Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 314 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
113

❊ ❊ ❊

Sự nghiệp của chúng ta là một bí mật nằm trong bí mật, một bí mật mà chỉ một bí mật khác mới có thể giải đáp; đó là một bí mật về một bí mật được một bí mật khác hé mở.

− Jaf ‘ar as-Sãdiq, Imam đệ lục

Từ từ, tôi tỉnh táo lại, nghe thấy các âm thanh; ánh sáng giờ mạnh hơn, khiến tôi máy mắt. Chân tôi đã tê cứng. Khi tôi cố đứng dậy, không gây tiếng động, tôi cảm thấy mình đang đứng trên một thảm nhím biển nhọn hoắt. Nàng tiên cá nhỏ. Tôi lặng lẽ nhón chân, rồi khuỵu đầu gối xuống, cái đau liền giảm bớt. Thận trọng ngó ra, bên phải rồi bên trái, tôi thấy bục gác vẫn chìm khuất trong bóng tối. Đến lúc này tôi mới nhìn được đại cảnh.

Lòng nhà thờ được soi tỏ từ khắp các phía. Giờ đã có hàng chục, hàng chục đèn được những người mới tới mang đến, họ đang bước vào từ lối đi sau lưng tôi. Họ đi qua bên trái tôi, vào bục ca đoàn, hoặc xếp hàng trong gian giữa. Chúa ơi, tôi tự nhủ, một Đêm trên Núi Bald, phiên bản Walt Disney.

Họ không nói to; họ thầm thì, cùng nhau tạo thành một âm thanh như một cảnh đám đông trong một vở kịch: xì xà xì xầm.

Bên trái, đèn được đặt trên sàn thành hình bán nguyệt, viền lấy theo hình cung dẹt mép phía Đông của bục ca đoàn, điểm cực Nam chạm vào pho tượng Pascal. Một lò than đỏ lửa được đặt ở đó, và ai đó đã ném vào đấy các loại thảo mộc, nhang trầm. Khói bay đến tận chỗ tôi trong chòi gác, làm cổ họng tôi khô lại, khiến tôi có cảm giác phấn khích mê mụ.

Ở chính giữa bục ca đoàn, trong ánh đèn chập chờn, có gì đó lay động, một cái bóng dài mảnh.

Con lắc! Con lắc không còn dao động ở nơi quen thuộc của nó tại trung tâm hành lang. Một phiên bản lớn hơn của nó đã được treo từ chốt đỉnh vòm ở trung tâm bục ca đoàn. Quả cầu lớn hơn; dây treo cũng dày hơn nhiều, giống như một dây neo, chắc vậy, hoặc một dây cáp bện bằng sợi kim loại. Con lắc, giờ to lớn khổng lồ, hẳn phải giống như vậy ở điện Pantheon. Cảnh tượng giống như trông thấy mặt trăng qua kính viễn vọng.

Họ đã tái tạo lại con lắc mà các hiệp sĩ dòng Đền đã dùng trong lần thí nghiệm đầu tiên, trước Foucault nửa thiên niên kỷ. Để cho phép nó dao động tự do, họ đã bỏ đi một số dầm và kèo, biến không gian bậc dốc của bục ca đoàn thành một hồi khúc đối xứng thô được đánh dấu bởi những ngọn đèn.

Tôi tự hỏi làm thế nào mà Con lắc có thể duy trì được dao động bất biến khi mà thiết bị điều khiển từ vốn nằm trong sàn nhà kia bây giờ không thể nằm ở bên dưới nó nữa. Rồi tôi hiểu ra. Ở rìa của bục ca đoàn, gần những động cơ diesel, có một người đang đứng, sẵn sàng phóng ra như một con mèo theo mặt phẳng dao động. Gã đẩy khẽ quả cầu mỗi lần nó tới chỗ gã, một cái ẩy nhẹ chính xác của bàn tay hay các đầu ngón tay.

Gã mặc áo đuôi tôm, giống Mandrake. Sau đó, thấy những bạn đồng hành của gã, tôi nhận ra rằng gã quả thực là một ảo thuật gia, một kẻ làm trò ảo thuật từ Le Petit Cirque của Madame Olcott; gã là một tay chuyên nghiệp, có khả năng đo được các lực và khoảng cách, có một cổ tay vững vàng điêu luyện để thao tác trong những giới hạn siêu nhỏ cần thiết trong trò ảo thuật. Có lẽ thông qua cặp đế mỏng của đôi giày bóng loáng mà gã có thể cảm nhận được xung động của các dòng, và chuyển động bàn tay mình theo logic của cả quả cầu lẫn trái đất đang điều khiển nó.

Những bạn đồng hành của gã, giờ tôi cũng có thể thấy chúng. Chúng luồn lách qua đám ô tô trong lòng nhà thờ, chúng nhốn nháo chạy qua hàng xe đạp cổ, xe mô tô, hầu như loạng choạng trong bóng tối. Vài đứa khuân một ghế đẩu và một bàn phủ vải đỏ vào lối đi lớn phía hậu đường, những đứa khác thì đi đặt đèn. Loắt choắt, sống động cùng đêm đen, lóe xóe, nom chúng như những đứa trẻ còi xương, và khi một đứa chạy ngang tôi, tôi thấy hình hài của bệnh nhân Down, đầu trọc lốc. Những Mignon Dị hợm của Madame Olcott, đám quỷ nhỏ đáng sợ mà tôi đã thấy trên tấm áp phích trong thư viện Sloane.

Rạp xiếc đã đủ bộ: nhân viên, bảo vệ, biên đạo của nghi lễ. Tôi thấy Alex và Denys, les Géants d’Avalon, chắc lẳn trong áo giáp da nẹp đinh tán. Họ quả thực là những người khổng lồ, tóc vàng, tựa lưng vào phần thân to lớn của chiếc Obeissante, tay khoanh trước ngực chờ đợi.

Tôi không có thời gian tự hỏi thêm gì. Ai đó đã long trọng bước vào, đưa một bàn tay ra yêu cầu im lặng. Tôi chỉ nhận ra Bramanti vì ông ta đang bận một chiếc tunic đỏ tươi, áo choàng trắng, đội chiếc mũ giám mục mà tôi đã thấy ông ta đội vào buổi tối ở Piemonte. Ông ta tiến về phía lò than, ném thứ gì đó vào đấy, một ngọn lửa bùng lên, rồi khói trắng dày bốc lên và từ từ lan khắp phòng. Giống ở Rio, tôi nhủ thầm, trong bữa tiệc giả kim. Mà tôi lại không có chiếc agogô ở đây. Tôi bịt khăn tay vào mũi và miệng làm màng lọc. Nhưng làm vậy rồi mà tôi vẫn dường như thấy hai Bramanti, và Con lắc dao động trước mặt tôi cùng lúc theo vài hướng, như một cái vòng xoay ngựa gỗ.

Bramanti bắt đầu ngân nga: “Alef bet gimel dalet he waw zain het tet jod kaf lamed mem mun samek ajin pe sade qofresh shin tau!”

Đám đông nhắc lại, cầu nguyện: “Parmesiel, Padiel, Camuel, Aseliel, Barmiel, Gediel, Asyriel, Maseriel,Dorchtiel, Usiel, Cabariel, Raysiel, Symíel, Armadiel...”

Bramanti làm một dấu hiệu, và ai đó liền từ đám đông bước ra quỳ xuống dưới chân ông ta. Trong thoáng chốc tôi nhìn thấy khuôn mặt. Là Riccardo, người đàn ông mặt sẹo, tay họa sĩ.

Bramanti hỏi anh ta, và Riccardo trả lời, đọc lại từ trí nhớ những công thức của nghi lễ.

“Anh là ai?”

“Tôi là một cao đồ, vẫn chưa được phép tiếp cận tới những bí ẩn cao hơn của Tres. Tôi đã chuẩn bị bản thân trong lặng lẽ và suy tưởng về bí ẩn của Baphomet, với hiểu biết rằng Đại Công trình xoay tròn quanh sáu dấu niêm phong nguyên vẹn, và chỉ đến phút cuối cùng chúng ta mới biết bí mật về cái thứ Bảy.”

“Anh được tiếp nhận như thế nào?”

“Thông qua đường vuông góc của Con lắc.”

“Ai nhận anh?”

“Một Công sứ Bí ẩn.”

“Liệu anh có nhận ra người đó không?”

“Không, bởi vì người ấy đeo mặt nạ. Tôi chỉ biết hiệp sĩ có cấp bậc ngay trên tôi, và người ấy chỉ biết naometer có cấp bậc ngay trên mình, và mỗi người chỉ biết một người khác. Ấy cũng chính là điều tôi mong mỏi.”

“Anh mang cô gái đến chưa?”

“Có, cô ta ở đây. Tôi đã giao cô ta cho người kia, như tôi được chỉ thị. Cô ta đã sẵn sàng.”

“Đi đi, nhưng hãy luôn sẵn sàng.”

Cuộc đối thoại diễn ra bằng một thứ tiếng Pháp tồi, cả hai bên. Rồi Bramanti nói: “Các sư huynh, chúng ta tập trung ở đây nhân danh Dòng Nhất, Dòng Ân Danh, với Dòng này, cho tới hôm qua, các bạn không biết là các bạn thuộc về, ấy vậy nhưng các bạn vẫn luôn thuộc về nó! Chúng ta hãy thề. Xử vạ tuyệt thông với tất cả những kẻ báng bổ Bí mật. Xử vạ tuyệt thông với mọi kẻ ăn bám vào bí truyền. Xử vạ tuyệt thông với tất cả những kẻ bôi bác Nghi lễ và Huyền bí!”

“Xử vạ tuyệt thông!”

“Xử vạ tuyệt thông với Học viện Vô hình, với những đứa con hư hỏng của Hiram và Quả phụ, với những thủ lĩnh thực thi và ước đoán của lời dối trá của Đông phương và Tây phương, Cổ Đại, Được Công nhận, hay Được Xem xét lại, với Mizraim và Memphis, với Philalethes và Chín Nữ tu, với Dòng Quan sát Nghiêm cẩn và Ordo Templi Orientis, với Quang chiếu hội Bavaria và Avignon, với Các Hiệp sĩ Kadosh, với Elus Cohen, Tình Bằng Hữu Hoàn Hảo, với Các Hiệp sĩ Đại Bàng Đen và Hiệp sĩ Thành phố Thánh, với Hội Thập tự Hoa hồng Anglia, với các tín đồ Kabbalah của Hoa hồng + Thập tự Vàng, Rạng đông Vàng, với Hồng hoa Thập tự Công giáo của ngôi Đền và Chén thánh, với Stella Matutina, với Astrum Argentinum và Thelema, với Vril và Thule, với mọi kẻ tiếm đoạt cổ xưa danh tự của Hội Trắng Vĩ Đại, với Các Vệ sĩ Đền, với mọi hội đoàn và tu viện của Zion và của Gaul!”

“Nguyền rủa!”

“Bất kể kẻ nào do trí tuệ, theo lệnh, cải đạo, tính toán hay mưu đồ lừa dối mà đã được thụ giáo vào bất cứ hội đoàn, học viện, tu viện, tăng hội hay dòng tu nào đã mạo phạm nhắc tới việc tuân thủ các Bề trên Ẩn danh hay những thủ lĩnh Thế giới, thì đêm nay phải nguyện thề từ bỏ sự thụ giáo ấy và khẩn cầu sự khôi phục trọn vẹn trong linh hồn và thể xác để quay về với kính ngưỡng duy nhất, Tres, Templi Resurgentes Equites Synarchici, dòng tam vị nhất thể huyền bí và bí ẩn nhất của các Hiệp sĩ Đồng trị của Dòng Đền Hồi Sinh!”

“Dưới đôi cánh của Người”.

“Giờ hãy mời vào các chức sắc thuộc ba mươi sáu cấp tối cao và bí ẩn nhất.”

Khi Bramanti nêu tên những người được tuyển lựa, họ xuất hiện trong những lễ phục tế lễ, ngực mang huy hiệu dòng Bộ Lông Cừu Vàng.

“Hiệp sĩ của Baphomet, Hiệp sĩ của Sáu Dấu niêm phong Nguyên vẹn, Hiệp sĩ của Dấu niêm phong thứ Bảy, Hiệp sĩ Tetragrammaton, Hiệp sĩ Hành hình của Florian và Dei, Hiệp sĩ của Athanor... Naometer Khả kính của Tháp Babel, Naometer Khả kính của Đại kim tự tháp, Naometer Khả kính của các Nhà thờ lớn, Naometer Khả kính của Đền Solomon, Naometer Khả kính của Hortus Palatinus, Naometer Khả kính của Đền Heliopolis...”

Khi Bramanti xướng lên các tước hiệu này, những người được gọi tên tiến vào theo nhóm, và tôi không thể nào phân biệt chức vị của từng người, nhưng trong số mười hai người đầu tiên tôi thấy De Gubernatis, ông lão ở thư viện Sloane, giáo sư Camestres, và những người khác tôi đã gặp trong buổi tối nọ ở Piemonte. Và tôi thấy Signor Garamond, tôi tin rằng là Hiệp sĩ của Tetragrammaton, rất đĩnh đạc và có phong thái thầy tu, rất chỉ nhập thần trong vai trò mới của mình, đôi bàn tay run lên khi chạm vào Bộ Lông Cừu trên ngực. Trong khi đó, Bramanti tiếp tục đọc: “Phái viên bí ẩn của Kamak, Phái viên Bí ẩn của Bavaria, Phái viên bí ẩn của Ngộ đạo Barbelo, Phái viên bí ẩn của Camelot, Phái viên bí ẩn của Montsegur, Phái viên bí ẩn của Imam Khuất mặt... Thượng phụ tối cao của Tomar, Thượng phụ tối cao của Kilwinning, Thượng phụ tối cao của Saint-Martin-des-Champs, Thượng phụ tối cao của Marienbad, Thượng phụ tối cao của Okhrana Vô hình, Thượng phụ tối cao của Thạch cung Alamut...”

Thượng phụ của Okhrana Vô hình là Salon, vẫn gương mặt xám xịt, không còn tẩu thuốc trên môi, lúc này chói lọi trong chiếc tunic vàng viền đỏ. Theo sau lão là Pierre, người câu hồn của Eglise Luciferienne, thay vì huy chương Lông Cừu Vàng thì mang trên ngực một con dao vỏ mạ vàng. Trong khi ấy, Bramanti tiếp tục: “Thánh hôn Siêu phàm của Đám cưới Hóa học, Người câu hồn Rodostauric Siêu phàm, Trọng tài Siêu phàm của Những Bí ẩn Bí hiểm Nhất, Mật mã Siêu phàm của Đơn tử Tượng hình, Liên lạc viên Tinh tú Siêu phàm Utriusque Cosmi, Người canh giữ Siêu phàm của Ngôi mộ Rosencreutz... Archơn Vô lượng của Các Dòng điện, Archơn Vô lượng của Trái đất Rỗng, Archơn Vô lượng của Địa cực Huyền bí, Archơn Vô lượng của Các Mê lộ, Archơn Vô lượng của Con lắc trong mọi con lắc...” Bramanti ngừng lại và tôi thấy dường như ông ta thốt lên lời sau đó với chút do dự: “Và Archơn Vô lượng của các Archơn Vô lượng, Người hầu của những Người hầu, Thư ký Khiêm nhường nhất của Oedipus Ai Cập, Sứ giả Thấp nhất của những thủ lĩnh Thế giới và Người gác cổng của Agarttha, Thủ hương cuối cùng của Con lắc, Claude-Louis, bá tước de Saint-Germain, Hoàng tử Rackoczi, bá tước de Saint-Martin, hầu tước di Agliè, Monsieur de Surmont, Mr. Welldone, hầu tước di Monferrato, xứ Aymar, và xứ Belmar, bá tước Soltikoff, Hiệp sĩ Schoening, bá tước vùng Tzarogy!”

Trong khi những chức sắc khác vào chỗ của mình trong hậu đường đối diện với Con lắc còn các tín đồ tụ tập trong sảnh, Agliè tiến vào, nhợt nhạt và u sầu, bận vest sọc màu lơ. Ông ta được nắm tay dẫn đi, như đang dẫn một linh hồn trên con đường của Hades, Lorenza Pellegrini, cũng tái nhợt, mụ mị như bị dùng thuốc; nàng chỉ mặc một chiếc tunic trắng, gần như trong suốt, tóc nàng buông xõa trên hai vờ vai. Tôi thấy nét nghiêng của nàng khi nàng đi qua, trinh khiết và uể oải như một cô ả ngoại tình trong tranh thời tiền Raphael. Quá trong mờ để một lần nữa khuấy lên dục vọng trong tôi.

Agliè dẫn Lorenza tới lò than, gần pho tượng Pascal; ông ta vuốt ve khuôn mặt vô hồn của nàng và ra hiệu cho các Géant d’ Avalon, những người này tới đứng hai bên nàng, đỡ nàng. Rồi ông ta đi tới chỗ bàn, ngồi xuống, quay mặt về phía tín đồ, và tôi có thể thấy ông ta rất rõ khi ông ta rút hộp thuốc lá hít ra khỏi áo vest, lặng lẽ vuốt ve nó trước khi lên tiếng.

“Các sư huynh, các hiệp sĩ. Các bạn ở đây bởi vì trong mấy ngày qua các Phái viên Huyền bí đã thông báo cho các bạn về tin tức kia, và bởi vậy tất cả các bạn đều biết lý do buổi họp này của chúng ta. Chúng ta đáng lẽ nên gặp vào đêm 23 tháng Sáu năm 1945. Một số người trong các bạn khi ấy thậm chí còn chưa chào đời - ít nhất là không phải trong hình dáng hiện tại. Chúng ta ở đây bởi vì sau sáu trăm năm kể từ lỗi lầm đau đớn nhất, chúng ta đã tìm ra một người biết sự thật. Làm sao anh ta biết được - và biết nhiều hơn chúng ta - đấy là một bí ẩn khó chịu. Nhưng tôi tin rằng giữa chúng ta có một người... Bạn không thể không có mặt ở đây, phải không, người bạn bí ẩn từng có lúc quá tò mò?... Ta tin tưởng, như ta đã nói, rằng hiện diện giữa chúng ta đây có một người có thể soi sáng cho vấn đề này. Ardenti!”

Đại tá Ardenti - vâng, là ông ta, tóc vẫn đen như quạ, dù bây giờ lẩy bẩy - rẽ đám đông bước ra trước chỗ dường như bỗng biến thành một phiên tòa, nhưng ông ta bị giữ cách một quãng bởi Con lắc, nó đánh dấu một không gian không thể vượt qua.

“Đã một thời gian rồi ta không gặp nhau, sư huynh.” Agliè đang mỉm cười. “Tôi biết rằng anh không thể nào cưỡng lại được việc tới đây. Thế nào? Anh đã được thông báo những gì mà tù nhân kia nói, và anh ta nói anh ta biết được từ anh. Vậy là anh biết nhưng anh giữ im lặng.”

“Bá tước,” Ardenti nói, “tù nhân kia dối trá. Thật là đáng xấu hổ cho tôi khi phải nói lời này, nhưng danh dự quan trọng hơn hết thảy. Câu chuyện tôi thổ lộ với anh ta không phải là câu chuyện mà Phái viên Huyền bí kể với tôi. Cách diễn giải thông điệp - quả thực, nhiều năm trước, ở Milan tôi đã có được một thông điệp, nhưng tôi không giấu ngài điều đó - cách diễn giải hoàn toàn khác... Tôi không thể đọc nó như người tù kia đã đọc, vậy nên, lúc đó, tôi tìm người giúp đỡ. Và, tôi phải nói rằng, tôi không nhận được sự khuyến khích nào, chỉ có ngờ vực, coi thường, và đe dọa...” Có lẽ ông ta đang định nói nhiều hơn, nhưng trong khi nhìn Agliè, ông ta cũng nhìn Con lắc, nó giờ đang ám ông ta như một lời nguyền. Như thể bị thôi miên, ông ta quỳ sụp xuống và chỉ nói, “Thứ lỗi cho tôi, bởi vì tôi không biết.”

“Anh được tha thứ, bởi vì anh biết rằng anh không biết,” Agliè nói. “Và như vậy, các sư huynh, người tù kia có kiến thức mà không ai trong chúng ta có. Anh ta thậm chí biết chúng ta là ai; trên thực tế, chính thông qua anh ta mà chúng ta biết mình là ai. Chúng ta phải tiếp tục: sự thật sẽ sớm sáng tỏ. Trong khi các anh vẫn còn ở đây trong trầm tư suy tưởng, tôi sẽ rút lui lần nữa, để cố moi lấy mặc khải từ anh ta.”

“A non, monsieur le comte!” Pierre bước vào khu vực đài bán nguyệt, đôi đồng tử nở rộng. “Trong hai ngày ngài đã nói chuyện với hắn, tête-à-tête, và hắn không nhìn gì, không nói gì, không nghe gì, như ba con khỉ nọ. Ngài còn mong hỏi gì nữa vào đêm nay chứ? Không, không. Hãy để việc đó diễn ra ở đây. Ở đây, trước mắt tất cả chúng ta!”

“Bình tĩnh đi, Pierre thân mến. Tôi đã mang tới đây, vào tối nay, người đàn bà mà tôi coi là hiện thân tinh túy nhất của Sophia, mối dây liên hệ thần bí giữa thế giới của sai trái với Bát Thánh*. Đừng hỏi tôi bằng cách nào và tại sao, nhưng với sự hiện diện của nàng, người đàn ông kia sẽ nói. Hãy bảo họ cô là ai, Sophia.”

Theo thần thoại Ai Cập, Ogdoad là tám vị thần được thờ phụng ở Hermopolis trong thời kỳ Cổ Vương quốc. Khái niệm về Ogdoad cũng xuất hiện trong hệ thống Ngộ đạo vào thời sơ khai của Cơ đốc giáo, và sau này được nhà thần học Valentinus phát triển (khoảng năm 160).

Và Lorenza, như một kẻ mộng du, như thể thốt lên mỗi từ đều cần cả một nỗ lực, nói: “Tôi là... vị thánh và con đĩ.”

“A, buồn cười sao,” Pierre nói. “Chúng ta có ở đây crème de l’initiation*, thế mà chúng ta lại gọi một con điếm đến. Không, người đàn ông kia phải được mang đến đây ngay lập tức trước Con lắc!”

Tiếng Pháp: số ưu tú nhất trong những người thụ giáo.

“Chúng ta đừng trẻ con vậy,” Agliè nói. “Cho tôi một giờ. Điều gì khiến anh nghĩ rằng ở đây, trước Con lắc thì anh ta sẽ nói?”

“Anh ta sẽ nói khi bị giết. Le sacrifice humain!” Pierre hét vào giáo đường. Và giáo đường, với một âm trường vang dội, nhắc lại: “Le sacrifice humain!”

Salon bước tới. “Bá tước, sư huynh của chúng ta không trẻ con. Anh ta nói đúng. Chúng ta không phải là cảnh sát...”

“Chính anh mà lại nói thế cơ đấy,” Agliè châm chọc.

“Chúng ta không phải cảnh sát,” Salon nói, “và sẽ không hợp với chúng ta nếu tiến hành bằng những phương pháp tra hỏi thông thường. Mặt khác, tôi cũng không tin rằng những hiến tế cho các lực lượng ngầm sẽ có hiệu quả. Nếu họ muốn cho chúng ta một dấu hiệu, họ đã làm chuyện này từ lâu rồi. Một người khác nữa cũng biết, ngoài người tù kia, nhưng anh ta đã biến mất. Tối nay, chúng ta có khả năng đối chất người tù với những người biết...” Ông ta mỉm cười, nhìn thẳng vào Agliè, đôi mắt nheo lại dưới hàng lông mày rậm. “Và để khiến họ cũng đối chất với chúng ta...”

“Ý anh là gì, Salon?” Agliè hỏi, giọng lộ ra sự do dự.

“Nếu ngài bá tước cho phép, tôi sẽ giải thích,” một người đàn bà nói. Đó là Madame Olcott: tôi nhận ra ả từ tấm áp phích. Tím tái, y phục màu ô liu, tóc ả quết dầu đen, cột lại sau gáy. Giọng khàn như đàn ông. Trong thư viện Sloane tôi đã nhận ra gương mặt này, và giờ thì tôi nhớ rõ: ả là nữ tu Druid đã chạy về phía chúng tôi trong khoảng rừng tối đêm đó ở Piemonte. “Alex, Denys, đưa người tù lại đây.”

Ả ra lệnh với giọng hống hách. Có tiếng lầm bầm trong sảnh tỏ ý tán thành. Hai người khổng lồ tuân mệnh, giao Lorenza cho hai Mignon Quái dị. Bàn tay Agliè nắm chặt lấy hai tay vịn ngai vàng; ông ta đã bị qua mặt.

Madame Olcott ra hiệu cho mấy con quỷ nhỏ của mình, và giữa bức tượng Pascal với chiếc Obeissante, ba chiếc ghế bành được đặt xuống. Ba kẻ được cho ngồi xuống. Chúng da đen, vóc người nhỏ bé, sợ sệt, đôi mắt lớn trắng dã. “Ba anh em Cáo. Ngài rất biết chúng, bá tước. Theo, Leo, Geo, hãy sẵn sàng.”

Lúc ấy những người khổng lồ của Avalon lại xuất hiện, giữ hai bên tay Jacopo Belbo, mặc dù anh ta chỉ cao đến vai họ. Người bạn khốn khổ của tôi xanh nhợt, râu ria mấy ngày không cạo; tay bị trói quặt sau lưng, áo sơ mi mở tung. Bước vào trường đấu mù khói, anh ta chớp mắt. Anh ta có vẻ không ngạc nhiên với hàng ngũ đại tư giáo trước mặt mình; sau vài ngày vừa qua, anh ta có lẽ đã sẵn sàng tinh thần cho mọi chuyện.

Dầu vậy, anh ta vẫn ngạc nhiên khi thấy Con lắc ở vị trí mới. Những người khổng lồ túm người anh ta xoay lại đối diện với ghế Agliè ngồi. Âm thanh duy nhất tôi nghe thấy là tiếng soạt của Con lắc khi nó lướt qua lưng anh ta.

Trong chớp mắt, Belbo quay lại và thấy Lorenza. Xúc động dâng trào, anh ta bật gọi nàng và cố giằng ra. Nhưng Lorenza đang đờ đẫn chăm chăm nhìn Belbo, cơ hồ không nhận ra anh ta.

Từ phía tận cùng gian sảnh, gần quầy bán vé và giá sách, một hồi trống rền vang, và những nốt réo rắt chói óc của vài cây sáo. Đột nhiên, cửa bốn chiếc ô tô bật mở, bốn sinh vật nhô ra. Tôi cũng đã từng thấy chúng trong tấm áp phích về Le Petit Cirque.

Đội mũ nỉ Thổ Nhĩ Kỳ và mặc áo choàng không tay rộng cài cúc tới cổ, Les Derviches Hurleurs bước ra từ những ô tô như xác chết đội mồ dậy, và chúng ngồi xổm ở rìa vòng tròn ma thuật. Phía sau, một cây sáo giờ chơi một khúc nhạc ngọt ngào, và cả bốn nhẹ nhàng đặt bàn tay lên sàn, cúi đầu.

Từ thân chiếc máy bay của Bréguet, Derviche thứ năm nhô ra như một thầy tu báo kinh nhô ra từ một tháp Hồi rồi cất tiếng tụng bằng một thứ tiếng xa lạ, rên rỉ than vãn trong khi tiếng trống lại vang lên, mỗi lúc một dồn dập.

Nấp sau mấy anh em Cáo, Madame Olcott thầm thì khích lệ. Cả ba đang ngồi thụt sâu vào ghế, bàn tay bấu chặt lấy cánh tay, mắt nhắm nghiền. Họ bắt đầu đổ mồ hôi, tất cả cơ trên mặt vẹo vọ.

Madame Olcott nói với hội đồng chức sắc kia. “Các sư huynh nhỏ bé tuyệt vời của tôi giờ sẽ dẫn đến với chúng ta ba người biết chuyện.” Ả ngừng lại, rồi nói: “Edward Kelley, Heinrich Khunrath, và...” Một khoảng lặng khác. “Comte de Saint-Germain.”

Lần đầu tiên tôi thấy Agliè phạm sai lầm. Mất kiểm soát, ông ta bật dậy từ chỗ ngồi, xông về phía ả đàn bà, suýt va phải quỹ đạo của Con lắc, và kêu lên: “Rắn độc, kẻ dối trá, mi biết rằng điều đó là không thể...” Rồi, với các tín đồ: “Đây là lừa đảo! Dối trá! Ngăn mụ ta lại!”

Nhưng không ai động đậy ngoài Pierre, hắn ta bước tới ngồi xuống ngai vàng. “Tiếp tục đi, madame,” hắn nói.

Agliè đã lấy lại dáng vẻ tĩnh tại, đứng sang bên, hòa vào những người khác. “Được lắm,” ông ta thách thức. “Vậy chúng ta hãy xem xem.”

Madame Olcott khoát tay như ra hiệu bắt đầu một cuộc đua. Nhạc trở nên nhức óc, nghịch tai; tiếng trống mất đi nhịp điệu đều đều, các vũ công nãy giờ ngồi xổm đảo người ra trước về sau, sang phải sang trái, giờ đứng dậy ném áo choàng đi và dang rộng tay, cứng ngắc, tựa hồ sắp bay lên. Một khoảnh khắc bất động, rồi thì họ bắt đầu quay tại chỗ, sử dụng chân trái như trục đứng, mặt ngước lên, tập trung, xa vắng, áo tunic xếp nếp tỏa rộng khi họ xoay tròn, khiến họ trông như những bông hoa bị cuốn vào cơn gió lốc.

Trong khi ấy, các thanh đồng, thở nặng nhọc, dường như vặn thắt lại, mặt vặn vẹo, như đang cố rặn ị mà không được. Ánh sáng lò than mờ đi. Các thầy giúp lễ của Madame Olcott tắt những ngọn đèn trên sàn, và giờ nhà thờ chỉ được soi sáng bởi ánh sáng từ gian giữa giáo đường.

Và phép mầu bắt đầu xuất hiện. Từ miệng Cáo Theo một đám bọt trắng nhểu ra, mỗi lúc một đặc hơn. Một chất tương tự trào ra từ miệng các anh em gã.

“Cố lên, các sư huynh,” Madame Olcott lầm bầm dỗ dành, “cố lên, cố lên. Đúng rồi, phải...”

Các vũ công hát hổn hển, đứt đoạn, họ lắc lắc và gật gù đầu, họ gào rú, rồi nấc lên những thanh âm giật cục như tiếng nấc hấp hối.

Thứ mà các thanh đồng nhểu ra kết hình hài, trở nên có chất thể hơn; tựa hồ dung nham đạm huyết tương, từ từ nở rộng và chảy xuống, tràn qua vai họ, ngực họ, chân họ với đường chảy ngoằn ngoèo của loài bò sát. Giờ tôi không dám chắc nó thoát ra từ lỗ chân lông họ hay từ miệng, tai và mắt họ. Đám đông dồn lên phía trước, đẩy nhau mỗi lúc một gần hơn đến các thanh đồng và vũ công. Tôi mất cả sợ hãi: tin tưởng rằng mình sẽ không bị để ý giữa bọn họ, tôi bước ra khỏi bốt gác, chui sâu hơn vào đám khói đang lan tỏa và cuộn tròn dưới mái vòm.

Quanh các thanh đồng, một màn phát quang màu sữa. Lớp bọt từ người họ bắt đầu tách ra, kết thành hình dạng như amip. Từ một đám bọt tràn ra từ một trong những thanh đồng, một đầu mút tách ra, quay lại và leo lên cơ thể gã, như một con vật định tấn công gã với cái mỏ của mình. Ở cuối đám bọt, hai cục bướu di động thành hình, giống như ria của một con ốc sên khổng lồ...

Các vũ công, mắt nhắm nghiền, miệng sủi bọt, không ngừng xoay tròn và họ bắt đầu di chuyển theo đường tròn, hết chừng không gian cho phép, quanh Con lắc, kỳ diệu thay họ thực hiện việc này mà không xen ngang quỹ đạo của nó. Xoay tròn nhanh hơn và nhanh hơn nữa, họ hất đi những chiếc mũ Thổ, để mái tóc đen bung xõa ra và đầu họ dường như đang bay khỏi cổ. Họ gào rú, như những vũ công đêm ấy ở Rio: Houu houu houuuuu...

Những hình thể trắng bắt đầu lộ diện: một trong số đó dần có hình người lờ mờ, một đám khác từ hình dương vật thành hình ống tiêm rồi nồi cất, và đám thứ ba rõ ràng tượng hình một con chim, một con cú với cặp kính lớn và đôi tai dựng đứng, cái mỏ khoằm của một bà giáo già, một giáo viên dạy các môn khoa học tự nhiên.

Madame Olcott hỏi hình thứ nhất: “Kelley, có phải ông không?”

Từ hình hài ấy, một giọng nói vang lên. Rõ ràng không phải Cáo Theo đang nói. Giọng nói vang lên xa xăm, bằng một thứ tiếng Anh rề rà: “Giờ... ta sẽ tiết lộ, một Bí mật vĩ đại nên hãy nghe kỹ đây...”

“Vâng, vâng,” Madame Olcott khẩn thiết.

Giọng nói tiếp tục: “Nơi đây được gọi bằng nhiều tên... Trái đất... Đất là nguyên tố thấp nhất... Khi ngươi xoay Bánh xe này ba lần... thì ta sẽ tiết lộ bí mật vĩ đại...”

Cáo Theo đưa tay phác một cử chỉ bằng tay như thể cầu xin thương hại. “Không, tiếp tục đi,” Madame Olcott nói với hắn. Rồi bà ta nói với hình cú mèo: “Tôi nhận ra người, Khunrath. Người có gì để nói với chúng tôi?”

Cú mèo nói: “Hallelu... ‘aah... Hallelu... ‘aah... Hallelu... ‘aah... Was...”

“Was?”

“Was helfen Fackeln Licht... Oder Briln... so die Leut... nicht sehen... wollen...”

“Chúng tôi muốn,” Madame Olcott nói. “Xin hãy nói cho chúng tôi điều người biết.”

“Symbolon kósmou... tâ ántra... kaì tân enkosmiôn dunámeôn eríthento... oi theológoi...”

Cáo Leo kiệt sức. Giọng cứ yếu dần, đầu Leo gục xuống, nỗ lực cần có để duy trì hình hài kia quá lớn. Nhưng Madame Olcott sắt đá bảo hắn kiên trì và nói với hình dạng cuối cùng, giờ đã mang hình người. “Saint-Germain, Saint-Germain, có phải anh không? Anh biết gì?”

Hình hài bắt đầu ngâm nga một điệu hát. Madame Olcott ra lệnh im lặng. Các nhạc công dừng lại, các vũ công không còn gào rú, nhưng họ tiếp tục quay, mặc dù mỗi lúc một kiệt quệ.

Hình hài vẫn hát: “Gentle love, this hour befriends me...”

“Là anh, em nhận ra anh,” Madame Olcott mời mọc đáp. “Hãy nói, bảo cho chúng em ở đâu, thế nào...”

Hình hài nói: “Il était nuit... La tête couverte du voile de lin.... j’arrive... je trouve un autel defer, j’y place le rameau mystérieux... Oh, je crus descendre dans un abime... des galeries composées de quartiers de pierre noire... mon voyage souterrain..”

“Hắn là đồ giả, đồ giả!” Agliè kêu lên. “Các sư huynh, tất cả các anh đều biết những lời này. Chúng từ Très Sainte Trinosophie, chính tôi đã viết ra; chỉ cần mất sáu mươi phơ-răng là ai cũng có thể đọc nó!” Ông ta chạy tới chỗ Cáo Geo mà lay tay hắn.

“Dừng lại, tên mạo danh nhà mi!” Madame Olcott thét lên. “Mi sẽ giết nó mất!”

“Nếu ta làm vậy thì sao?” Agliè gào lên, kéo thanh đồng kia khỏi ghế.

Geo cố gắng chống đỡ bằng cách bám lấy hình hài hắn đã chiết ra, nhưng nó ngã cùng với hắn và tan ra trên sàn. Geo trượt trên đống nhầy nhụa mà hắn tiếp tục nôn ra cho tới khi hắn cứng đờ, không sự sống.

“Dừng lại, lão điên,” Madame Olcott gào lên, túm lấy Agliè. Rồi ả nói với hai anh em kia: “Hãy trụ vững, các con bé bỏng của ta. Họ vẫn phải nói. Khunrath, Khunrath, nói với lão rằng ông là thật!”

Cáo Leo, để cố sống sót, đang cố thu lại con cú mèo. Madame Olcott đi quanh hắn và ấn ngón tay lên thái dương hắn để lèo lái hắn theo ý ả. Con cú mèo, nhận ra nó sắp biến mất, quay về phía người tạo ra nó: “Phy, Phy Diabolos,” nó lầm bầm, cố mổ vào mắt hắn. Leo ọc lên như vừa bị cắt cổ rồi sụp xuống. Con cú mèo biến mất trong một đống lầy nhầy ghê tởm (“Phiii, phiii,” nó biến đi), và gã thanh đồng cũng nghẹt thở mà ngã vào bãi nhầy rồi nằm thẳng ngay đơ. Madame Olcott điên tiết quay sang Theo, kẻ đang cố hết sức để bám trụ: “Nói đi, Kelley! Ông nghe thấy tôi không?”

Nhưng Kelley không nói. Lão đang cố tách mình ra khỏi gã thanh đồng đang la hét như thể đang bị người ta xé rách ruột gan. Thanh đồng chống cự để thu lại thứ hắn đã tạo ra, chới với cào vào không khí. “Kelley, Kelly không tai, đừng giở trò nữa,” Madame Olcott gào lên. Kelley, không thể tách mình khỏi thanh đồng, đang cố gắng bao phủ lấy hắn, biến thành một loại kẹo cao su mà gã Cáo duy nhất còn lại không tài nào thoát nổi. Rồi, gã cũng sụp xuống, nghẹt thở, vướng vào bãi nhầy ký sinh đang ăn tươi nuốt sống gã; gã lăn lộn và oằn oại như bị trùm trong lửa. Thứ từng là Kelley bao phủ lấy gã như một tấm vải liệm, rồi tan ra, hóa lỏng, rời Theo trên sàn, cái xác ướp khô kiệt, cái xác khô bị moi ruột của một đứa trẻ bị Salon ướp. Cùng thời điểm đó bốn vũ công nhất loạt dừng lại, tay cuồng loạn vung vẩy - những kẻ đang chết chìm, chìm xuống như những hòn đá - rồi cuộn người lại, rên rỉ như lũ chó con và lấy tay ôm đầu.

Agliè đã quay lại hậu đường. Ông ta lau mồ hôi rịn trên trán bằng chiếc khăn tay nhỏ trang điểm cho túi áo ngực, hít thở sâu hai lần và bỏ một viên thuốc trắng vào miệng. Rồi ông ta kêu mọi người im lặng.

“Các sư huynh hiệp sĩ. Các bạn đã thấy những trò lừa đảo rẻ tiền mà người đàn bà này bắt chúng ta xem. Chúng ta hãy lấy lại bình tĩnh và quay lại với đề nghị của tôi. Cho tôi một giờ ở riêng với người tù.”

Madame Olcott đờ đẫn cúi người trên các thanh đồng, hiển nhiên ả đang đau một nỗi đau gần như có tính người. Nhưng Pierre, người nãy giờ theo dõi mọi thứ và vẫn ngồi trên ngai, giành lại quyền điều khiển tình hình. “Không,” hắn ta nói. “Chỉ có một cách duy nhất: le sacrifice humain Đưa người tù tới đây cho tôi.”

Kích động theo năng lượng từ anh ta, những người khổng lồ Avalon tóm lấy Belbo, người nãy giờ đờ ra xem cảnh tượng kia, ném anh ta trước mặt Pierre. Anh này, nhanh nhẹn như một diễn viên nhào lộn, liền nhảy lên, đặt ghế lên bàn, và đẩy cả hai người khổng lồ vào điểm trung tâm của bục ca đoàn. Anh ta túm lấy sợi dây treo Con lắc khi nó đi qua và hãm quả cầu lại, loạng choạng dưới lực giật ngược. Điều đó chỉ diễn ra trong một giây. Như thể đã chuẩn bị từ trước - và có lẽ, trong lúc lộn xộn, người ta đã trao đổi vài dấu hiệu với nhau - những người khổng lồ trèo lên bàn và kéo Belbo xuống ghế. Một người quấn dây treo Con lắc thành hai vòng quanh cổ Belbo, còn người kia giữ quả cầu, đặt nó ở mép bàn.

Bramanti lao tới cái giá treo cổ lâm thời này, áo choàng đỏ tươi vụt lóe lên đường bệ, và cất giọng ngân nga: “Exorcizo igitur te per Pentagrammaton, et in nomine Tetragrammaton, per Alfa et Omega qui sunt in spiritu Azoth. Saddai, Adonai, Jotchavah, Eieazereie! Michael, Gabriel, Raphael, Anael. Fluat Udor per spiritum Eloim! Maneat Terra per Adam Iot-Cavah! Per Samael Zebaoth et in nomine Eloim Gibor, veni Adramelech! Vade retro Lilith!”

Belbo đứng thẳng trên ghế, dây quấn quanh cổ. Những người khổng lồ không còn phải giữ anh ta. Nếu anh ta nhích một bước theo bất cứ hướng nào, anh ta sẽ ngã xuống khỏi chỗ cheo leo lung lay đó, và nút thắt siết lại sẽ giết chết anh ta.

“Lũ ngốc!” Agliè kêu lên. “Giờ làm sao chúng ta đưa nó lại vào trục của mình đây?” Ông ta đang lo lắng cho sự an nguy của Con lắc.

Bramanti mỉm cười. “Đừng lo, bá tước. Chúng ta không trộn màu nhuộm của ngài ở đây. Đây là Con lắc, như là Họ nhận thức nó. Nó sẽ biết phải đi đâu. Và để thuyết phục một Lực vào cuộc, không có gì tốt hơn là hiến tế người sống.”

Cho tới thời điểm đó, Belbo vẫn run rẩy. Nhưng giờ tôi thấy anh ta thả lỏng. Anh ta nhìn vào cử tọa, với sự tự tin thì không phải, mà là với lòng hiếu kỳ. Tôi tin rằng, nghe thấy cuộc tranh cãi giữa hai đối thủ, nhìn thấy trước mặt anh ta những thi thể vặn vẹo của các thanh đồng, những thầy tu Hồi giáo vẫn giật đùng đùng và rên khóc ở mé bên, những bộ lễ phụ nhàu nhĩ của các chức sắc cấp cao, Belbo đã lấy lại năng khiếu đích thực nhất của mình: cảm quan về cái lố bịch.

Tôi tin rằng vào khoảnh khắc ấy anh ta quyết định không cho phép mình sợ hãi nữa. Có lẽ vị trí tít cao trên kia cho anh ta cảm giác bề trên, như thể anh ta đang hạ mắt nhìn, từ bục sân khấu cao, đám đông điên rồ bị hãm trong cừu hận Nhà hát Con Rối* kia, và ở hai bên, kéo gần tới tận lối vào, những con quỷ nhỏ, giờ không hứng thú với màn diễn kia nữa, huých nhau và rúc rích, như Annibale Cantalamessa và Pio Bo.

Le Théâtre du Grand-Guignol là nhà hát ở Paris, mở cửa từ năm 1897 đến 1962, chuyên trình diễn các màn kinh dị.

Anh ta chỉ liếc một con mắt âu lo về phía Lorenza, khi những tên khổng lồ lại túm lấy cánh tay nàng. Bị lay mạnh, nàng đã tỉnh trí. Nàng bật khóc.

Có lẽ Belbo do dự không muốn để nàng chứng kiến cảm xúc của mình, hoặc có lẽ anh ta quyết định rằng đây là cách duy nhất để chứng tỏ sự khinh thường của mình với đám đông kia, nhưng anh ta thẳng người, đầu ngẩng cao, ngực trần, tay bị trói quặt ra sau, như một người đàn ông chưa từng biết sợ.

Tĩnh tâm lại nhờ sự bình thản của Belbo, đành lòng chấp nhận sự can thiệp của Con lắc nhưng vẫn nôn nóng muốn biết bí mật sau một đời (hoặc nhiều đời) tìm kiếm, và cũng để giành lại vị trí chỉ huy trước các tín đồ của mình, Agliè một lần nữa nói với anh ta: “Nào, Belbo, hãy quyết định đi. Như anh có thể thấy, anh đang ở trong một tình huống mà nói nhẹ nhất thì cũng khó coi. Thôi đừng giả bộ nữa.”

Belbo không trả lời. Anh ta nhìn đi chỗ khác như thể lịch sự tránh nghe một cuộc đối thoại vô tình lọt vào tai.

Agliè vẫn kiên trì với vẻ hòa giải và bộ dáng của người cha: “Tôi hiểu sự khó chịu của anh, sự dè dặt của anh. Hẳn anh thấy căm ghét làm sao khi phải tâm tình một bí mật riêng tư và quý giá với một đám hỗn tạp vừa trình ra một cảnh tượng mông muội đến như vậy! Được thôi, anh có thể trao gửi bí mật của anh với một mình tôi, thì thầm vào tai tôi. Giờ tôi sẽ đưa anh xuống, và tôi biết anh sẽ nói với tôi một từ, chỉ một từ thôi.”

Belbo đáp: “Ông nghĩ vậy sao?”

Rồi Agliè đổi giọng. Tôi chưa từng thấy ông ta hống hách như thế, ra dáng thầy tu như thế. Ông ta nói như thể đang mang trên bộ áo lễ Ai Cập mà các đồng sự mặc. Nhưng giọng điệu thì không đúng; ông ta dường như đang nhại lại lời của những người mà ông ta đã luôn đối xử với sự thương hại khoan dung. Đồng thời, ông ta nói với đầy đủ vẻ ngạo mạn thuộc thẩm quyền của mình. Vì một mục đích cá nhân nào đó - bởi vì điều này không thể nào là vô tình - ông ta đang trưng ra một yếu tố của kịch mêlô. Nếu ông ta đang diễn thì ông ta diễn khá: Belbo dường như không nhận ra trò lừa gạt, lắng nghe Agliè như thể không trông chờ gì khác ở ông ta.

“Giờ anh sẽ nói,” Agliè tuyên bố. “Anh sẽ nói và anh sẽ tham gia vào trò chơi vĩ đại này. Nếu anh vẫn im lặng, anh tiêu rồi. Nếu anh nói, anh sẽ được chia phần chiến thắng. Bởi thực sự tôi xin nói điều này với anh: đêm nay anh và tôi và tất cả chúng ta đang ở trong Hod, Sefirah của huy hoàng, đế vương, và vinh quang; Hod, thứ thống trị phép huyền diệu của nghi thức và tế lễ; Hod, khoảnh khắc khi tấm rèm vĩnh cửu kéo lên. Tôi đã mơ về giây phút này suốt hàng thế kỷ. Anh sẽ nói, và anh sẽ gia nhập vào hàng ngũ những người duy nhất, sau tiết lộ của anh, sẽ có được tư cách để tuyên bố mình là thủ lĩnh Thế giới. Hãy hạ mình, và anh sẽ được tôn lên. Anh sẽ nói bởi vì tôi ra lệnh cho anh nói, và lời của tôi efficiunt quod figurant!*”

Tiếng Latin: hiện thực hóa điều nó biểu thị.

Và Belbo, giờ bất khả chiến bại, đáp, “Ma gavte la nata...”

Agliè, dù có đang nghĩ sẽ nghe một lời từ chối, cũng tái mặt vì lời lăng mạ.

“Hắn nói gì?” Pierre cuồng loạn hỏi.

“Anh ta sẽ không nói,” Agliè dịch đại khái. Ông ta đưa hai tay lên tỏ ý đầu hàng, tuân phục, và nói với Bramanti: “Anh ta là của ông.”

Và Pierre vui như điên gào lên: “Assez, assez, le sacrifice humain, le sacrifice humain!”

“Phải, hãy để anh ta chết. Đằng nào chúng ta cũng sẽ tìm thấy lời đáp,” Madame Olcott kêu lên, không kém phần xúc động, giờ ả đã trở lại với màn kịch, lao về phía Belbo.

Cùng lúc, Lorenza cử động. Nàng thoát khỏi tay những tên khổng lồ và ra đứng trước Belbo, ở chân giá treo cổ, hai tay nàng dang rộng, như thể để dừng lại một đội quân xâm lược. Mắt đẫm lệ, nàng thốt lên: “Các người điên hết rồi sao? Các người không thể làm thế này!”

Agliè đang rút lui liền đứng chết trân tại chỗ trong một khắc rồi chạy lại ngăn nàng.

Chuyện xảy ra sau đó chỉ diễn ra trong vài giây. Búi tóc của Madame Olcott tuột ra, thuần một nỗi hiềm thù bừng lửa, như một Medusa, ả giơ móng vuốt, cào rách mặt Agliè, xô ông ta sang bên với sức mạnh của đà lao tới. Agliè ngã ra sau, vấp phải một chân lò than, quay tròn như một thầy tu Hồi giáo và đập đầu vào một cỗ máy; ông ta khuỵu xuống đất, mặt đầy máu. Pierre trong lúc đó lao vào Lorenza, đồng thời rút con dao trên ngực ra khỏi vỏ, nhưng hắn chắn tầm nhìn của tôi, nên tôi không thấy chuyện gì xảy ra. Rồi tôi thấy Lorenza sụm xuống dưới chân Belbo, mặt nàng trắng bệch như sáp, và Pierre giơ lưỡi dao đỏ chói lên, hét: “En fin, le sacrifice humain!” Quay về phía đám đông, hắn nói to: “I’a Cthulhu! I’a S’ha-t’n!”

Nhất loạt, đám đông trong lòng nhà thờ tiến về phía trước, một số ngã và một số bị quét sang bên; những người khác, xô đẩy, khiến chiếc ô tô Cugnot muốn lật ngửa. Tôi nghe thấy - chắc hẳn tôi đã nghe thấy, tôi không thể tưởng tượng ra một chi tiết lố bịch như thế - giọng của Garamond đang nói: “Các ông ơi, làm ơn! Tư thái, tác phong!...” Bramanti, trong cơn cuồng, đang quỳ bên thi thể Lorenza, ngâm ngợi: “Asar, Asar! Ai đang siết chặt cổ họng tôi? Ai đang ghìm tôi xuống đất? Ai đang đâm xuyên trái tim tôi? Tôi đâu xứng bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà của Maat!”

Có lẽ không ai định trước chuyện này, có lẽ sự hy sinh của Lorenza là đã đủ, nhưng những người giúp lễ giờ đang chen chúc trong vòng tròn ma thuật, do Con lắc đang bất động nên lúc này có thể vào được, và ai đó - tôi nghĩ là Ardenti - bị những kẻ khác ném mạnh vào bàn, cái bàn đã biến mất hầu như đúng nghĩa đen dưới đôi chân Belbo. Nó trượt đi, và cũng nhờ cú đẩy kia, Con lắc bắt đầu một đường lăng hối hả, dữ dội, kéo nạn nhân theo cùng. Dây treo, bị kéo căng bởi sức nặng của quả cầu, siết chặt quanh cổ người bạn khốn khổ của tôi, giật mạnh anh vào không trung, anh bay lên và cùng với Con lắc lăng về phía cực Đông của bục kinh sĩ, rồi quay lại, tôi hy vọng là giờ anh không còn sự sống, về hướng của tôi.

Giẫm đạp lên nhau, đám đông rụt lại, lùi về mép đường bán nguyệt, nhường không gian cho kỳ tích kia. Người giữ nhiệm vụ duy trì dao động, mê mẩn bởi sự hồi sinh của Con lắc, cung cấp lực đẩy thẳng vào thân thể người đàn ông đang bị treo lơ lửng. Trục chuyển động vẽ một đường chéo từ mắt tôi tới một trong những cửa sổ, không nghi ngờ gì chính là cửa sổ có cái điểm không màu mà xuyên qua nó trong một vài giờ đồng hồ nữa tia sáng đầu tiên của mặt trời đang lên sẽ rọi xuống. Bởi vậy, tôi không thấy Belbo lăng trước mặt tôi, nhưng tôi tin đây chính là đường chuyển động mà anh vẽ ra trong không gian...

Đầu anh ta cơ hồ là một quả cầu thứ Hai, kẹt trong cái thòng lọng của dây treo kéo thẳng từ trung tâm của chốt đỉnh vòm; và khi quả cầu kim loại nghiêng về bên phải, đầu Belbo nghiêng về bên trái, và ngược lại. Trong hầu hết đường lăng dài, hai quả cầu có khuynh hướng nằm ngược chiều nhau, mỗi quả cầu ở một bên sợi dây, vậy nên thứ rẽ không khí không còn là một đường duy nhất, mà là một loại cấu trúc tam giác. Và, trong khi đầu Belbo theo lực kéo của sợi dây, cơ thể anh ta - ban đầu trong những co giật cuối cùng, rồi thì với vận động lanh lẹ không khớp nối của một con rối gỗ, tay đây, chân đó - vẽ những hình cung khác trong không trung, những hình cung độc lập với cái đầu, sợi dây và quả cầu bên dưới. Tôi đã nghĩ rằng nếu ai đó định chụp khung cảnh này bằng hệ thống của Muybridge - cố định trên đĩa mỗi thời khắc như một chuỗi liên tiếp của các vị trí, ghi lại hai điểm cực mà cái đầu lăng tới ở mỗi chu kỳ, hai điểm dừng của quả cầu, những điểm giao nhau của dây theo thời gian, độc lập với cả cái đầu lẫn quả cầu, và những điểm trung gian được đánh dấu bởi mặt phẳng dao động của thân và chân - thì Belbo treo từ Con lắc hẳn sẽ vẽ nên, trong không gian, cây Sefirot, tổng hợp trong khoảnh khắc cuối cùng của mình những dao động của tất cả các vũ trụ, vĩnh viễn cố định trong chuyển động của anh ta mười giai đoạn của hơi thở trần tục và sự thanh lọc của cái thánh thiêng trên thế gian.

Rồi, khi gã Mandrake mặc áo đuôi tôm tiếp tục cấp lực cho dao động chết chóc kia, thân thể Belbo, thông qua một sự bổ sung và hủy diệt ghê tởm các vectơ, một sự di chuyển của các năng lượng, đột nhiên trở nên bất động, còn sợi dây và quả cầu chuyển động, nhưng chỉ từ xác anh ta trở xuống; phần còn lại - thứ nối Belbo với đỉnh vòm - giờ thẳng đứng. Vậy là Belbo đã thoát khỏi sai lầm của thế giới và chuyển động của nó, chính bản thân anh ta giờ đã trở thành điểm đứng yên, Cái Đinh Bất Dịch, nơi treo mái vòm của thế giới, trong khi dưới chân anh ta sợi dây và quả cầu tiếp tục lăng, từ đầu mút này sang đầu mút kia, không ngơi nghỉ, trái đất trượt đi bên dưới chúng, luôn bày ra một lục địa mới. Quả cầu không thể chỉ ra, mà cũng chưa từng biết, địa điểm Cái rốn của Thế giới.

Khi đám Quỷ giả, bị choáng váng trong giây lát trước điềm gở này, lại bắt đầu tru tréo, tôi tự nhủ rằng chuyện đã đến hồi kết thúc. Nếu Hod là Sefirah của vinh quang, Belbo đã có vinh quang. Một hành động không sợ hãi duy nhất đã hòa hợp anh ta với cái Tuyệt đối.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.