Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 238 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
27

❊ ❊ ❊

Một ngày nọ, bảo rằng mình làm quen với Pontius Pilate ở Jerusalem, ông ta mô tả cặn kẽ dinh thự của viên tổng đốc và kê ra những món được phục vụ trong bữa tối. Hồng y de Rohan, tin rằng đây là chuyện hoang đường, liền quay sang người hầu cận của bá tước de Saint-Germain, một ông lão tóc bạc trắng, vẻ mặt thật thà. “Bạn tôi ơi,” ông nói với người hầu, “tôi thấy khó mà tin những gì chủ ông đang kể với chúng tôi. Cứ cho là ông ta tinh thông thuật nói tiếng bụng và thậm chí ông ta có thể tạo ra vàng. Nhưng bảo rằng ông ta hai ngàn tuổi và từng gặp Pontius Pilate ư? Thế thì quá lắm. Vậy ông có mặt ở đó không?” “Ồ không đâu, thưa ngài,” lão hầu cận thật thà đáp lời, “tôi mới phục vụ bá tước đây có bốn trăm năm thôi ạ.”

− Collin de Plancy, Dictionnaire Infernal,

Paris, Mellier, 1844, tr. 434

Trong những ngày sau đó, Salvador hoàn toàn hút hồn tôi. Tôi ít khi có mặt ở khách sạn. Nhưng khi ngó qua bảng chí mục của cuốn sách về Hội Thập tự Hoa hồng, tôi thấy có mục về bá tước de Saint-Germain. Chà chà, tôi tự nhủ, tout se tient*.

Tiếng Pháp: mọi thứ đều dính dáng đến nhau.

Voltaire viết về ông ta, “C’est un homme qui ne meurt jamais et qui sait tout”*, nhưng Frederick Đại đế viết trả lại rằng, “C’est un comte pour rire”*. Horace Walpole mô tả ông ta như một người Ý hoặc Tây Ban Nha hoặc Ba Lan đã kiếm bộn tiền ở Mexico rồi chạy tới Constantinople mang theo đống châu báu của vợ mình. Thông tin đáng tin cậy nhất về ông ta là từ hồi ký của Madame du Hausset, dame de chambre* của Pompadour (một tài liệu có căn cứ, nàng Amparo bướng bỉnh nhận xét). Ông ta đã mang rất nhiều tên: Surmont ở Brussels, Welldone ở Leipzig, hầu tước xứ Aymar hay Bedmar hay Belmar, bá tước Soltikoff. Vào năm 1745, ông ta bị bắt ở Luân Đôn, nơi ông ta tỏa sáng trong vai trò một nhạc công, độc tấu violin và đàn clavico trong các phòng tiêu khiển. Ba năm sau ông ta tự tiến cử làm chuyên gia nhuộm cho Louis XV ở Paris để đổi lấy quyền cư trú tại lâu đài Chambord. Nhà vua cử ông ta đi công cán ngoại giao ở Hà Lan, ở đó ông ta vướng vào một rắc rối nào đó và lại chạy tới Luân Đôn. Vào năm 1762, ông ta xuất hiện ở Nga, rồi lại ở Bỉ, nơi ông ta gặp Casanova, người kể cho chúng ta chuyện vị bá tước biến một đồng xu thành vàng thế nào. Năm 1776, ông ta xuất hiện ở triều đình của Frederick Đại đế và đề xuất với vị vua này nhiều dự án liên quan tới hóa học. Tám năm sau ông ta mất ở Schleswig, tại triều đình của lãnh chúa vùng Hesse*, nơi ông ta đang hoàn thành những khâu cuối cùng của một xưởng chế tạo thuốc màu.

Tiếng Pháp: Có một người không bao giờ chết và thông tỏ mọi điều.

Tiếng Pháp: Có một lão bá tước làm trò cười.

Tiếng Pháp: người hầu gái.

Một vùng thuộc nước Đức ngày nay.

Không có gì đặc biệt, sự nghiệp điển hình của một nhà thám hiểm thế kỷ 18, không nhiều ái tình như Casanova và những trò bịp bợm ít kịch tính hơn trò bịp bợm của Cagliostro. Ngoài đôi chuyện tình cờ kỳ quặc chỗ này chỗ nọ, ông ta hưởng chút tín nhiệm của những người cầm quyền, các vị này được ông ta hứa hẹn những kỳ tích của thuật giả kim dù thiên về hơi hướng công nghiệp. Điểm lạ thường duy nhất là tin đồn về sự bất tử của ông ta, mà không nghi ngờ gì chính do ông ta khơi lên. Trong những phòng tiêu khiển, ông ta thường hay làm như tình cờ nhắc tới những sự kiện xa xôi như thể bản thân từng tận mắt chứng kiến, và ông ta nuôi dưỡng huyền thoại về mình một cách duyên dáng, vô thanh.

Cuốn sách cũng trích dẫn một đoạn viết trong cuốn Gog của Giovanni Papini, mô tả một cuộc gặp gỡ giữa đêm với bá tước de Saint-Germain trên boong một con tàu lênh đênh giữa đại dương. Vị bá tước, bị đè nặng bởi quá khứ tính bằng thiên niên kỷ và với những ký ức chen chúc trong đầu, nói với giọng tuyệt vọng gợi nhớ tới Funes, “el memorioso” của Borges, ngoại trừ việc câu chuyên của Papini được viết từ năm 1930. “Anh đừng lầm tưởng rằng số mệnh của chúng ta đáng được ghen tị,” vị bá tước nói với Gog. “Sau vài thế kỷ, một sự buồn chán hết thuốc chữa choáng ngợp những kẻ bất tử khốn khổ. Thế giới này thật đơn điệu, con người chẳng học hỏi được gì, và cứ mỗi thế hệ họ lại rơi vào cùng những sai lầm và những cơn ác mộng ấy, những sự kiện không phải lặp lại nhưng na ná nhau... sự mới lạ kết thúc, ngạc nhiên, khám phá. Giờ đây khi chỉ có Hồng Hải đang lắng nghe hai ta, tôi có thể thú nhận với anh rằng: sự bất tử khiến tôi chán chường. Trái đất này không còn bí mật nào với tôi và tôi không còn hy vọng gì ở giống loài mình nữa.”

“Một nhân vật kỳ dị,” tôi nhận xét. “Rõ ràng ông bạn Agliè của chúng ta đang chơi trò thủ vai ông ta. Một đức ông già nua theo thời gian, hơi gàn, sẵn tiền trong túi, dư dật thời gian để lang thang mọi chốn và mang niềm hứng thú cái siêu nhiên.”

“Một tên phản động kiên định, có dũng khí dám suy đồi,” Amparo nói. “Thực lòng, em thích ông ta hơn là bọn dân chủ tư sản.”

“Sức mạnh nữ quyền thật lớn lao, nhưng cứ để một thằng đàn ông hôn tay em mà xem, em lại ngất ngây ra.”

“Chính các anh đã huấn luyện bọn em trở nên như thế, trong hàng thế kỷ. Hãy để chúng em từ từ giải phóng mình. Em đâu có bảo em muốn cưới ông ta.”

“Thế thì tốt.”

Tuần sau đó, Agliè điện thoại cho tôi. Ông ta bảo tối đó chúng tôi sẽ được phép tới thăm một terreiro de candomblé. Chúng tôi sẽ không được cho dự phần chính của buổi lễ bởi vì nữ chủ tế không tin khách du lịch, nhưng bà ấy sẽ đích thân đón chúng tôi và dẫn chúng tôi tham quan một vòng trước khi buổi lễ bắt đầu.

Agliè lái xe tới đón và chở chúng tôi qua những khu ổ chuột bên kia ngọn đồi. Xe dừng lại ở một tòa nhà xập xệ, nom như một cái ga ra lớn, nhưng ở ngưỡng cửa có một ông lão da đen đứng đón và tẩy trần cho chúng tôi bằng một ít thuốc xông. Phía trước là một mảnh vườn nhỏ trơ trụi với một chiếc giỏ to đùng đan bằng cành cọ, trên đó bày một vài món ngon truyền thống, comida de santo.

Bên trong, chúng tôi thấy một sảnh lớn, tường phủ đầy tranh vẽ, đặc biệt là đồ cúng tạ ơn, và mặt nạ châu Phi. Agliè giải thích về cách sắp xếp đồ đạc: ghế băng ở phía sau là cho người ngoại đạo, cái bục nhỏ để dụng cụ còn các ghế dành cho Ogã. “Họ là những người ở địa vị nào đó, không nhất thiết phải là tín đồ, nhưng tôn trọng giáo phái này. Chính ở Bahia này, Jorge Amado vĩ đại là một Ogã trong một terreiro. Ông ta được chọn bởi Iansa, nữ chúa của chiến tranh và gió...”

“Nhưng mấy vị thần thánh này ở đâu ra?” tôi hỏi.

“Chuyện khá phức tạp. Trước tiên, có một nhánh người Sudan chiếm đa số ở miền Bắc này từ buổi đầu thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Tôn giáo candomblé thờ các orixá - nói cách khác là các vị thần thánh châu Phi - đến từ nhánh này. Ở các bang miền Nam, hai bạn sẽ thấy ảnh hưởng của các nhóm Bantu, va đây là nơi tất cả sự hòa lẫn bắt đầu. Các giáo phái miền Bắc vẫn trung thành với tôn giáo châu Phi truyền thống, trong khi ở miền Nam, macumba nguyên thủy đã phát triển thành umbanda vốn chịu ảnh hưởng của Công giáo, thuyết thông linh Kardecism và thuyết bí truyền châu Âu...”

“Vậy tối nay sẽ không có hiệp sĩ dòng Đền?”

“Dòng Đền đóng vai trò như phép ẩn dụ, nhưng đúng vậy, tối nay không có hiệp sĩ dòng Đền nào hết. Tuy nhiên, thuyết nhất thể là một quá trình rất tinh tế. Cậu có để ý rằng, bên ngoài, gần các comida de santo, có một bức tượng sắt nhỏ, một loại quỷ sứ với cái cào, và dưới chân có đồ cúng không? Đó là Exu, rất hùng mạnh trong umbanda nhưng trong candomblé thì không. Tuy nhiên, candomblé vẫn kính trọng vị thần ấy như một hình tượng thoái hóa của thần Mecury. Trong umbanda, người ta mời gọi Exu giáng về, nhưng ở đây thì không. Tuy nhiên, vị thần này vẫn được đối xử nồng nhiệt. Nhưng ai mà biết được. Hai bạn thấy cái tường ở kia không?” Ông ta chỉ vào những bức tượng nhiều màu mô tả một người Indio trần truồng và một nô lệ da đen, đang ngồi, mặc đồ trắng đang hút tẩu. “Họ là một caboclo* và một preto velho*, linh hồn của những người đã khuất. Rất quan trọng trong nghi thức umbanda. Họ đang làm gì ở đây? Nhận lòng tôn kính. Họ không được dùng tới, bởi vì candomblé chỉ vui vầy trong những mối quan hệ với các orixá Phi châu, nhưng họ không vì thế mà bị gạt ra ngoài.”

Người lai, thổ dân Brazil có tổ tiên người châu Âu.

Preto Velho (Old Black Man) là linh hồn của những nô lệ già bị giam giữ hoặc tra tấn tới chết. Họ là những linh hồn thông thái, điềm đạm và tử tế, biết mọi điều về chịu đựng, cảm thông, tha thứ và hy vọng.

“Vậy đâu là điểm chung của tất cả những nhà thờ ở đây?”

“Ồ, trong nghi thức của tất cả các giáo phái Brazil gốc Phi, những người đã được thụ giáo đi vào tình trạng nhập đồng và cơ thể họ được những đấng cao hơn chiếm hữu. Trong candomblé, những đấng này là các orixá còn trong umbanda thì là linh hồn của những người đã khuất.”

“Tôi đã quên mất chính đất nước mình và dòng giống của mình,” Amparo nói. “Chúa ơi, một chút châu Âu và một chút duy vật lịch sử, thế là tôi lãng quên hết thảy, những câu chuyện tôi từng nghe bà mình kể lại...”

“Chủ nghĩa duy vật lịch sử?” Agliè mỉm cười. “Ồ phải, chắc tôi từng nghe nói tới nó. Một giáo phái Khải huyền xuất phát từ vùng Trier*. Tôi nói có đúng không?”

Trier: một thành phố nước Đức nằm trên bờ sông Moselle. Karl Marx chào đời ở đây.

Tôi siết cánh tay Amparo. “No pasarán*, cưng à.”

Tiếng Tây Ban Nha: “Chúng sẽ không thể qua”; là một tuyên ngôn dùng để biểu thị quyết tâm bảo vệ một vị trí trước sự tấn công của kẻ địch. Tuyên ngôn này được dùng nhiều nhất trong trận Verdun thời Thế chiến I bởi tướng Pháp Robert Nivelle.

“Chúa ơi,” nàng lẩm bẩm.

Agliè lặng thinh quan sát đoạn thì thầm chớp nhoáng giữa chúng tôi. “Những quyền năng của thuyết nhất thể là vô hạn, bạn thân mến ạ. Tôi có nên kể cho các bạn một phiên bản chính trị của toàn bộ câu chuyện này không? Về mặt pháp lý, nô lệ được trả tự do từ thế kỷ 19, nhưng tất cả những kho tư liệu về buôn nô lệ đều bị đốt bỏ nhằm xóa đi vết nhơ của một thời chiếm hữu nô lệ. Về mặt chính thống, nô lệ được giải phóng, nhưng quá khứ của họ cũng đã mất. Không có bất cứ danh tính họ mạc nào, họ cố gắng tái dựng một quá khứ chung. Đó là phương thức họ chống đối lại cái mà thanh niên các bạn gọi là giai cấp thống trị.”

“Nhưng ông vừa nói rằng những tôn giáo châu Âu cũng chiếm một phần.”

“Bạn thân mến, sự tinh thuần là quá xa xỉ, cho nên nô lệ bấu lấy bất cứ thứ gì họ vớ được. Nhưng họ cũng có cách trả thù của riêng mình. Bây giờ họ đã tóm được nhiều người da trắng hơn bạn tưởng. Các giáo phái châu Phi nguyên gốc sở hữu điểm yếu của mọi tôn giáo: chúng mang tính địa phương, dân tộc, thiển cận. Tuy nhiên, khi gặp gỡ với huyền học của những kẻ xâm lăng, chúng tái tạo một phép mầu cổ xưa, phả sự sống mới vào những giáo phái huyền bí đã mọc lên quanh Địa Trung Hải vào thế kỷ 2 và 3 Công nguyên, khi mà La Mã trong thời suy tàn tiếp xúc với chất men bắt nguồn từ Ba Tư, Ai Cập và Palestine tiền Do Thái... Trong những thế kỷ cuối cùng của đế chế này, châu Phi nhận được ảnh hưởng của tất cả các tôn giáo vùng Địa Trung Hải và nhồi chặt chúng vào một túi. Châu Âu bị Cơ đốc giáo trong vai trò quốc giáo hủy hoại, nhưng châu Phi gìn giữ những kho báu tri thức, đúng như nó đã gìn giữ và lưu truyền chúng vào thời hoàng kim của Ai Cập, truyền chúng cho người Hy Lạp, những người đã trút lên chúng sự tàn phá lớn đến ngần ấy.”

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.