Miệng cây kèn trômpet được đốt cháy, và rồi trước mắt tôi mái vòm tách ra, một mũi tên lửa chói lọi bắn xuống, xuyên qua ống kèn tiến thẳng vào cơ thể không sự sống. Khe nứt kia liền lại lại và cây kèn cũng được bỏ sang bên.
− Johann Valentin Andreae, Die Chymische Hochzeit des
Christian Rosencreutz, Strassburg, Zetzner, 1616, tr. 125-126
Bài viết của Belbo có một sô khoảng trống, một số đoạn chồng chéo, một số dòng bị gạch đi. Tôi tốn công dựng lại, tái tạo lại nó nhiều hơn là bỏ công đọc lại.
Lúc ấy hẳn phải gần cuối tháng Tư năm 1945. Quân Đức đã rút chạy, đám phát xít đang tan rã và *** nằm chắc trong tay quân kháng chiến.
Sau trận đánh cuối cùng, trận đánh mà Belbo kể cho chúng tôi tại chính ngôi nhà này gần hai năm trước, các lữ đoàn kháng chiến kéo về tập trung ở ***, nhằm tiến về thành phố. Tất cả chờ một hiệu lệnh từ Đài phát thanh Luân Đôn; họ sẽ xuất phát khi Milan sẵn sàng cho cuộc khởi nghĩa.
Lữ đoàn Garibaldi cũng tới, chỉ huy của họ là Ras, một người khổng lồ với bộ râu quai nón đen, rất được lòng dân thị trấn. Họ bận quân trang tự chế, mỗi người mỗi kiểu, giống nhau ở mỗi chiếc khăn quàng và ngôi sao trên ngực, đều màu đỏ, vũ khí cũng có gì dùng đó, người dùng súng ngắn cũ, kẻ dùng súng máy cỡ nhỏ cướp được của địch. Một sự tương phản rõ rệt với các Lữ đoàn Badoglio khăn xanh, quân phục kaki na ná giống quân Anh, súng Sten mới coóng. Quân đồng minh đã hỗ trợ tương đối hào phóng cho lực lượng Badoglio bằng các cuộc thả dù đêm, đều đặn vào mười một giờ đêm trong suốt hai năm qua, của chiếc Pippetto bí ẩn, một máy bay do thám Anh. Không ai có thể hình dung nó dựa vào cái gì mà tìm ra đúng chỗ, bởi vì suốt hàng cây số không thể thấy một ngọn đèn nào trên mặt đất.
Có sự căng thẳng giữa phe Garibaldi và phe Badoglio. Thiên hạ đồn rằng tối hôm xảy ra trận đánh quân Badoglio đã xông vào kẻ địch, hét lên “Tiến lên, Savoy!” Ồ, nhưng đó là thói quen thôi, một số người nói. Anh còn có thể hét gì khác khi tấn công chứ? Chuyện ấy không nhất thiết đồng nghĩa với việc họ là người bảo hoàng; chính họ cũng biết rằng tội nhà vua không nhỏ. Phe Garibaldi cười nhạo: Bao giờ các ngươi súng gắn lưỡi lê đánh giáp lá cà trên chiến trường thì hẵng hét Savoy, chớ nên hét vậy trong khi ôm khẩu Sten thò ra thụt vào quanh góc phố. Sự thực là quân Badoglio đã bán mình cho Anh.
Tuy vậy, hai đội quân này cũng đi đến một thỏa hiệp tạm thời, cùng bầu ra một thủ lĩnh chung để tấn công thành phố. Mongo được chọn; ông ta chỉ huy lũ đoàn được trang bị tốt nhất, là nguôi nhiều tuổi nhất, đã chiến đấu trong Thế chiến thứ Nhất, là một anh hùng, và được bộ chỉ huy quân Đồng minh tin tưởng.
Trong những ngày sau đó, trước cuộc nổi dậy ở Milan ít lâu, chắc vậy, họ lên đường đi chiếm thành phố. Tin tốt tới: chiến dịch đã thắng lọi, các lữ đoàn mang vinh quang trở về ***. Tuy nhiên có một số thương vong. Đồn rằng Ras đã ngã xuống trên chiến trường và Mongo bị thương.
Rồi một buổi chiều nọ người ta nghe có tiếng xe, những bài ca chiến thắng, thế là người người lao vào quảng trường chính. Từ đường cao tốc, những toán quân đầu tiên đang đến, nắm tay siết chặt giơ cao, cờ xí và vũ khí khua từ cửa sổ ô tô và bậc lên xuống xe tải. Suốt dọc đường, người ta tung hoa lên những người lính.
Đột nhiên có ai đó hét lên, “Ras, Ras!” và Ras kia, ngồi nơi thanh chắn phía trước của một chiếc Dodge, bộ râu rối tung và bộ ngực ngăm đen, lông lá, đẫm mồ hôi lộ ra qua áo sơ mi mở cúc. Ông ta vẫy tay với đám đông, cười rổn rảng.
Bên cạnh Ras, Rampini cũng từ chiếc Dodge trèo xuống. Đó là một cậu chàng cận thị chơi trong ban nhạc, nhiều tuổi hơn những đứa khác một chút, ba tháng trước cậu ta biến mất, nghe nói là gia nhập quân kháng chiến. Và cậu ta kia, khăn đỏ quàng quanh cổ, áo tunic kaki, giày xanh - đồng phục của ban nhạc Don Tico - nhưng giờ cậu ta đeo thắt lưng to giắt một bao súng và một khẩu súng lục. Qua lớp kính cận dày từng khiến cậu chàng luôn bị bọn bạn ở trường giáo xứ chê cười, cậu nhìn những đứa con gái vây quanh cứ như cậu chàng là Flash Gordon. Jacopo tự hỏi liệu Cecilia có ở đó không, giữa những đứa con gái ấy.
Trong nửa giờ, toàn bộ quảng trường tràn ngập những nghĩa quân ăn mặc đủ màu sắc, và người ta gọi to tên Mongo; họ muốn nghe một bài diễn thuyết.
Trên một ban công tòa thị chính, Mongo xuất hiện, tì lên cây nạng, nhợt nhạt, và bằng một tay ông ta cố ổn định đám đông. Jacopo đợi bài diễn văn, bởi vì toàn bộ tuổi thơ của anh ta, giống như những đứa trẻ cùng trang lứa, được đánh dấu bởi những bài diễn văn lịch sử vĩ đại của il Duce, những bài diễn văn mà các trích đoạn quan trọng nhất bọn trẻ trong nhà trường phải học thuộc lòng. Thực ra, đám học trò nhớ toàn bộ các bài diễn văn, bởi vì mỗi câu trong đó là một tuyên bố quan trọng.
Im lặng. Mongo cất tiếng với giọng khàn đặc, khó nghe. Ông ta nói: “Hỡi các công dân, hỡi các bạn. Sau quá nhiều hy sinh đau đớn... Chúng ta đã ở đây. Vinh quang cho những người đã ngã xuống vì tự do.”
Và chỉ có vậy. Ông ta đi vào trong.
Đám đông la ó, và quân khỏi nghĩa giương lên những khẩu súng máy nhỏ, những khẩu Sten, súng ngắn, súng A91 lên, bắn những loạt súng chào, vỏ đạn rơi tứ phía, bọn trẻ chen giữa chân của những người lính và các công dân, bởi vì đây là cơ hội cuối cùng để làm dày thêm bộ sưu tập, chiến tranh có vẻ chỉ một tháng nữa là kết thúc, tệ thay.
Nhưng cũng có một số thương vong: hai người bị giết. Tình cờ cả hai đều là dân San Davide, một làng nhỏ trên ***, và các gia đình xin phép được chôn nạn nhân trong nghĩa trang của địa phương.
Chỉ huy quân kháng chiến quyết định rằng nên có một đám tang trọng thể: các toán binh sĩ xếp đội hình đứng nghiêm, xe tang trang trí cầu kỳ, ban nhạc làng, mục sư của nhà thờ - và ban nhạc của hội trường giáo xứ.
Don Tico lập tức đồng ý. Bởi vì, như ông ấy nói, ông vốn luôn mang trong lòng tình cảm chống phát xít. Và bởi vì, như những nhạc công xì xầm, trong suốt một năm ông đã bắt họ tập hai hành khúc tang lễ, và ông sớm muộn gì cũng phải cho họ trình diễn. Cũng bởi vì, miệng lưỡi sắc lẻm của dân làng nói, ông muốn chuộc lỗi cho vụ “Giovinezza.”
Câu chuyện “Giovinezza” là như sau:
Nhiều tháng trước đó, trước khi quân kháng chiến đến, ban nhạc của Don Tico đang trên đường đi biểu diễn cho một ngày lễ thánh hay gì đó thì bị Lữ đoàn Đen chặn lại. ‘Chơi Giovinezza’ đi, đức Cha,” viên chỉ huy ra lệnh, gõ gõ ngón tay lên nòng khẩu súng máy cỡ nhỏ của hắn. Don Tico còn có thê làm gì? Ông nói, “Các con à, chúng ta hãy thử nào; các con chỉ có một bộ da mà thôi.” Don Tico dùng đũa nhạc gõ nhịp, thế là đám thanh âm hỗn loạn chói tai lan khắp ***. Chỉ có kẻ tuyệt vọng hòng bảo vệ bộ da của mình mới đồng ý rằng những gì vừa vang lên là “Giovinezza.” Hổ thẹn thay cho tất cả mọi người. Hổ thẹn vì đã thỏa hiệp, sau đó Don Tico nói, nhưng thậm chí còn hổ thẹn hơn vì đã chơi tồi như chó. Ông là một mục sư, một người chống phát xít, nhưng trên tất cả, mẹ kiếp, ông là một nghệ sĩ.
Hôm đó không có mặt Jacopo. Anh ta bị viêm amiđan. Nhóm kèn đồng chỉ có Annibale Cantalamessa và Pio Bo, và sự hiện diện của chúng, thiếu Jacopo, hẳn đã cống hiến một phần lớn lao cho sự sụp đổ của Đức Quốc xã - Phát xít. Nhưng làm phiền lòng Belbo không phải chuyện ấy, ít nhất là vào thời điểm anh ta đang viết. Anh ta đã bỏ lỡ một cơ hội khác để tìm xem liệu mình có chút nào can đảm nói “không”. Có lẽ đó là lý do anh ta chết trên giá treo cổ của Con lắc.
Dẫu sao đám tang vẫn được xếp lịch vào sáng Chủ nhật. Tại quảng trường nhà thờ tất cả mọi người đều có mặt: Mongo với binh đoàn của mình, dượng Carlo và những chức sắc khác trong trấn, ngực đeo huân chương Thế chiến, cũng chẳng quan trọng ai là phát xít ai không, đây là vấn đề vinh danh những người anh hùng. Tu sĩ đã có mặt, ban nhạc thị trấn mặc đồng phục tới, và những chiếc xe tang được kéo bởi những chú ngựa đóng yên màu kem, đen và vàng. Automedon - gã đánh xe cho người anh hùng Achilles - ăn bận như một nguyên soái của Napoléon, mũ mào gà, áo chẽn ngắn và áo choàng to vĩ đại tiệp màu với dây cương. Ban nhạc giáo xứ cũng có mặt, mũ lưỡi trai, tunic kaki và quần xanh, bộ đồng sáng lấp lóa, bộ hơi bằng gỗ đen tuyền, chũm chọe và trống lấp lánh.
Từ *** đến San Davide đi mất năm cây số đường đồi. Các chiều Chủ nhật, những người về hưu chiếm lĩnh con đường này, họ dạo bộ, chơi bóng gỗ trong khi dạo, nghỉ ngơi, uống ít rượu vang, chơi trò chơi thứ Hai, và cứ thế cho tới khi đến thánh địa trên đỉnh đồi.
Một vài cây số leo đồi không là gì với những người chơi bóng gỗ, và có lẽ không là gì với người diễu binh, súng vác trên vai, mắt hướng thẳng về phía trước, hít thở không khí mùa xuân mát mẻ. Nhưng cố gắng leo trong khi đang chơi nhạc cụ, má phồng, mồ hôi nhỏ giọt, hơi thở dồn dập là chuyện khác. Ban nhạc thị trấn suốt đời chỉ làm có mỗi công việc này, nhưng với những cậu chàng của khu giáo xứ thì nó là một cực hình. Chúng chịu đựng như những người anh hùng. Don Tico khua cây đũa nhạc trong không khí, tiếng clarinet than vãn vì kiệt sức, saxophone phát ra tiếng be be nghèn nghẹt, và kèn đồng cùng kèn trômpet buông ra những tiếng rít thống khổ, nhưng họ đã làm được, suốt dọc đường tới ngôi làng, tới chân con đường dốc dẫn lên nghĩa địa. Trong một lúc Annibale Cantalamessa và Pio Bo chỉ phải vờ chơi thì Jacopo kẹt cứng trong nhiệm vụ chó chăn cừu, dưới con mắt của Don Tico. So sánh với ban nhạc thị trấn, họ diễn không tồi lắm, và bản thân Mongo cùng các chỉ huy lữ đoàn khác cũng thấy vậy: Tốt lắm, các chàng trai. Rất cừ.
Một chỉ huy đeo khăn xanh và dải băng màu cầu vồng từ cả hai cuộc chiến tranh thế giới nói: “Đức cha, hãy để các chàng trai nghỉ ở đây trong thị trấn; họ kiệt sức rồi. Đến cuối buổi leo lên sau. Rồi sẽ có một xe tải để đưa các anh quay về ***.”
Họ lao vào quán rượu. Bọn con trai của ban nhạc thị trấn, những cựu chiến binh đã dạn dày qua vô số đám tang, không hề kiêng dè trong việc giành bàn và gọi món lòng bò cùng cơ man là rượu. Họ sẽ ở đó chè chén cho tới tối. Các chàng trai của Don Tico trong khi ấy túm tụm ở quầy, nơi chủ nhà đang phục vụ những viên đá bạc hà xanh như là một thí nghiệm hóa học. Viên đá, trượt xuống cổ họng, để lại cho anh một cơn đau ở giữa trán, giống như viêm xoang.
Rồi họ cũng vật vã tới được nghĩa địa, ở đó có xe tải đang đợi. Họ vừa trèo lên vừa la hét, và khi họ đã ép vào nhau chật cứng, tất cả đều đứng, chen lấn nhau cùng nhạc cụ thì viên chỉ huy đã lên tiếng trước đó đi ra nói: “Thưa đức Cha, chúng tôi cần một kèn trômpet cho lễ cuối. Cha biết đấy, làm lệnh kèn. Chỉ mất có năm phút thôi.”
“Trômpet,” Don Tico nói, rất chuyên nghiệp. Và kẻ bất hạnh mang cái danh hiệu đó, giờ nhóp nháp đá bạc hà xanh và khao khát bữa cơm gia đình, một tên nhà quê bội bạc vô cảm với những thôi thúc thẩm mỹ và những lý tưởng cao cả, bắt đầu phàn nàn: muộn rồi, hắn phải về nhà, hắn không còn tí nước dãi nào, vân vân, làm mất thể diện Don Tico ngay trước mặt viên chỉ huy.
Thế là Jacopo, thấy trong hào quang buổi trưa hình ảnh ngọt ngào của Cecilia, liền nói, “Nếu cậu ta đưa cho con cây trômpet, con sẽ đi.”
Một ánh biết ơn rực lên trong mắt Don Tico; sự nhẹ nhõm đẫm mồ hôi của tay kèn trômpet khốn khổ. Một sự trao đổi nhạc cụ, như hai người lính.
Jacopo tới nghĩa địa, theo chân người dẫn lối linh hồn cùng với những dải ruy băng Addis Ababa. Mọi thứ quanh họ đều trắng toát: bức tường bị mặt trời chiếu thẳng vào, những nấm mồ, những hàng cây nở hoa dọc theo bờ giậu, áo tế của vị mục sư đã sẵn sàng đọc bài kinh Tạ ơn. Màu nâu duy nhất là những tấm ảnh phai mờ trên những bia mộ. Và một miếng vá màu sắc lớn do những hàng quân xếp bên hai nấm mộ tạo ra.
“Này chàng trai,” viên chỉ huy nói, “cậu đứng đây, bên cạnh tôi, và theo hiệu lệnh của tôi thổi điệu Assembly. Rồi, lại theo lệnh của tôi, chuyển sang Taps. Dễ thôi, phải không?”
Rất dễ. Trừ việc Jacopo chưa từng thổi Assembly hay Taps.
Cầm cây kèn trômpet với cánh tay phải cong xuống, tì vào xương sườn, làm thành góc xiên như thể nó là cây súng cacbin, và cậu chờ đợi, đầu ngẩng cao, bụng thóp vào, ngực ưỡn ra.
Mongo đang đọc một bài phát biểu ngắn gọn, với những câu rất ngắn. Jacopo nghĩ rằng để phát ra luồng hơi cậu sẽ phải ngước mắt lên trời, và mặt trời sẽ làm lóa mắt cậu. Nhưng đó là cái chết của người chơi kèn trômpet, và bởi vì anh chỉ chết một lần, anh có thể chết cho xứng đáng.
Viên chỉ huy thầm thì với cậu: “Nào.” Ông ta yêu cầu thổi Assembly. Jacopo chỉ thổi có đồ mi son đố. Với những chiến binh chai sạn ấy, chừng đấy dường như là đủ. Nốt đố cuối cùng được chơi sau một hơi thở sâu, để cậu có thể giữ hơi, cho nó thời gian - Belbo viết - để vươn tới mặt trời.
Những nghĩa quân đứng nghiêm cứng đờ. Người sống bất động như người chết.
Chỉ có những người đào mộ là cử động. Tiếng quan tài được hạ xuống, tiếng thừng kẽo kẹt, tiếng thừng cà vào mặt gỗ. Nhưng còn một cử động nhỏ, không nhiều hơn ánh lóe trên một quả cầu, khi một biến đổi nhỏ của ánh sáng chỉ nhằm nhấn mạnh hơn sự bất biến của quả cầu.
Rồi, âm thanh khô khốc của Bồng Súng Chào. Mục sư lầm bầm những lời cũ rích; các viên chỉ huy tiến tới hai nấm mồ và mỗi người ném một vốc đất đầy. Một mệnh lệnh đột ngột thả một loạt đạn lên trời, rát-tát-tát-a-bum, và chim chóc bay vụt lên, kêu quàng quạc, từ những tán cây nở đầy hoa. Nhưng tất cả những thứ đó cũng không thực sự là chuyển động. Nó như thể vẫn khoảnh khắc ấy cứ tự diễn bày mình từ những góc nhìn khác. Nhìn mãi mãi vào một khoảnh khắc trong khi bạn nhìn nó, thời gian trôi.
Vì lý do này, Jacopo đứng nghiêm, ngó lơ cả những vỏ đạn rơi lúc này đang lăn sát bàn chân, cũng không hạ cây kèn trômpet xuống mà giữ nó trên môi, ngón tay ấn trên các van, cứng đờ tập trung, cây kèn hướng chéo lên trời. Cậu tiếp tục chơi.
Cái nốt cuối cùng thật dài của cậu không bao giờ bị đứt đoạn: vô thanh với những người có mặt, nó vẫn tuôn trào từ miệng cây trômpet, giống như một hơi thở nhẹ, một luồng khí cậu vẫn gửi vào miệng kèn, giữ lưỡi mình giữa đôi môi hơi hé mở, không ấn môi vào môi kèn. Nhạc cụ kia, không tì vào mặt cậu, ở nguyên đó chỉ bởi lực căng giữa khuỷu tay và vai cậu.
Cậu tiếp tục giữ cái nốt ảo diệu đó, bởi vì cậu cảm thấy mình đang thổi ra một sợi dây níu giữ mặt trời tại chỗ. Tinh cầu ấy đã bị bắt giữ trên đường đi, đã bị cố định trong một buổi trưa có thể kéo dài vĩnh cửu. Và tất cả phụ thuộc vào Jacopo, bởi vì nếu cậu phá vỡ mối liên hệ đó, buông lỏng sợi dây, mặt trời sẽ bay đi như một quả bóng, và cùng với nó là cả ngày hôm nay và sự kiện của ngày hôm nay, cái hành động không có bước chuyển tiếp này, sự tiếp nối không có trước sau này, cái sự kiện không được diễn ra, bất động, chỉ vì muốn nó diễn ra hay không là tùy thuộc vào quyền năng của cậu.
Nếu cậu dừng lại, dừng lại để thổi một nốt mới, một vết rách sẽ vang lên, lớn hơn nhiều so với loạt đạn đã làm cậu điếc tai, và tất cả đồng hồ sẽ lấy lại nhịp đập của chúng.
Jacopo ao ước bằng tất cả linh hồn mình rằng người đàn ông bên cạnh sẽ không ra lệnh Taps. Mình có thể từ chối, cậu tự nhủ, và cứ như thế này vĩnh viễn.
Cậu đã bước vào cái trạng thái nhập đồng vẫn thường chiếm trọn người thợ lặn khi anh ta cố không ngoi lên, muốn kéo dài cái quán tính cho phép mình lướt trên đáy đại dương. Cố thể hiện ra những gì mình cảm thấy khi ấy, Belbo, trong cuốn vở tôi đang đọc đây, phải viện tới những câu vỡ vụn, vặn xoắn, không cú pháp, bị xuyên thủng bởi những hàng dấu chấm. Nhưng tôi thấy rõ rằng vào khoảnh khắc ấy - mặc dù anh ta không nói thẳng ra - trong khoảnh khắc đó anh ta sở hữu Cecilia.
Thực tế là Jacopo không hiểu, khi ấy cũng không mà sau này khi anh ta viết về bản thể vô thức của mình cũng không, rằng vào khoảnh khắc đó anh ta đang kỷ niệm một lần và mãi mãi cái đám cưới hóa học của anh ta - với Cecilia, với Lorenza, với Sophia, với trái đất và với bầu trời. Một mình giữa những phàm nhân, anh ta đã đưa Đại Công trình tới điểm kết.
Không ai từng bảo anh ta rằng Chén thánh là một cái chén nhưng cũng là cây thương, và cái kèn trômpet của anh ta giương lên như một chén thánh cùng lúc là một vũ khí, một công cụ của sự thống trị ngọt ngào nhất, thứ bắn lên bầu trời và nối liền trái đất với Địa cực Bí ẩn. Với Điểm Đứng Yên duy nhất trong vũ trụ. Với thứ anh ta sáng tạo ra, trong thời khắc đó, với hơi thở của anh ta.
Diotallevi chưa nói với anh ta làm cách nào ta có thể đắm chìm vào Yesod, Sefirah của kiến tạo, dấu hiệu của cây cung siêu việt được kéo để bắn những mũi tên tới Malkhut, mục tiêu của nó. Yesod là giọt bật lên từ mũi tên để sản sinh ra cây và trái, đó là anima mundi, thời khắc mà tại đó sức mạnh sinh sản sinh sôi nảy nở, kết nối tất cả các trạng thái tồn tại lại với nhau.
Biết làm thế nào để quay cái Cingulum Veneris này có nghĩa là biết làm cách nào để sửa lại những sai lầm của Demiurge.
Anh mất cả một đời để kiếm tìm Cơ hội, mà không nhận ra rằng cái thời khắc quyết định, thời khắc biện minh cho sinh và tử, đã trôi qua. Nó sẽ không quay lại, nhưng nó đã ở đó - đủ đầy, chói lóa, hào phóng như bất cứ mặc khải nào.
Ngày hôm đó, Jacopo Belbo nhìn thẳng vào đôi mắt của Sự thật. Cái sự thật duy nhất được ban cho anh ta. Bởi vì - sau này anh ta sẽ học được - sự thật vốn ngắn gọn (sau này, nó chỉ toàn là chú giải). Vậy nên anh ta cố gắng kìm giữ dòng chảy của thời gian.
Anh ta không hiểu. Khi còn là đứa trẻ cũng không. Khi là một thanh niên, lúc đang viết về nó cũng không. Khi là một người đàn ông quyết định thôi viết về nó cũng không hiểu nốt.
Tôi ngộ ra điều này vào tối hôm ấy: tác giả phải chết để người đọc nhận ra được sự thật của anh ta.
Con lắc, thứ đã ám ảnh Jacopo Belbo suốt cuộc đời trưởng thành của mình, đã - như địa chỉ bị thất lạc trong giấc mơ của anh ta - là biểu tượng của cái khoảnh khắc kia, được ghi lại và sau đó bị đè nén, khi anh ta thực sự chạm tới trần của thế giới. Nhưng khoảnh khắc ấy, trong đó anh ta khiến cho thời gian và không gian đóng băng bằng cách bắn mũi tên Zeno, khoảnh khắc ấy không có biểu tượng, không ký hiệu, dấu hiệu, ám chỉ, ẩn dụ hay bí ẩn: nó là thứ nó là. Nó không đại diện cho một thứ gì khác. Vào khoảnh khắc ấy không còn sự trì hoãn nào nữa, và mọi thứ được thanh toán đủ.
Jacopo Belbo không hiểu rằng anh ta đã có thời khắc của mình và rằng nó là đủ cho anh ta, suốt cả đời. Không nhận ra điều ấy, anh ta tiêu phí những ngày còn lại kiếm tìm thứ gì khác, cho tới khi anh ta tự đày mình xuống địa ngục. Nhưng có lẽ anh ta đã ngờ điều này. Nếu không thì anh ta đã chẳng trở đi trở lại thường xuyên đến thế với ký ức về cây kèn trômpet. Nhưng anh ta nhớ nó như một thứ bị thất lạc, không phải như một thứ anh ta có.
Tôi tin tưởng, tôi hy vọng, tôi cầu nguyện rằng, vào thời điểm sắp chết, dao động cùng Con lắc, Jacopo Belbo cuối cùng cũng ngộ ra điều này, và tìm thấy bình yên.
Rồi người ta yêu cầu cậu chơi Taps. Nhưng đằng nào thì Jacopo cũng ngừng lại, bởi vì hơi thở của cậu sắp đứt. Cậu ngưng ngang nửa chừng, rồi thổi một nốt duy nhất, cao, hạ dần, dịu dàng, để chuẩn bị thế giới cho sự muộn sầu nằm đợi sẵn.
Viên chỉ huy nói, “Hoan hô, anh bạn trẻ. Giờ hãy chạy đi. Tay trômpet cừ khôi.”
Mục sư đi mất, nghĩa quân đi ra cổng sau nơi xe của họ đang chờ, những người đào mộ bỏ đi sau khi lấp huyệt, Jacopo là người rời khỏi cuối cùng. Cậu ta không thể nào kéo mình ra khỏi chốn hạnh phúc này.
Trong sân bên dưới, xe chở ban nhạc xứ đạo đã đi rồi.
Jacopo tự hỏi vì sao Don Tico lại bỏ rơi cậu như vậy. Từ khoảng cách thời gian, lời đáp khả thi nhất là đã có một sự hiểu lầm; ai đó đã nói với Don Tico rằng quân kháng chiến sẽ đưa cậu bé xuống. Nhưng Jacopo lúc ấy thì chỉ nghĩ - và không phải không có nguyên do - rằng giữa Assembly và Taps đã quá nhiều thế kỷ trôi qua. Các cậu nhóc khác đã đợi cho tới khi tóc bạc trắng, cho tới chết, cho tới khi cát bụi thân họ đã tản mác ra thành lớp sương mù đang nhưộm những dải đồi sang màu xanh lam trước mắt cậu.
Cậu cô độc một mình. Đằng sau cậu là một nghĩa địa trống trải. Trong tay cậu, cây kèn trômpet. Trước mắt cậu, những ngọn đồi nhạt nhòa dần, mỗi lúc một lam hơn, ngọn này nối ngọn kia, kéo thành một dải gò vô tận. Và, đầy hận thù, trên đầu cậu, là vầng mặt trời tự do.
Cậu quyết định khóc nức lên.
Nhưng đột nhiên xe tang xuất hiện, với gã Automedon ăn vận như một tướng quân của hoàng đế, tất cả màu kem và bạc và đen, những con ngựa được tô điểm bằng mặt nạ của dân man di chỉ hé ra đôi mắt, tấm phủ lưng ngựa như quan tài, hai cây cột nhỏ vặn xoắn đỡ mặt hồi Assyria-Hy Lạp-Ai Cập quét toàn màu trắng và vàng. Người đàn ông đội chiếc mũ mào gà dừng lại một thoáng bên tay kèn trômpet đon độc, và Jacopo hỏi: “Bác đưa cháu về nhà được không ạ?”
Người đàn ông mỉm cười. Jacopo trèo lên cạnh ông, và chính trên xe tang, cậu bắt đầu hành trình quay lại với thế giới của người sống. Ông lão Charon hết giờ làm việc ấy, lầm lì, giục lũ ngựa kéo xe của mình xuống đồi, trong khi Jacopo ngồi thẳng tắp, ra dáng thầy tu, cây kèn trômpet cắp dưới cánh tay, mũ lưỡi trai sáng lóa, đắm mình trong vị trí mới mẻ, không kỳ vọng này của cậu.
Họ xuống đồi, và ở mỗi khúc quanh một khung cảnh mới lại mở ra, những rặng nho xanh màu gỉ đồng trong ánh sáng lóa mắt, và sau một khoảng thời gian không đo được, họ tới ***. Họ đi qua một quảng trường lớn, tất cả các mái vòm, hoang vắng như chỉ những quảng trường Monferrato có thể hoang vắng vậy vào hai giờ chiều ngày Chủ nhật. Một người bạn học ở góc phố thấy Jacopo trên xe tang, cây kèn trômpet dưới cánh tay, mắt dán chặt cõi vô cùng, liền vẫy tay ngưỡng mộ với cậu.
Jacopo về nhà, không ăn gì, không nói gì. Cậu ngồi thu lu ngoài hiên, bắt đầu chơi trômpet như thể nó có chế độ vô thanh, thổi thật khẽ khàng để không quấy rầy đến sự tĩnh lặng của giấc ban trưa.
Cha cậu đến bên và, với sự điềm đạm của một người đã thấu tỏ mọi quy luật của cuộc đời, chất phác nói: “Một tháng nữa, nếu không có gì bất thường, chúng ta sẽ trở về nhà. Trong thành phô con không chơi kèn trômpet được. Chủ nhà sẽ đuổi chúng ta. Vậy nên con sẽ phải quên chuyện này đi. Nếu con thực sự thích âm nhạc, chúng ta sẽ phải cho con học dương cầm.” Và rồi, thấy cậu con trai mắt ngấn lệ, ông nói thêm: “Thôi nào, ngốc. Con không nhận ra rằng những ngày tồi tệ đã qua sao?”
Ngày hôm sau, Jacopo trả cây trômpet cho Don Tico. Hai tuần sau, gia đình rời ***, để tái nhập vào tương lai.