Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 238 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
45

❊ ❊ ❊

Và từ đây nổi lên câu hỏi lạ thường: Liệu có phải người Ai Cập đã biết về điện?

− Peter Kolosimo, Terra senza tempo,

Milano, Sugar, 1964, tr. 111

“Tôi có một bản thảo về những nền văn minh đã biến mất và những vùng đất bí ẩn,” Belbo nói. “Có vẻ như từng có một lục địa tên Mu nằm đâu đó quanh nước Úc và từ đây những làn sóng di cư khổng lồ đã tỏa đi. Một bộ phận tới Avalon, một tới Caucasus và thượng nguồn sông Ấn; rồi còn có người Celt và những người sáng lập nên nền văn minh Ai Cập, cuối cùng là những người dựng nên Atlantis...”

“Bình cũ rồi. Nếu anh muốn sách về Mu, tôi có thể chất đầy bàn anh luôn,” tôi nói.

“Nhưng tác giả này có thể bỏ tiền. Chưa kể ông ta có một chương thật hay về những cuộc di cư của người Hy Lạp tới Yucatán và câu chuyện về bức phù điêu ở Chichén Itzá tạc một chiến binh nom như đúc cùng một khuôn với lính La Mã. Như hai giọt nước...”

“Tất cả mũ giáp trên đời đều có lông chim hoặc đuôi ngựa,” Diotallevi bảo. “Đó đâu phải bằng chứng.”

“Không phải với anh, mà với anh ta. Anh ta phát hiện ra tất cả các nền văn minh đều thờ rắn và kết luận rằng có một cội rễ chung...”

“Kẻ nào mà không thờ rắn chứ?” Diotallevi nói. “Tất nhiên là trừ những Người được Lựa chọn.”

“Họ thờ bê.”

“Chỉ trong phút yếu lòng thôi. Tôi sẽ từ chối bản thảo này dù anh ta có tự bỏ tiền. Chủ nghĩa Celt và Aryan, Kali yuga, sự suy thoái của phương Tây, linh đạo SS. Bảo tôi hoang tưởng cũng được nhưng tôi thấy hắn nói cứ như một tên phát xít.”

“Với Garamond, đó không nhất thiết là trở ngại.”

“Không, nhưng cái gì cũng có giới hạn. Đây có một cuốn sách về thần lùn, nữ thủy thần, kỳ nhông, yêu tinh, tiên nữ không trung, các vị tiên, nhưng nó cũng kéo cả nguồn gốc của nền văn minh Aryan vào. Bọn SS hiển nhiên là hậu duệ của Bảy chú lùn.”

“Không phải Bảy chú lùn mà là hoàng tộc Nibelung.”

“Các chú lùn mà nó nhắc đến là những Người Tí hon ở Ireland. Bọn tiên mới xấu, còn Người Tí hon tốt, chỉ tinh nghịch thôi.”

“Bỏ qua đi. Thế còn anh, Casaubon? Anh tìm thấy gì?”

“Một bản thảo về Christopher Columbus: nó phân tích chữ ký của ông ta và phát hiện trong ấy có một chỗ nhắc tới kim tự tháp. Mục đích thực sự của Columbus là tái dựng Đền Jerusalem bởi vì ông ta là đại thủ lĩnh của Dòng-Đền-tha-hương. Là một người Do Thái Bồ Đào Nha và bởi vậy là một chuyên gia Kabbalah, ông ta sử dụng bùa chú để trấn bão và vượt qua bệnh hoại huyết. Tôi không xem bản thảo nào về Kabbalah bởi vì tôi cho là Diotallevi đang duyệt chúng.”

“Các chữ cái Hebrew sai toét hết cả, sao chép lại từ đám sách giải mộng.”

“Hãy nhớ chúng ta đang tìm bản thảo cho Vén màn thần Isis. Tránh xa việc nghiên cứu văn tự ra. Nếu các Quỷ giả thích lấy các chữ cái Hebrew từ sách giải mộng thì cứ để họ lấy. Vấn đề tôi đang mắc phải là tất cả các bản thảo về Hội Tam điểm. Signor Garamond bảo tôi phải rất cẩn thận ở đây; ông ta không muốn vướng vào bút chiến giữa các dòng. Nhưng tôi sẽ không bỏ qua bản thảo này, nó là về hệ thống ký hiệu Tam điểm trong hang động Lourdes. Hoặc bản thảo về một đức ông bí hiểm, có lẽ là bá tước de Saint-Germain, một người bạn thân thiết của Franklin và Lafayette, người xuất hiện vào thời khắc sáng tạo ra lá cờ của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nó giải thích rất tốt ý nghĩa của các ngôi sao trên lá cờ, nhưng đâm ra lúng túng khi nói về các đường sọc.”

“Bá tước de Saint-Germain!” tôi thốt lên. “Chà chà!”

“Anh biết ông ta?”

“Nếu tôi nói là có, các anh cũng chả tin. Thôi quên đi. Còn đây, thưa các vị, là một quái tác bốn trăm trang chê bai những sai lầm của khoa học hiện đại. Nguyên tử, một lời nói dối Do Thái. Sai lầm của Einstein và bí mật huyền hoặc của năng lượng. Ảo tưởng của Gallileo và bản chất phi vật chất của mặt trời và mặt trăng.”

“Cùng hướng đó,” Diotallevi nói, “thứ tôi thích nhất là bản luận về khoa học theo Fort này.”

“Là gì vậy?”

“Đặt theo tên của Charles Hoy Fort, kẻ tập hợp một bộ sưu tập khổng lồ các mẩu tin không thể lý giải. Một trận mưa ếch ở Birmingham, những bậc thang bí hiểm và dấu vết cắn mút trên rìa một vài ngọn núi, những bất thường trong tiến động của các phân điểm, những chữ khắc trên thiên thạch, tuyết đen, mưa máu, những sinh vật có cánh ở độ cao tám ngàn mét trên Palermo, những bánh xe phát sáng trên biển, hóa thạch người khổng lồ, một trận mưa lá khô ở Pháp, mưa sinh vật sống ở Sumatra, và đương nhiên, tất cả những dấu hiệu khắc trên Machu Picchu cùng các đỉnh núi khác ở Nam Mỹ là bằng chứng cho thấy nơi đây đã được tàu vũ trụ hùng mạnh viếng thăm từ thời tiền sử. Chúng ta không đơn độc trong vũ trụ này.”

“Không tồi,” Belbo nói. “Nhưng điều đặc biệt làm tôi tò mò là năm trăm trang về kim tự tháp này. Các anh có biết kim tự tháp Cheops nằm ngay trên vĩ tuyến ba mươi, cũng là vĩ tuyến cắt qua dải đất rộng lớn nhất cao hơn mực nước biển không? Rằng các tỉ lệ hình học mà người ta tìm thấy ở kim tự tháp Cheops trùng khớp với tỉ lệ hình học của di chỉ Pedra Pintada giữa rừng già Amazon? Rằng người Ai Cập sở hữu hai con rắn có lông vũ, một con trên ngai vàng của Tutankhamen, con còn lại trên kim tự tháp Saqqara, và con rắn thứ Hai này trỏ tới Quetzalcoatl?”

“Quetzalcoatl thì liên quan gì tới rừng già Amazon nếu ông ta là thánh thần của Mexico?” tôi hỏi.

“Ồ, có lẽ tôi bỏ sót một mối liên kết. Nhưng về vấn đề này, các anh giải thích thế nào cái thực tế rằng các pho tượng ở Đảo Phục sinh là những cự thạch giống hệt như tượng của người Celt? Hoặc việc một vị thần ở quần đảo Polynesia có tên Ya rõ ràng là Yod của người Do Thái, vị đại thiện thần cổ đại hùng mạnh Io-v’ của Hungary cũng thế? Hoặc việc một cảo bản Mexico cổ đại mô tả Trái đất hình vuông được biển cả bao bọc, ở chính giữa là một kim tự tháp mà trên bệ có chữ Aztlán, phát âm gần với Atlas và Atlantis? Vì sao kim tự tháp xuất hiện ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương?”

“Bởi vì xây kim tự tháp thì dễ hơn xây các khối cầu. Bởi vì gió tạo ra những đụn cát hình kim tự tháp chứ không phải hình đền Parthenon.”

“Tôi ghét tinh thần của Khai sáng,” Diotallevi nói.

“Để tôi nói tiếp. Ở Ai Cập thời tiền sử, cỗ xe của mặt trời là một xe trượt. Bởi vì Ai Cập không có tuyết để mà trượt nên nguồn gốc của xe trượt chắc chắn phải là Bắc Âu. Hãy nghĩ đến xe trượt của Ông già Tuyết...”

Tôi đâu thể dễ dàng cho qua: “Trước khi phát minh ra bánh xe, người ta dùng xe trượt để đi.”

“Đừng chen ngang chứ. Cuốn sách này nói rằng trước tiên anh xác định các tương đồng rồi anh tìm nguyên nhân. Và nó còn nói, xét kỳ cùng, nguyên nhân hoàn toàn có tính khoa học. Người Ai Cập đã biết về điện. Không có điện họ không thể nào làm được điều họ đã làm. Một kỹ sư người Đức chịu trách nhiệm về hệ thống thoát nước ở Baghdad đã khám phá ra những pin điện vẫn còn hoạt động có niên đại từ thời Sassanid. Tại các địa điểm khảo cổ của Babylon, người ta cũng đã tìm thấy những bộ tích điện được chế tạo ra từ cách đây bốn ngàn năm. Và, sau cùng, Hòm bia Giao ước là một loại két sắt điện có khả năng phóng ra luồng điện năm trăm vôn.”

“Tôi từng xem điều này trong một bộ phim.”

“Thì đã sao? Anh nghĩ những người viết kịch bản lấy ý tưởng từ đâu? Hòm bia kia được làm từ gỗ cây keo, trong và ngoài mạ vàng, tức cùng nguyên lý với tụ điện, hai vật dẫn điện được ngăn cách bởi một điện môi. Nó được đặt ở một chỗ khô ráo, nơi mà từ trường đạt tới năm trăm hay sáu trăm vôn trên một mét dọc. Nghe nói vua Porsena đã dùng điện để giải phóng vương quốc khỏi một con vật đáng sợ tên là Volt.”

“Đó là lý do vì sao Alessandro Volta chọn cái bút danh ngoại lai ấy. Trước đấy, tên của ông ấy giản dị là Szmrszlyn Khraznapahwshskij thôi.”

“Hãy nghiêm túc đi. Ngoài bản thảo, tôi cũng nhận được các bức thư hứa hẹn những tiết lộ về mối liên quan giữa nữ thánh Joan xứ Arc với Sách của bà đồng, giữa con quỷ Lilith trong sách cổ Do Thái và Mẹ Vĩ đại lưỡng tính, giữa mã di truyền và bảng chữ cái sao Hỏa, giữa trí tuệ bí ẩn của cây cỏ, vũ trụ học, phân tâm học và Marx cùng Nietzsche theo góc nhìn của một khoa thiên thần học mới, giữa Con Số Vàng và Hẻm Núi Lớn, Kant và huyền học, những nghi lễ bí truyền Eleusis với nhạc jazz, Cagliostro với năng lượng nguyên tử, đồng tính luyến ái với Ngộ đạo, golem với xung đột giai cấp. Nói tóm lại, một bức thư hứa hẹn một công trình tám tập về Chén thánh và Thánh tâm.”

“Chính đề nằm ở đâu? Rằng Chén thánh là một phúng dụ về Thánh tâm hay rằng Thánh tâm là một phúng dụ về Chén thánh?”

“Tôi nghĩ tác giả đó muốn theo cả hai cách. Tóm gọn lại, thưa các ngài, tôi không biết đi theo đường nào nữa. Chúng ta nên tham vấn Signor Garamond.”

Vậy là chúng tôi kéo đi hỏi ý kiến ông ta. Ông ta bảo rằng nguyên tắc ở đây là không ném thứ gì đi hết và ai cũng đáng được chúng tôi gặp.

“Nhưng hầu hết thứ này nhắc lại những gì ông có thể thấy ở bất kỳ sạp báo vỉa hè nào,” tôi phản biện. “Thậm chí các tác giả có sách in cũng sao chép của nhau, dẫn lời nhau như là nguồn đảm bảo xác thực, nói một cách hình ảnh là tất cả đều lấy cơ sở chứng cứ từ một câu của triết gia Iamblicus.”

“Ồ,” Garamond bảo, “vậy cậu định bán cho người đọc thứ mà họ không biết mô tê gì ấy hả? Các cuốn sách Vén màn thần Isis phải tập trung vào đúng những chủ đề như tất cả những cuốn khác. Chúng xác nhận lẫn nhau, thế nên chúng mới đúng. Đừng bao giờ tin vào những sáng tạo mới.”

“Thưa vâng,” Belbo đáp, “nhưng chúng tôi không thể luận ra xem cái gì là hiển nhiên, cái gì không. Chúng tôi cần một cố vấn.”

“Loại cố vấn nào?”

“Tôi không biết. Ông ta phải ít cả tin hơn một Quỷ giả, nhưng ông ta cũng phải hiểu biết thế giới của họ. Rồi từ đó chỉ cho chúng tôi biết chúng tôi nên đi đường nào trong tín ngưỡng Hermes. Một nghiên cứu viên nghiêm túc về tín ngưỡng Hermes Phục hưng...”

“Và ngay khi anh trao tay ông ta bản thảo Chén thánh và Thánh tâm, ông ta liền lao ra khỏi phòng, đóng sầm cửa lại,” Diotallevi tiếp lời.

“Không nhất thiết.”

“Tôi biết một người có vẻ rất hợp tiêu chuẩn,” tôi nói. “Ông ta đảm bảo uyên bác; ông ta tiếp nhận những thứ này tương đối nghiêm túc nhưng với một sự tao nhã, thậm chí là châm biếm, tôi nghĩ thế. Tôi gặp ông ta ở Brazil nhưng hẳn bây giờ ông ấy cũng đang ở Milan. Chắc chắn tôi còn lưu số ông ta đâu đó.”

“Liên hệ đi,” Garamond nói. “Ướm thử xem. Xem giá cả thế nào. Và hãy cố tận dụng ông ta cho cả dự án cuộc phiêu lưu kỳ thú của kim loại nữa.”

Agliè có vẻ rất vui khi thấy tôi liên lạc. Ông ta hỏi về nàng Amparo quyến rũ và khi tôi bóng gió rằng mọi chuyện đã qua, ông ta xin lỗi và đưa ra vài bình luận khéo léo về việc một người trẻ tuổi có thể luôn dễ dàng bắt đầu một chương mới trong đời mình. Tôi nhắc tới một dự án sách. Ông ta tỏ ra quan tâm, nói rằng sẽ rất vui lòng được gặp chúng tôi và ấn định ngày giờ gặp, ở nhà ông ta.

Kể từ ngày Dự án Hermes ra đời cho tới hôm ấy, tôi đã vô tâm tiêu khiển trên công sức của bao người khác. Giờ thì Họ đang chuẩn bị chìa hóa đơn ra. Tôi chẳng qua chỉ là một con ong chẳng khác gì những con mà chúng tôi muốn quyến rũ; và, cũng giống như chúng, tôi nhanh chóng bị dụ tới một bông hoa dù tôi vẫn còn chưa biết đó là hoa gì.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.