời Alhazen. Liệu có đáng bỏ công xem hết cả bộ bách khoa thư Encyclopédie*, thời Khai sáng và Cách mạng để tuyên bố rằng chỉ cần uốn cong bề mặt của một tấm gương là có thể nhấn chìm con người vào một thế giới tưởng tượng? Về vấn đề này, một tấm gương bình thường cũng là một ảo ảnh. Hãy nghĩ về kẻ đang nhìn lại anh mỗi sáng khi anh cạo râu, vĩnh viễn chịu kiếp thuận tay trái. Thật có bõ công dựng lên cả gian sảnh này chỉ để chỉ bảo cho chúng ta điều đó? Hay thông điệp thực sự là chúng ta nên nhìn nhận mọi thứ theo một cách khác, bao gồm cả những tủ kính và đám dụng cụ được cho là để mừng sự ra đời của vật lý và hóa học khai sáng?
Encyclopédie, ou dictionnaire raisonné des sciences, des arts et des métiers là bộ bách khoa thư tổng hợp xuất bản ở Pháp từ năm 1751 đến 1772. Công trình này nổi tiếng với việc giới thiệu tư tưởng của thời kỳ Khai Sáng.
“Mặt nạ da* để bảo hộ trong các thí nghiệm nung khô.” Khó mà tin rằng người đàn ông với những cây nến dưới cái chuông thủy tinh đeo cái thứ nom như đầu chuột cống hay mũ giáp của quân xâm lược ngoài hành tinh kia thực sự là chỉ vì muốn tránh kích ứng mắt. Quelle délicatesse, M. Lavoisier*! Nếu ngài thực lòng muốn nghiên cứu thuyết động lực học của khí, vì sao ngài lại nhọc công đến vậy dựng lại “trái cầu của thần gió” - một quả cầu be bé có vòi mà khi đun nóng sẽ quay và phụt ra hơi nước - một thiết bị do Heron phát minh trong thời đại của phái Ngộ đạo để hỗ trợ cho những pho tượng biết nói và những phép lạ khác của các thầy tu Ai Cập?
Bản tiếng Anh (Copper mask) dịch chưa chuẩn xác. Nguyên văn tiếng Ý: “Maschera in cuoio per protezione nelle esperienze di calcinazione.” Tác giả bổ sung dấu ngoặc kép trong bản sửa chữa mới nhất.
Tiếng Pháp: “Cẩn thận quá, ông Lavoisier!”
Thế còn thiết bị cơ khí để nghiên cứu về lên men thối năm 1781 này? Một ám chỉ đắc địa, quả đúng vậy, tới những tên khốn rữa nát bốc mùi của Demiurge. Một chuỗi ống thủy tinh nối hai ống thuốc tiêm và dẫn qua một tử cung bong bóng, qua những trái cầu và đường ống gắn trên các kẹp chữ U, để truyền một tinh chất tới những cuộn lõi đổ tràn vào hư không... Balneum Mariae, sự thăng hoa của thủy ngân, mysterium coniunctionis*, thuốc luyện đan!
Tiếng Latin: “Bí ẩn của sự kết hợp”.
Hay cái cỗ máy phục vụ cho nghiên cứu sự lên men rượu này. Một mê cung những vòm pha lê dẫn từ lò luyện này tới lò luyện khác, từ nồi cất này tới nồi cất khác. Những mắt kính nhỏ bé ấy, cái đồng hồ cát tí hon, điện nghiệm, các thấu kính. Hay con dao phòng thí nghiệm nom y hệt một ký tự hình nêm, cái dao bay cán rời, lưỡi dao thủy tinh, và cái nồi nung đất sét tí hon đường kính ba centimét để cho ra đời một người lùn cỡ gia thần - dạ con siêu nhỏ cho những sinh sản vô tính vi mô nhất. Hay các hộp gỗ dái ngựa chất đầy gói nhỏ nhỏ trắng trắng nom như những viên con nhộng của một thầy thuốc làng, bọc trong cuộn giấy chi chít những ký tự không thể giải mã, với những mẫu khoáng mà trong thực tế là những mảnh vụn từ Khăn liệm Thiêng của Basilides, những hòm đựng thánh tích chứa cả bao quy đầu của Hermes Trismegistus*. Hay chiếc búa dài mảnh của những thợ bọc ghế, cái búa mở màn cho một ngày phán xét ngắn ngủi, một phiên đấu giá các tinh túy mà đám yêu tinh Avalon nhỏ bé tổ chức. Hay cỗ máy xinh xắn thú vị để phân tích sự đốt cháy dầu, và những hạt châu thủy tinh được xếp thành hình cỏ bốn lá, các cỏ bốn lá nối nhau bằng những ống vàng, rồi cả mớ cỏ bốn lá gắn với những ống khác, bằng pha lê, thoạt tiên dẫn tới một xi lanh bằng đồng, rồi kéo xuống xi lanh bằng vàng và thủy tinh bên dưới nó, rồi tới những ống khác, nằm dưới nữa, những phần phụ lủng lẳng, tinh hoàn, tuyến, bướu, chỏm... Đây mà là hóa học hiện đại ư? Vì thứ này mà kẻ phát minh ra nó đã lên máy chém, dầu cho quả thực chẳng có gì được kiến tạo hay phá hủy? Hay ông ta bị giết để bịt miệng điều mà thứ gian trá kia của ông ta lật tẩy?
Được cho là tác giả của Hermetic Corpus, một bộ văn bản thiêng là nền tảng cho tín ngưỡng huyền bí Hermeticism.
Gian Lavoisier trong Học viện thực sự là một lời xưng tội, một lời xưng tội được mã hóa, và một biểu tượng cho toàn bảo tàng, bởi vì nó nhạo báng sự kiêu căng của Thời đại Lý trí và thì thầm về những bí ẩn khác. Jacopo Belbo mới chí lý, Lý trí tuyền vô lý.
Tôi phải mau lên; thời giờ đang thúc hối. Tôi đi qua những mét, kilogram, những công cụ đo khác, tất thảy đều là những đảm bảo sai toét. Tôi đã học được từ Agliè rằng bí mật của kim tự tháp sẽ hé lộ nếu anh không đo bằng mét mà bằng đơn vị cubit* cổ xưa. Rồi những cỗ máy đo đếm tuyên bố chiến thắng của định lượng nhưng trên thực tế lại minh chứng cho những định tính sâu kín của con số, một sự quay trở về với nguồn gốc của phép notarikon* mà các giáo sĩ Do Thái đã mang theo khi chạy trốn qua những đồng bằng Âu châu. Thiên văn học và đồng hồ và những cỗ máy tự động. Thật nguy hiểm khi nấn ná giữa những hé lộ mới này. Tôi đang xâm nhập thẳng vào tâm của một thông điệp bí mật trong hình dạng một theatrum* duy lý. Nhưng tôi phải nhanh lên. Đợi lát nữa, trong khoảng từ lúc đóng cửa đến nửa đêm, tôi tha hồ mà khám phá, những vật thể mà trong ánh tà dương chênh chếch đã triệu hồi bản chất thực của chúng - những biểu tượng, không phải thiết bị.
Đơn vị đo lường cổ, tính bằng khoảng cách từ khuỷu tay tới đầu ngón tay (khoảng 45cm).
Notarikon là một phương pháp giản lược từ, tương tự với cách dùng NATO thay cho North Atlantic Treaty Organization. Notarikon thường dùng các nguyên âm hoặc chữ cái cuối cùng của từ. Một biến thể khác là dùng các chữ đầu tiên và cuối cùng, hoặc hai chữ giữa vv...
Tiếng Latin: nhà hát.
Tôi lên trên lầu, đi qua những gian nghề thủ công, năng lượng, điện. Không có chỗ nào để trốn, không phải trong những tủ trưng bày đó. Tôi bắt đầu tìm đoán ý nghĩa của chúng, nhưng đột nhiên một nỗi hãi hùng siết chặt lấy tôi rằng sẽ không đủ thời gian để tìm chỗ trốn mà từ chỗ đó tôi có thể chứng kiến sự hé lộ trong bóng đêm mục đích bí mật của họ. Giờ tôi đi như một kẻ bị săn đuổi - bị săn đuổi bởi chiếc đồng hồ, bởi những bước tiến chí tử của các con số. Trái đất quay, bất di bất dịch, thời khắc đang tới gần. Chỉ chốc lát ngắn ngủi nữa thôi, tôi sẽ bị đá bay ra ngoài.
Băng qua khu trưng bày những thiết bị điện, tôi tới gian của thủy tinh. Dựa trên logic nào mà họ lại quyết định rằng những máy móc tân tiến và đắt đỏ nhất của trí tuệ hiện đại nên được tiếp nối bởi một khu vực dành cho một môn nghệ thuật đã phổ biến từ thời những người Phê-ni-xi hàng ngàn năm trước? Một căn phòng lộn xộn, đồ sứ Trung Hoa kề bên đám bình lưỡng tính của Lalique, poterie*, sành maiolica*, sứ men, thủy tinh Murano*, và trong một tủ lớn ở mé đằng sau là hình một con sư tử bị một con rắn tấn công, to bằng cỡ thật và ba chiều. Nguyên nhân hiển nhiên dễ thấy cho sự tồn tại của công trình này là chất liệu của nó, bởi nó được làm hoàn toàn từ thủy tinh, nhưng phải có một nguyên nhân sâu xa hơn... Tôi đã thấy hình ảnh này ở đâu nhỉ? Rồi tôi nhớ ra rằng Demiurge, Yaldabaoth*, archon thứ nhất, tạo vật đáng ghét của Sophia*, kẻ phải chịu trách nhiệm cho thế giới này và khiếm khuyết trầm trọng của nó, có hình dạng một con rắn ghép với sư tử, và rằng mắt ngài phóng ra lửa. Có lẽ cả Học viện này là hình ảnh của cái quy trình đáng hổ thẹn mà bởi nó, qua bao niên kỷ, sự viên mãn của luật thứ nhất, Con lắc, và sự huy hoàng của Pleroma* đành chịu thua, bởi nó mà bát thần Ogdoad sụp đổ và Quỷ dữ thống trị vũ trụ. Nếu đúng như thế, vậy thì con sư tử và con rắn kia đang bảo với tôi rằng chặng nhập môn của tôi - à rebours* than ôi - đã qua rồi, và rằng chẳng mấy chốc tôi sẽ thấy thế giới này trong hình dạng khác, như nó vốn thế thay vì nên thế.
Tiếng Pháp: đồ gốm.
Một loại đồ sành ở Ý có từ thời Phục hưng, thường được trang trí sặc sỡ trên nền trắng, thường họa lại những cảnh lịch sử hoặc thần thoại.
Vùng ngoại ô Venice, nằm trên năm hòn đảo nhỏ ở kênh Venice, nổi tiếng với nghề thổi thủy tinh từ thế kỷ 13.
Người đứng đầu bảy archon kiến tạo thế giới này, theo các giáo phái Ngộ đạo Ophite và Sethian.
Theo Ngộ đạo, Sophia là một hình tượng nữ, tương tự với con người nhưng đồng thời cũng là một trong những phương diện tính nữ của Chúa. Sophia đã đọa khỏi thiên đàng, gây việc tạo nên thế giới vật chất này.
Tổng hợp các quyền năng thần thánh.
Tiếng Pháp, có nghĩa là “đi ngược lại”, “lầm đường lạc lối”.
Gần một cửa sổ ở góc bên phải, tôi để ý thấy phòng gác của kính tiềm vọng. Tôi bước vào thì thấy mình đối mặt với một tấm kính, như trong đài chỉ huy tàu thủy, và qua đó tôi thấy những hình ảnh chập chờn của một bộ phim, nhòe mờ; quang cảnh của một thành phố. Những gì tôi thấy được chiếu từ một màn ảnh phía trên đầu tôi, nơi mà mọi thứ đều lộn ngược, và màn ảnh thứ hai này là thị kính, có thể nói như vậy, của một kính tiềm vọng thô sơ tạo bởi hai chiếc hộp chứa hàng được sắp thành góc tù. Ở khoảng trên đầu phía sau tôi, hộp dài hơn chìa ra như một chiếc ống từ phòng nhỏ bên trên và đằng sau tôi, vươn tới một cửa sổ cao hơn, từ đó một bộ những thấu kính góc rộng hội tụ ánh sáng từ bên ngoài. Tính toán lại chặng đường đã đi qua, tới đây, tôi nhận ra rằng chiếc kính tiềm vọng cho tôi hình ảnh bên ngoài như thể tôi đang nhìn qua cửa sổ tầng trên khu tụng niệm của nhà thờ Saint-Martin - như thể tôi lăng ở đó cùng Con lắc, như một kẻ trên giá treo cổ, liếc nhìn đời lần cuối cùng. Khi mắt tôi đã quen với hình ảnh lờ nhờ, tôi có thể nhận ra đường Vaucanson mà bục ca đoàn trông ra, và đường Conté cùng một trục với gian giữa giáo đường. Đường Conté chia thành đường Montgolfier ở mạn trái và đường Turbigo ở mạn phải. Các góc đường có vài quán bar, Le Weekend và La Rotonde, và đối diện với chúng là một mặt tiền mà tôi phải căng mắt mới nhìn ra biển hiệu: LES CREATIONS JACSAM.
Kính tiềm vọng. Không có lý do hiển nhiên nào để nó lại ở trong gian của thủy tinh hơn là gian của các thiết bị thị giác, nhưng rõ ràng nó đóng vai trò quan trọng cho điểm nhìn ra ngoài đặc thù này ở đúng vị trí đặc thù này. Nhưng quan trọng như thế nào? Vì sao căn phòng nhỏ này, quá khoa học thực chứng, một thứ bước ra từ truyện của Verne lại đứng bên cạnh rắn và sư tử mang tính biểu tượng?
Dầu sao đi nữa, nếu tôi có đủ sức mạnh và lòng can đảm nán lại đây thêm độ nửa giờ nữa, ắt gã gác đêm sẽ không trông thấy tôi.
Vậy nên tôi cứ ngụp mãi dưới nước trong một khoảng thời gian cơ hồ dài dằng dặc. Tôi nghe thấy tiếng bước chân của những vị khách cuối cùng, rồi tiếng bước chân của những người bảo vệ cuối cùng. Tôi những muốn núp dưới đài chỉ huy để tránh tầm nhìn của kẻ nào đó ngẫu nhiên ngó vào, nhưng tôi quyết định cưỡng lại. Nếu họ phát hiện ra tôi đang đứng đó, tôi có thể vờ như mình là một kẻ mê cuồng nấn ná lại để thưởng thức kiệt tác nhân tạo này.
Chẳng mấy chốc đèn phụt tắt và gian sảnh chìm trong cảnh tranh tối tranh sáng. Nhưng giờ phòng này dường như ít tối hơn nhờ ánh sáng từ màn hình. Tôi cứ dán chặt mắt vào nó, chút liên hệ cuối cùng của tôi với thế giới.
Phương án tốt nhất là cứ đứng nguyên đấy - nếu chân tê nhức quá thì ngồi xổm xuống, trong ít nhất hai tiếng. Giờ đóng cửa với khách tham quan không cùng giờ nghỉ của nhân viên. Một nỗi kinh hoảng đột ngột xâm chiếm tôi: nhỡ đâu nhân viên vệ sinh bắt đầu quét qua khắp các phòng, từng centimét một. Nhưng rồi tôi nhớ ra: buổi sáng bảo tàng mở cửa muộn, vậy nên có lẽ những người làm vệ sinh làm việc ban ngày thay vì ban đêm. Và hẳn đúng như vậy, ít nhất là ở tầng trên, bởi tôi không nghe thấy tiếng ai ghé qua, chỉ có tiếng người nói từ xa vẳng lại và thi thoảng một âm thanh lớn hơn, có lẽ tiếng đóng cửa. Tôi đứng im như phỗng. Còn vô khối thời gian cho tôi trở lại nhà thờ vào khoảng mười, mười một giờ, thậm chí muộn hơn. Các Thủ lĩnh thì phải tới gần nửa đêm mới đến.
Một nhóm bạn trẻ đi tới từ đường La Rotonde. Một cô gái đi dọc đường Conté và rẽ vào đường Montgolfier. Khu quanh đây không nhộn nhịp lắm. Liệu tôi có cầm cự nổi, nhìn ngắm mãi thế giới nhàm tẻ sau lưng mình hàng giờ đồng hồ liền? Liệu tôi có nên cố mà đoán bí ẩn của việc đặt chiếc kính tiềm vọng tại đây? Tôi cảm thấy cần đi tiểu. Quên nó đi: một phản ứng sợ hãi.
Quá nhiều thứ chạy qua óc bạn khi bạn trốn một mình bên trong một chiếc kính tiềm vọng. Cảm giác của một kẻ đi lậu vé hẳn là như thế này, giấu mình trong kho hàng, di cư tới một vùng đất xa xăm nào đó. Thực ra là tới tượng Nữ thần Tự do với khung cảnh New York. Lát tôi có thể sẽ lơ mơ, gà gật; mà không chừng thế lại tốt. Không, biết đâu tôi sẽ thức giấc quá muộn mất...
Điều tồi tệ nhất sẽ là một cơn kinh hoảng ập tới. Đến khi ấy thì bạn sẽ chắc chắn rằng ngay tức khắc bạn sẽ bắt đầu gào thét. Kính tiềm vọng. Tàu ngầm. Mắc kẹt dưới đáy biển. Biết đâu con cá đen khổng lồ dưới vực nước sâu đang lượn quanh bạn rồi mà mắt bạn không thấy được, và tất cả những gì bạn biết là bạn đang hết dần dưỡng khí...
Tôi hít vài hơi thật sâu. Tập trung. Thứ duy nhất ta có thể dựa dẫm vào tại một thời điểm như thế này là danh sách giặt ủi. Bám chặt lấy các sự kiện, nguyên nhân, tác động. Tôi có mặt ở đây vì lý do này, và cũng vì lý do này và...
Những ký ức, rõ ràng, chính xác, trật tự. Về ba ngày điên cuồng vừa qua, về hai năm qua, và những ký ức bốn mươi tuổi tôi tìm thấy khi tôi đột nhập vào bộ não điện tử của Jacopo Belbo.
Thời khắc này tôi đang nhớ lại (như tôi từng nhớ lại khi ấy) để cố luận cho ra đầu ra đũa mớ hỗn độn đã kéo sáng tạo của chúng tôi đi lạc lối. Thời khắc này (cũng như khi ấy, lúc tôi đợi trong cái kính tiềm vọng), tôi thu mình vào một góc hẻo lánh của tâm trí, để rút từ đó ra một câu chuyện. Chẳng hạn như Con lắc. Diotallevi từng bảo tôi rằng Sefirah đầu tiên là Keter, Vòng miện, khởi nguyên, cái trống rỗng tiên khởi. Thoạt tiên, Người tạo ra một điểm, nó trở thành Tư tưởng, từ đó mọi hình dáng được vẽ ra. Người hiện hữu và không hiện hữu, Người được bao gồm trong cái tên ấy mà vẫn chưa được bao gồm trong tên ấy, vẫn chưa có tên gì ngoài khát khao được gọi bởi một cái tên... Người phác họa những dấu hiệu trong không trung; một ánh sáng tăm tối bật ra từ nơi thẳm sâu bí ẩn nhất của Người, tựa một đám sương mù vô sắc đem lại hình dạng cho cái không có hình dạng, và khi sương mù lan tỏa, một nguồn lửa chói tượng hình ở tâm nó, và nguồn lửa tràn xuống để chiếu sáng Sefirot thấp hơn, rồi xuống nữa, xuống tới Vương quốc.
Nhưng có lẽ trong tsimtsum* ấy, sự thu hẹp* ấy, phân ly cô độc ấy - Diotallevi nói - đã sẵn có lời hẹn của tiqqun, lời hẹn trở lại.
Thuật ngữ được sử dụng trong triết lý Kabbalah của Isaac Luria để giải thích học thuyết mới của ông ta rằng Chúa bắt nguồn quá trình sáng tạo bằng việc “co lại” ánh sáng vô hạn của mình nhằm tạo một “không gian khái niệm” mà trong đó các địa hạt hữu hạn và có vẻ độc lập với nhau có thể tồn tại.
Theo bản tiếng Ý, ritiro.