Thời Trung cổ đợi người anh hùng của Chén thánh và mong chờ rằng người đứng đầu Đế quốc La Mã Thần thánh sẽ trở thành hình ảnh và hiện thân của đức “Vua của Thế giới” ấy... Vị Hoàng đế vô hình sẽ trở thành Hoàng đế hữu hình, và thời Trung cổ sẽ là “trung” trong nghĩa “trung tâm”... Cái trung tâm vô hình, bất khả xâm phạm, đấng quốc chủ buộc phải thức dậy kia, vẫn người anh hùng ấy, người báo thù và khôi phục. Những điều này không phải cơn huyễn mộng về một quá khứ lãng mạn đã chết mà đúng hơn là chân lý giản đơn với những người mà ngày nay duy chỉ mình họ có thể chính đáng bảo mình đang sống.
− Julius Evola, II mistero del Graal, Roma, Edizioni Mediterranee,
1983, Chương 23 và lời kết
“Ý bác là Chén thánh cũng dính vào chuyện này?” Belbo hỏi.
“Đương nhiên. Và tôi không phải người duy nhất nói vậy. Các anh là người có học thức, tôi không cần phải kể cho các anh nghe huyền thoại về Chén thánh nữa. Các Hiệp sĩ Bàn Tròn, cuộc truy tìm vật thiêng này, vật mà một số người tin rằng là chiếc chén có đựng máu của Chúa Jesus. Chén thánh mà Joseph xứ Arimathea đưa sang Pháp. Những người khác nói nó là một hòn đá có chứa quyền năng huyền bí. Chén thánh thường được miêu tả như một nguồn sáng chói mắt. Nó là một biểu tượng đại diện cho quyền lực, một nguồn năng lượng khổng lồ. Nó truyền sinh lực, nó chữa lành vết thương, gây mù mắt, giáng đòn hủy diệt... Một số người nghĩ về nó như về hòn đá triết gia* của các nhà giả kim, nhưng ngay cả như vậy thì hòn đá triết gia là gì nếu không phải là một biểu tượng về nguồn năng lượng vũ trụ nào đó? Tài liệu về đề tài này nhiều không kể xiết nhưng các anh có thể dễ dàng nhận ra những đặc điểm không thể bác bỏ. Trong cuốn Parzival của Wolfram von Eschenbach, Chén thánh được lưu giữ trong một pháo đài của dòng Đền! Liệu Eschenbach có phải là một người đã được thụ giáo? Một kẻ viết lách dại dột đã tiết lộ quá nhiều? Nhưng chưa hết. Chén thánh do các hiệp sĩ dòng Đền canh giữ này được miêu tả như một hòn đá rơi từ thiên đường xuống: lapis exillis. Không rõ từ đó có nghĩa là ‘hòn đá từ thiên đường’ (‘ex coelis’) hay ‘hòn đá từ kẻ lưu đày’. Nhưng trong trường hợp nào đi nữa thì nó cũng là thứ từ xa tới, và một số người đề xuất rằng nó có thể là một thiên thạch. Tuy nhiên, trong khả năng hiểu biết của chúng ta, nó chắc chắn phải là một hòn đá. Dù Chén thánh có là gì đi chăng nữa, với các hiệp sĩ dòng Đền, nó là biểu tượng của mục tiêu hoặc điểm kết của kế hoạch.”
Một vật chất trong truyền thuyết giả kim thuật, được cho là có khả năng biến các kim loại nền như chì thành vàng hoặc bạc. Đôi khi nó cũng được coi là thuốc luyện đan của sự sống, có khả năng cải lão hoàn đồng và đem lại trường sinh bất tử. Trong nhiều thế kỷ, đây là mục tiêu được săn lùng số một của giả kim thuật. Những nỗ lực đề khám phá ra hòn đá triết gia được biết đến với tên Magnum Opus (Đại công trình).
“Xin lỗi,” tôi nói, “nhưng mật thư nói rằng cuộc gặp gỡ thứ sáu của các hiệp sĩ sẽ diễn ra gần hoặc trên một hòn đá. Nó không bảo họ đi tìm hòn đá.”
“Một sự nhập nhằng tinh tế khác, một sự tương đồng huyền bí tỏa rạng khác! Phải, quả đúng như vậy: cuộc gặp gỡ thứ sáu sẽ được tổ chức gần một hòn đá, và chúng ta sẽ sớm thấy là ở đâu; nhưng ở hòn đá đó, nơi mà việc chuyển giao kế hoạch được thực hiện và dấu niêm phong thứ sáu được mở ra, các hiệp sĩ sẽ biết nơi tìm thấy Hòn đá! Chuyện này giống như trò chơi chữ trong Tân ước: anh là Phêrô và trên tảng đá này... Trên tảng đá anh sẽ tìm thấy Tảng Đá.”
“Điều ấy rõ quá rồi,” Belbo nói. “Xin bác cứ nói tiếp đi, Casaubon, đừng xen vào nữa. Tất cả chúng ta đang hào hứng muốn nghe phần còn lại.”
“Ồ vâng,” đại tá tiếp lời, “sự liên quan của Chén thánh khiến trong một thời gian dài tôi nghĩ rằng kho báu là một mỏ vật chất phóng xạ lớn, có lẽ có nguồn gốc ngoài Trái đất. Chẳng hạn hãy xem xét vết thương bí ẩn trong truyền thuyết về vua Amfortas. Ghi chép mô tả ông ta giống như một bác sĩ chụp X-quang bị phơi nhiễm ở mức độ nguy hiểm. Không được chạm vào ông ấy. Tại sao? Hãy tưởng tượng các dòng Đền đã phấn khích thế nào khi họ tới bờ Biển Chết, nơi mà nước biển, như quý vị đây chắc chắn đã biết, đặc đến nỗi nằm trên đó anh sẽ nổi như một cái nút bần. Đây là vùng biển có những khả năng trị bệnh. Họ có thể đã khám phá ra một mỏ radium hoặc uranium ở Palestine nhưng không tiện khai khẩn vào thời gian và địa điểm đó.
“Mối liên hệ giữa Chén thánh, các hiệp sĩ dòng Đền và phái Cathar được một sĩ quan Đức gan dạ nghiên cứu một cách khoa học. Tôi đang nhắc tới Otto Rahn, một Obersturmbannführer SS, người đã hiến dâng cả cuộc đời cho việc nghiên cứu nghiêm cẩn, đầy tính học thuật về bản chất Âu châu và Aryan của Chén thánh. Tôi sẽ không đi vào việc ông ấy đã mất mạng vì sao và như thế nào vào năm 1939, nhưng có một số người khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng... Ồ, làm sao tôi có thể quên chuyện gì đã xảy ra với Ingolf? Dù thế nào thì Rahn cũng đã chứng minh rằng có một mối liên hệ giữa Bộ Lông Cừu Vàng của những người anh hùng Argonaut và Chén thánh. Hiển nhiên rằng có một mối liên hệ giữa Chén thánh, hòn đá triết gia và nguồn sức mạnh khổng lồ mà quân của Hitler tìm kiếm vào đêm trước chiến tranh và vẫn theo đuổi cho tới hơi thở cuối cùng. Trong một dị bản của truyền thuyết về những người anh hùng Argonaut, hãy nhớ rằng họ thấy một chiếc cốc - một chiếc cốc, xin nhắc cho các anh nhớ - bồng bềnh phía trên Đỉnh núi của Thế giới cùng với Cây Ánh sáng. Khi những chàng thủy thủ Argonaut tìm ra Bộ Lông Cừu vàng, tàu của họ được phép thần nâng lên sông Ngân, trên bầu trời phương Nam, nơi mà bản chất tỏa sáng của Thiên Chúa bất diệt được khải thị bằng chòm Thập tự Phương Nam, Tam giác và Bàn thờ. Hình tam giác biểu trưng cho Chúa ba ngôi, cây thập tự cho Sự hy sinh thiêng liêng của tình yêu, và bàn thờ cho Bàn Tiệc Ly mà trên đó ngự Chén Phục sinh. Nguồn gốc Celt và Aryan của tất cả những biểu tượng này rất rõ ràng.”
Viên đại tá dường như bị cuốn vào cùng một cơn khoái cảm anh hùng đã đẩy viên Obersturmunddrang - hay là gọi thế quái nào ấy nhỉ, cái gã người Đức đó - của ông ta tới sự hy sinh cao nhất. Phải có ai đó kéo ông ta xuống mặt đất.
“Tất cả những chuyện này dẫn tới đâu ạ?” tôi hỏi.
“Signor Casaubon, anh không thể tự mình thấy sao? Chén thánh từng được gọi là Hòn đá của Quỷ Satan, gọi ta tới nhân vật Baphomet. Chén thánh là một nguồn sức mạnh, các hiệp sĩ dòng Đền là những người canh giữ một bí mật năng lượng, và họ vạch ra kế hoạch của mình dựa vào điều ấy. Những trang ấp không ai biết còn có thể được lập ra ở đâu nữa? Ở đâu, thưa quý ngài?” Và viên đại tá nhìn chúng tôi với vẻ đồng lõa cứ như tất cả chúng tôi đều nằm trong kế hoạch này. “Tôi có một dấu vết để lần theo, còn thiếu sót nhưng hữu dụng. Vào năm 1797, Charles Louis Cadet de Gassicourt, một tác giả hẳn đã hóng được vài bí mật nào đó, viết một cuốn sách có tựa đề Le tombeau de Jacques Malay ou le secret des conspirateurs à ceux qui veulent tout savoir. Ngẫu nhiên thú vị là công trình của ông ta có mặt trong thư viện nhỏ của Ingolf. Ông ta quả quyết rằng Molay trước khi chết đã lập ra bốn hội điểm bí mật: ở Paris, Scotland, Stockholm và Naples. Bốn hội điểm này nhằm mục tiêu loại bỏ toàn bộ các quân vương và tiêu diệt quyền lực của Giáo hoàng. Gassicourt là một kẻ điên, tất nhiên, nhưng tôi sử dụng ý tưởng của ông ta làm điểm xuất phát để từ đó xác định xem các hiệp sĩ dòng Đền sẽ đặt những trung tâm bí mật của mình tại đâu. Nếu tôi không có ý tưởng dẫn đường nào đó thì hẳn tôi đã không thể nào hiểu được bí ẩn của bức mật thư. Nhưng tôi có một ý tưởng như vậy. Đó là niềm tin chắc chắn của tôi dựa trên chứng cứ phong phú rằng tinh thần của hiệp sĩ dòng Đền có nguồn gốc Celt, Druid; đó là tinh thần của Arianism* Bắc Âu, có gắn bó truyền thống với hòn đảo Avalon nơi nền văn minh huyền thoại của miền viễn Bắc ngự trị. Như các anh chắc chắn phải biết, nhiều tác giả khác nhau đã xác định Avalon là Khu vườn của những tiên nữ Hesperides hay là Ultima Thule hay là Colchis của Bộ Lông Cừu Vàng. Khó mà ngẫu nhiên rằng dòng hiệp sĩ hùng mạnh nhất trong lịch sử là Toison d’Or, Dòng hiệp sĩ Bộ Lông Cừu Vàng. Điều ấy chỉ ra rõ ràng rằng từ ‘lâu đài’ trong mật thư kia thực sự có nghĩa: nó nhắc tới người miền cực Bắc, lâu đài ở cực Bắc, nơi mà các hiệp sĩ dòng Đền đặt Chén thánh, có lẽ là núi Monsalvat bí ẩn.”
Arianism là thuyết do Arius (250-336) đưa ra, chối bỏ quan hệ giữa Chúa Cha và Chúa Con, bác bỏ thiên tính của Chúa Jesus. Arius cho rằng Chúa Con chỉ là một thực thể phụ thuộc vào Chúa Cha.
Ông ta ngừng lời, muốn chúng tôi bám lấy từng chữ của mình. Chúng tôi đã bám.
“Giờ ta hãy quay lại với mệnh lệnh thứ Hai trong mật thư: Những người gác mật thư sẽ tới một nơi gắn với bánh mì. Chỉ dẫn này hoàn toàn rõ ràng: Chén thánh là chiếc chén có chứa máu của Chúa Jesus bánh mì là cơ thể của Chúa Jesus, nơi bánh mì được ăn là địa điểm Bữa tiệc ly, Jerusalem. Có vẻ như không thể nào các hiệp sĩ dòng Đền lại không duy trì một căn cứ bí mật tại đó, kể cả sau khi người Hồi chiếm lại nó. Tôi phải thừa nhận rằng ban đầu tôi gặp rắc rối với yếu tố Do Thái này trong một kế hoạch thấm quá đẫm thần thoại Aryan. Nhưng rồi tôi nhận ra: chính chúng ta mới là những người tiếp tục coi Jesus bắt nguồn từ tôn giáo của người Do Thái, bởi vì đó là điều Giáo hội La Mã luôn dạy chúng ta. Nhưng các hiệp sĩ dòng Đền biết rằng Jesus thực ra là một thần thoại Celt. Toàn bộ câu chuyện phúc âm là một phúng dụ kín đáo: phục sinh sau khi tan rã trong lòng đất, tất cả sự ấy. Jesus đơn giản là thuốc luyện đan của các nhà giả kim. Cũng vậy, mọi người đều biết rằng Chúa ba ngôi dù sao cũng là một khái niệm Aryan, và đó là lý do khiến cho toàn bộ luật lệ của các hiệp sĩ dòng Đền, do thánh Bernard cũng là một giáo sĩ Druid vạch ra, đầy rẫy những số 3.”
Viên đại tá nhấp một ngụm nước nữa. Ông ta đã khản cổ. “Và giờ chúng ta tới phần thứ ba: nơi trú ẩn. Đó là Tây Tạng.”
“Sao lại là Tây Tạng?”
“Bởi vì, ban đầu, Eschenbach kể cho chúng ta các hiệp sĩ dòng Đền rời châu Âu và đưa Chén thánh tới Ấn Độ. Cái nôi của tộc Aryan. Nơi ẩn náu là Agarttha. Các anh đây hẳn phải từng nghe nói về Agarttha, nơi ngự trị của Vua Thế giới, thành phố dưới lòng đất mà từ đó các thủ lĩnh Thế giới giám sát và điều khiển sự phát triển của lịch sử nhân loại. Các hiệp sĩ dòng Đền thiết lập một trong những trung tâm bí mật của mình ở đó, ở ngay chính nguồn cội tâm linh của họ. Các anh hẳn phải rõ về mối liên hệ giữa đế chế Agarttha và Đồng trị...”
“Nói thật là không.”
“Thế lại hay. Có những bí mật gây chết người. Nhưng chúng ta đừng lạc đề. Dẫu sao các anh biết rằng Agarttha được lập ra sáu nghìn năm trước, vào khởi thủy của chu kỳ Kali Yuga*, hiện chúng ta vẫn đang sống trong chu kỳ ấy đây. Nhiệm vụ của các dòng hiệp sĩ là luôn duy trì liên lạc với Agarttha, mối liên kết tích cực giữa sự trí tuệ phương Đông và trí tuệ phương Tây. Và giờ thì địa điểm diễn ra cuộc gặp gỡ thứ Tư đã rõ, trong một thánh đường Druid khác, tại một thành phố của Đức Mẹ Đồng Trinh: nhà thờ Chartres. Từ Provins, Chartres nằm bên kia con sông chính của lie de France, sông Seine.”
Theo kinh điển của Ấn Độ, một vũ trụ trong quá trình hình thành, tồn tại và hủy diệt phải trải qua 4 chu kỳ: Satya Yuga (Cực thịnh - Vàng), Treta Yuga (Thịnh - Bạc), Dvapara Yuga (Suy tàn - Đồng), Kali Yuga (Suy đồi và tan rã - Sắt).
Chúng tôi hoàn toàn mất phương hướng. “Đợi một chút,” tôi lên tiếng. “Chartres thì có liên quan gì tới Celt và Druid của bác ạ?”
“Thế anh nghĩ ý tưởng về Đức Mẹ Đồng Trinh từ đâu tới? Những trinh nữ đầu tiên được nhắc tới ở châu Âu là những trinh nữ đen của người Celt. Có lần, khi còn trai trẻ, thánh Bernard ở nhà thờ Saint Voirles, quỳ trước trinh nữ đen ở đó, và nàng vắt từ bầu ngực mình ba giọt sữa, những giọt sữa ấy rơi xuống môi của người sáng lập tương lai của dòng Đền. Đó là lý do vì sao những truyền thuyết về Chén thánh lại được dựng lên: để tạo ra một tấm màn che đậy cho các cuộc Thập tự chinh mà mục đích là để kiếm tìm Chén thánh. Các tu sĩ dòng Biển Đức là những người thừa kế của các giáo sĩ Druid. Ai cũng biết như vậy.”
“Vậy thì những trinh nữ đen kia giờ ở đâu?”
“Họ bị hủy diệt bởi những thế lực muốn làm suy đồi các tín ngưỡng Bắc Âu, Celt và biến chúng thành một tôn giáo Địa Trung Hải bằng cách sáng tạo ra huyền thoại về Mary xứ Nazareth. Hoặc những trinh nữ đó bị trá hình, bóp méo, giống như hàng bao nhiêu Đức Mẹ đen vẫn còn được bày ra trước sự cuồng tín của đám đông. Nhưng nếu anh nghiên cứu hình ảnh của các nhà thờ kỹ lưỡng như Fulcalnelli vĩ đại đã làm, anh sẽ phát hiện ra rằng câu chuyện này được kể rất rõ ràng, và các ràng buộc giữa những trinh nữ Celt với truyền thống giả kim thuật, là dòng Đền nguyên thủy, cũng không kém phần hiển nhiên. Các trinh nữ đen tượng trưng cho vật chất khởi nguyên mà những kẻ kiếm tìm mượn tới trong cuộc truy lùng hòn đá triết gia, thứ mà, như chúng ta đã thấy, đơn giản là Chén thánh. Anh nghĩ Mahomet, một giáo đồ Druid vĩ đại khác, lấy nguồn cảm hứng từ đâu cho Phiến đá Đen ở thánh địa Mecca? Có kẻ nào đó đã xây bít hầm mộ ở Chartres dẫn tới địa điểm dưới lòng đất nơi có pho tượng dị giáo gốc, nhưng nếu anh cẩn thận quan sát, anh vẫn có thể nhận ra một trinh nữ đen, Notre-Dame-du-Pilier, do một tu sĩ thờ thần Odin khắc. Tay phải nàng cầm ống trụ thần của những nữ tư tế đền thờ thần Odin, tay trái nàng cầm cuốn lịch ma thuật đã từng mô tả - tôi nói là ‘từng’ bởi vì những công trình điêu khắc này rủi thay đã bị các thầy tu Chính thống giáo cố ý phá hoại - những con vật thiêng của đạo thờ các vị thần Bắc Âu: chó, đại bàng, sư tử, gấu trắng và người sói. Đồng thời, không học giả nào về bí truyền Gothic từng xem kỹ trong Chartres pho tượng một phụ nữ cầm một chiếc cốc, Chén thánh. Chà, các anh ạ, giá như có thể không chỉ đọc về nhà thờ Chartres theo những tài liệu du lịch - La Mã, Công giáo và tông đồ - mà còn nhìn thấu nó, thực sự nhìn thấu nó, bằng đôi mắt của Truyền thống! Khi ấy câu chuyện thực mà tảng đá của Erec ở Avalon kia kể lại sẽ được biết tới.”
“Điều đó đưa chúng ta đến với các Popelican. Họ là ai?”
“Phái Cathar. ‘Popelican’ hay ‘Popelicant’ là một trong những cái tên được đặt cho những người theo dị giáo. Phái Cathar ở Provence đã bị tiêu diệt và tôi không ngây thơ đến độ tưởng tượng ra một cuộc gặp gỡ trong những phế tích của Montségur, nhưng bản thân phái này không chết. Có cả một môn địa lý về giáo phái Cathar ngầm, thứ đã tạo ra Dante cũng như những nhà thơ Dolce Stil Nuovo và phái Fedeli d’Amore. Điểm gặp gỡ thứ năm bởi vậy sẽ ở đâu đó thuộc miền Bắc nước Ý hoặc miền Nam nước Pháp.”
“Và điểm cuối cùng?”
“À, đâu là hòn đá cổ xưa nhất, linh thiêng nhất, bền bỉ nhất trong những hòn đá Celt, điện thờ thần mặt trời, điểm quan sát được mến chuộng nhất mà từ đó hậu duệ của các hiệp sĩ dòng Đền Provins, nay đã tái hợp lại và đến được điểm kết trong kế hoạch, cuối cùng cũng có thể xem những bí mật vẫn được giấu kín tới tận khi ấy bởi sáu dấu niêm phong và rốt cuộc khám phá ra cách thức khai khẩn sức mạnh khổng lồ mà việc sở hữu Chén thánh mang lại cho họ? Ồ, nó nằm ở Anh quốc! Vòng tròn mầu nhiệm Stonehenge! Còn có thể là nơi nào nữa?”
“O basta là,” Belbo nói. Chỉ một đứa con Piemonte khác mới có thể hiểu được tinh thần câu cảm thán lịch thiệp này. Không một cụm tương đương trong bất kỳ ngôn ngữ hay tiếng địa phương nào khác (dis done, are you kidding?) có thể lột tả hết sự vô cảm, sự chắc như đinh đóng cột của cách diễn đạt này về niềm tin vững chắc rằng người mà nó đang nói tới, không thuốc nào chữa được, là sản phẩm của một hóa công vụng về.
Nhưng viên đại tá đâu phải là dân Piemonte, nên ông ta dường như phổng lỗ mũi lên trước phản ứng của Belbo.
“Vâng, quả thực. Kế hoạch là vậy, đơn giản và chặt chẽ phi thường. Và chưa hết đâu. Nếu anh lấy bản đồ Á Âu rồi lần theo sự phát triển của kế hoạch khởi đầu từ pháo đài ở miền Bắc và kéo từ đó tới Jerusalem, từ Jerusalem tới Agarttha, từ Agarttha tới Chartres, từ Chartres tới bờ biển Địa Trung Hải, rồi tới Stonehenge, anh sẽ phát hiện ra rằng anh vừa vẽ ra một chữ Rune không ít thì nhiều giống như thế này.”

“Rồi sao?” Belbo hỏi.
Rồi thì cũng chữ Rune đó, một cách lý tưởng, sẽ nối những trung tâm chính của bí thuật hiệp sĩ dòng Đền: Amiens, Troyes - lãnh thổ của thánh Bernard bên rìa Rừng Đông phương - Reims, Chartres, RennesleChâteau và Mont SaintMichel, một nơi thờ phụng của đạo Druid cổ xưa. Chữ Rune đó cũng gọi nhắc tới chòm sao Xử Nữ.”
“Tôi chỉ là dân a ma tơ trong thiên văn học,” Diotallevi xấu hổ nói. “Nhưng chòm Xử Nữ hình dạng khác chứ nhỉ, và tôi tin rằng nó gồm mười một ngôi sao...”
Viên đại tá nở nụ cười khoan dung. “Ôi chư vị, ôi chư vị, các anh cũng rõ như tôi rằng mọi thứ là tùy theo anh nối các đường theo cách nào. Anh có thể tạo thành một cái xe kéo hay một con gấu, bất cứ thứ gì anh muốn, và khó mà quyết định xem liệu một ngôi sao cho trước có phải là một phần của một chòm sao cho trước hay không. Hãy nhìn lại chòm Xử Nữ theo cách khác, lấy ngôi Spica thành điểm thấp nhất tương ứng với bờ biển Provençal, dùng chỉ năm ngôi sao, rồi anh sẽ thấy một sự tương đồng rõ rệt giữa hai hình.”
“Ta phải quyết định xem bỏ qua những ngôi sao nào,” Belbo nói.
“Chính xác,” viên đại tá công nhận.
“Nghe này,” Belbo nói, “làm sao bác có thể loại trừ khả năng các cuộc gặp đã diễn ra như dự kiến và các hiệp sĩ giờ đang tất bật công tác?”
“Bởi vì tôi không nhận thấy dấu hiệu nào hết, và cho phép tôi thêm một từ là ‘rủi thay’. Không, kế hoạch rõ ràng đã bị phá ngang. Và có lẽ những người mang trọng trách thực thi nó cho tới kết quả cuối cùng đã không còn tồn tại nữa. Nhóm ba mươi sáu người có thể đã bị phá vỡ bởi một tai ương toàn cầu nào đó. Nhưng một nhóm người dũng cảm khác nào đó, những người có được thông tin chuẩn xác, có thể vẫn đã tiếp nối kế hoạch. Dù thứ đó là gì thì nó vẫn đang tồn tại ở đây. Tôi đang muốn tìm được đúng những người ấy. Đó là lý do tại sao tôi muốn xuất bản cuốn sách: để lôi kéo những sự phản ứng. Và đồng thời, tôi đang cố liên lạc với những người có thể giúp tôi tìm câu trả lời trong mê hồn trận tri thức truyền thống. Mới hôm nay tôi đã xoay xở gặp được chuyên gia vĩ đại nhất về đề tài này. Nhưng ngài ấy, trời đất ơi, uyên bác như ngài ấy mà cũng không thể cho tôi biết gì thêm mặc dù ngài ấy tỏ ra rất chi hứng thú với câu chuyện của tôi và hứa sẽ viết lời mở đầu...”
“Xin lỗi,” Belbo hỏi, “nhưng chẳng phải có phần thiếu khôn ngoan khi giãi bày bí mật của bác với vị kia không? Chính bác đã kể cho chúng tôi về sơ sẩy của Ingolf...”
“Cho xin đi,” viên đại tá đáp lại. “Ingolf là một tay hậu đậu. Người mà tôi liên lạc là một học giả không thể nghi ngờ, một người không mạo hiểm vội vã kết luận. Ví dụ như, hôm nay, ngài ấy yêu cầu tôi chờ thêm một chút nữa trước khi đem công trình của mình tới một nhà xuất bản, cho tới khi tôi xử lý xong tất cả những điểm gây tranh cãi. Tôi không muốn gây bất hòa gì với ngài ấy nên không bảo ngài ấy là tôi tới đây. Nhưng tôi chắc chắn các anh có thể hiểu được tôi đang nôn nóng đến chừng nào khi đã tiến xa tới mức này trong cuộc nghiên cứu của mình. Các vị... ồ, ném cái nghi ngờ của các anh xuống địa ngục đi! Tôi không muốn các anh nghĩ tôi đang khoe khoang vớ vẩn. Ngài ấy là Rakosky đấy.”
Ông ta ngừng lời đợi phản ứng của chúng tôi.
Belbo làm ông ta thất vọng. “Ai cơ?”
“Rakosky. Ngài Rakosky! Tác giả của những nghiên cứu về truyền thống, cựu biên tập viên của Les Cahiers du Mystère.”
“À, Rakosky đó,” Belbo nói. “Vâng, vâng, tất nhiên rồi...”
“Trước khi viết bản thảo cuối cùng cho cuốn sách của mình, tôi sẽ đợi được nghe lời khuyên của ngài ấy. Nhưng tôi muốn tiến càng nhanh càng tốt, và nếu tôi có thể đi đến một thỏa thuận với công ty của các anh trong lúc đợi... Như tôi nói, tôi háo hức muốn khuấy lên các phản ứng, để thu thập những thông tin mới... Có những người chắc chắn biết nhưng sẽ không mở miệng... Khoảng năm 1944, thưa các anh, mặc dù biết rằng sẽ thua trận, Hitler bắt đầu nói về một vũ khí bí mật sẽ giúp ông ta đảo ngược tình thế. Người ta bảo ông ta điên rồi. Nhưng nếu ông ta không điên thì sao? Các anh có nghe kịp tôi không?” Trán ông ta đẫm mồ hôi và bộ ria cứng ngắc như râu mèo. “Dù chuyện gì xảy ra đi nữa, tôi đã tung con mồi. Chúng ta sẽ xem có kẻ nào cắn câu không.”
Từ những gì tôi biết và nghĩ về Belbo khi ấy, tôi trông chờ anh ta sẽ tiễn viên đại tá khỏi cửa với vài lời lịch thiệp. Nhưng anh ta không làm vậy. “Bác nghe này, đại tá,” anh ta nói, “công trình này hết sức thú vị, cho dù bác có ký hợp đồng với chúng tôi hay với ai khác đi nữa. Bác có thể cho chúng tôi thêm khoảng mười phút nữa không?” Anh ta quay sang tôi. “Muộn rồi, Casaubon, tôi đã giữ chân anh quá lâu rồi. Mai chúng ta gặp nhé?”
Tôi bị đuổi khéo. Diotallevi nắm cánh tay tôi bảo anh ta cũng phải đi. Chúng tôi nói lời tạm biệt. Viên đại tá nồng nhiệt bắt tay Diotallevi và gật đầu với tôi kèm theo một nụ cười lạnh giá.
Khi chúng tôi xuống cầu thang, Diotallevi nói với tôi: “Có thể cậu đang băn khoăn vì sao Belbo lại bảo cậu đi. Đừng nghĩ anh ta cư xử thô lỗ. Anh ta chuẩn bị đề nghị với viên đại tá. Đó là một vấn đề tế nhị. Tế nhị, theo lệnh của Signor Garamond. Sự có mặt của chúng ta sẽ gây khó xử.”
Như sau này tôi biết được thì Belbo định ném viên đại tá vào miệng nhà xuất bản Manutius.
Tôi kéo Diotallevi tới Pilade, ở đó tôi gọi Campari còn anh ta gọi xá xị. Anh ta bảo xá xị có vị cổ xưa, thầy tu, gần như hiệp sĩ dòng Đền.
Tôi hỏi anh ta nghĩ gì về viên đại tá.
“Tất cả trò rồ dại của thế gian chẳng chóng thì chầy cũng sẽ xuất hiện tại các nhà xuất bản,” anh ta đáp. “Nhưng những trò rồ dại của thế gian cũng có thể hàm chứa chớp lóe minh triết của đấng Tối cao, vậy nên người khôn ngoan quan sát trò rồ dại với sự khiêm cung.” Rồi anh ta xin phép phải đi. “Tối nay, có món ngon đang đợi tôi,” anh ta nói.
“Một bữa tiệc?”
Anh ta có vẻ nản lòng vì sự nhẹ dạ của tôi. “Là Kinh Zohar*,” anh ta giải thích. “Lekh-Lekha. Những đoạn vẫn hoàn toàn bị hiểu sai.”
Tác phẩm nền tảng của Kabbalah. Zohar bao gồm những bình giải về các khía cạnh huyền bí của Ngũ kinh Torah và những chú giải dựa trên Kinh Thánh.