Con Lắc Foucault

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 294 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Sub umbra alarum tuarum, Jehova.

Fama Fraternitatis trong Allgemeine und general Reformation,

Cassel, Wessel 1614, kết

Hôm sau đó, tôi tới nhà xuất bản Garamond. Số 1 đường Sincere Renato dẫn vào một lối đi bụi bặm mà từ đó bạn thoáng thấy một khoảnh sân nhỏ và một tiệm bện dây thừng. Bên phải là một thang máy nom như chui ra từ một triển lãm khảo cổ về công nghiệp. Khi tôi chui vào đi thử, nó rung lên, giật đùng đùng cứ như không quyết định đi lên nổi, thận trọng quá đáng đến độ tôi đành chui ra và leo hai tầng cầu thang gỗ bụi bặm, gần như cuốn tròn. Sau này tôi biết được rằng ngài Garamond yêu thích tòa nhà này bởi vì nó gợi cho ngài nhớ tới một nhà xuất bản ở Paris. Một tấm biển kim loại ở đầu cầu thang có dòng chữ NHÀ XUẤT BẢN GARAMOND và một cánh cửa mở dẫn tới một hành lang không tổng đài hay lễ tân gì hết. Nhưng bạn không thể đi vào mà qua mắt được một văn phòng nhỏ nằm cách đó một đoạn, lập tức có một người tới chặn tôi lại, hình như là phụ nữ, độ tuổi và chiều cao khó xác định, còn nói theo lối hoa mỹ có thể gọi là dưới mức trung bình.

Chị ta xáp vào tôi bằng một thứ ngoại ngữ không hiểu sao nghe quen quen; rồi tôi nhận ra rằng đó là tiếng Ý, một thứ tiếng Ý gần như thiếu hoàn toàn nguyên âm. Khi tôi hỏi gặp Belbo, chị ta dẫn tôi đi dọc hành lang tới một văn phòng nằm cuối dãy.

Belbo thân thiết đón chào tôi: “Vậy anh là người nghiêm túc đấy. Vào đi.” Anh ta mời tôi ngồi đối diện với bàn làm việc của mình, một chiếc bàn cũ kỹ giống mọi thứ khác ở đây và chất chồng bản thảo, y như những chiếc giá trên tường kia.

“Hy vọng Gudrun không làm anh sợ,” anh ta bảo.

“Gudrun*? Signora... đó ạ?”

Gudrun: một nhân vật xưa trong văn học Giéc-manh.

“Signorina. Thực ra tên chị ta không phải là Gudrun đâu. Chúng tôi gọi chị ta như vậy bởi vì lối nói của chị ta phảng phất chất Giéc-manh. Chị ta muốn nói thật nhanh nên tiết kiệm thời gian bằng cách vứt hết nguyên âm đi. Nhưng chị ta có cảm thức về justitia aequatrix*: Khi đánh máy, chị ta bỏ qua phụ âm.”

Tiếng Latin: làm cho cân bằng.

“Ở đây chị ta làm việc gì?”

“Tất tần tật, đáng buồn là vậy. Trong mọi nhà xuất bản đều có một người không thể thiếu, người duy nhất có thể tìm được đồ trong đống lộn xộn mà anh ta hoặc chị ta tạo ra. Ít nhất khi bị mất một bản thảo, anh cũng biết đó là lỗi của ai.”

“Chị ta còn làm mất bản thảo nữa?”

“Các nhà xuất bản luôn làm mất bản thảo. Có những lúc tôi nghĩ đó là hoạt động chính của họ ấy chứ. Nhưng luôn cần có một bị bông, anh có công nhận vậy không? Tôi chỉ phàn nàn duy có một điều là chị ta không làm mất những bản thảo tôi muốn biến khỏi tầm mắt. Những thứ này là bất trắc trong cái mà ngài Bacon tài năng gọi là Sự tiến bộ của trí thức.”

“Chúng mất bằng cách nào cơ chứ?”

Anh ta dang tay. “Thứ lỗi cho tôi, nhưng đó là một câu hỏi ngu ngốc. Nếu chúng tôi biết chúng mất bằng cách nào thì chúng đã chẳng mất.”

Rất logic,” tôi nói. “Nhưng nghe này, những sách của Garamond mà tôi thấy ở chỗ này chỗ nọ có vẻ được làm rất cẩn thận, và các anh còn có một danh mục sách ấn tượng. Tất cả được làm ra ở đây sao? Các anh có bao nhiêu người vậy?”

“Bên kia hành lang có một phòng cho nhân viên kỹ thuật; cạnh phòng này là phòng đồng nghiệp Diotallevi của tôi. Nhưng anh ta làm sách tham khảo, những dự án lớn, những tác phẩm phải làm rất lâu và có vòng đời dài. Tôi làm các ấn bản dùng trong trường đại học. Không bận rộn gì lắm. Đương nhiên tôi có can thiệp vào một số cuốn sách, nhưng đã thành nguyên tắc, chúng tôi không cần lo lắng về mặt biên tập, học thuật hay tài chính. Các ấn phẩm của một viện hay hội thảo nằm dưới sự bảo trợ của trường đại học. Nếu tác giả là người mới, giáo sư của anh ta sẽ viết lời bạt. Tác giả sửa lỗi chính tả, kiểm tra các trích dẫn, chú thích và không đòi nhuận bút. Cuốn sách được dùng làm sách giáo khoa, bán được vài ngàn bản trong vài năm và chúng tôi hoàn vốn. Không bất trắc, không thua lỗ.”

“Vậy thì anh làm gì?”

“Nhiều việc. Chẳng hạn chúng tôi xuất bản một số sách bằng ngân sách của mình, thường là các tác phẩm dịch của những tác giả có uy tín, để thêm điểm nhấn vào danh mục sách. Thế rồi có những bản thảo tự nhiên lù lù từ trên trời rơi xuống, bị bỏ lại ngoài cửa. Hiếm khi in được, nhưng tất cả đều cần được đọc thẩm định. Ai mà biết được chữ ngờ.”

“Anh thích công việc này không?”

“Thích ấy hả? Đây là việc duy nhất mà tôi biết cách làm cho ra hồn.”

Câu chuyện gián đoạn bởi một người đàn ông ngoài bốn mươi mặc áo khoác quá khổ, tóc vàng lòa xòa xõa xuống hàng lông mày vàng rậm. Anh ta ăn nói nhẹ nhàng như đang giảng giải cho một đứa trẻ vậy.

“Tôi mệt mỏi với cái sổ tay cho người đóng thuế này quá rồi. Phải viết lại hết cả quyển mà tôi thì không hề muốn thế. Tôi có làm phiền hai người không?”

“Đây là Diotallevi,” Belbo giới thiệu hai chúng tôi.

“Ồ, cậu đến đây để xem cái bản thảo về hiệp sĩ dòng Đền. Khổ thân. Nghe này, Jacopo, tôi vừa nghĩ đến một thứ tốt đây: Quy hoạch đô thị cho người Di-gan.”

“Tuyệt lắm,” Belbo ngưỡng mộ đáp. “Tôi cũng có một thứ nữa: Thuật kỵ mã Aztec.”

“Hay. Nhưng sẽ xếp vào Thái-nước-dùng hay Ngoa dụ?”

“Để xem xem nào,” Belbo đáp. Anh ta lục ngăn kéo lấy ra mấy tờ giấy. “Thái-nước-dùng...” Anh ta nhìn tôi và thấy sự hoang mang của tôi. “Thái-nước-dùng, như mọi người đều biết, tất nhiên, là nghệ thuật thái nước dùng. Không, không,” anh ta nói với Diotallevi. “Đó không phải một khoa, mà là một môn, giống như Machachuba Cơ khí hay Pylocatabasis. Tất cả đều nằm trong phạm vi của Tetrapyloctomy.”

“Cái gì tetra...” tôi hỏi.

“Nghệ thuật chẻ sợi tóc làm tư. Đây là khoa những kỹ thuật vô dụng. Machachuba Cơ khí chẳng hạn, là phương thức chế tạo một cỗ máy để chào các ông chú ông bác. Dầu vậy chúng tôi không chắc Pylocatabasis có thuộc vào danh sách này không, vì nó là nghệ thuật thoát thân bằng một sợi tóc. Có vẻ không hoàn toàn vô dụng.”

“Được rồi, quý ông,” tôi nói, “tôi đầu hàng rồi. Các anh đang nói chuyện gì vậy?”

“À, tôi và Diotallevi đang lên kế hoạch cải cách ở bậc giáo dục đại học. Một Trường đại học Bất liên quan Tương đối, nơi dạy những khóa vô dụng hoặc không thực hiện được. Mục đích của trường là đào tạo các học giả có khả năng tăng vô hạn con số các đề tài không cần thiết.”

“Thế ở đó có bao nhiêu khoa?”

“Đến nay có bốn khoa, nhưng chừng ấy có lẽ đủ cho toàn bộ chương trình học. Khoa Tetrapyloctomy có chức năng chuẩn bị; mục đích của nó là khắc sâu ý thức về tính bất liên quan. Một khoa quan trọng khác là Ngoa dụ, hay Bất khả. Kiểu như Quy hoạch đô thị cho người Di-gan. Điểm cốt yếu của môn học là thấu hiểu những căn cớ nền tảng nơi tính phi lý của sự vật. Chúng tôi có các khóa học về cứ pháp mã Moóc, lịch sử nông nghiệp Nam Cực, lịch sử hội họa Đảo Phục sinh, văn học Sumer đương đại, phân loại học vấn theo Montessori, nghệ thuật sưu tập tem của người Assyria-Babylon, công nghệ bánh xe trong các đế chế tiền Colombo, và các hệ thống ngữ âm trong phim câm.”

“Thế còn tâm lý học đám đông ở sa mạc Sahara?”

“Hay lắm,” Belbo nói.

Diotallevi gật đầu. “Cậu vào nhóm cùng chúng tôi đi. Cậu nhóc này có năng khiếu đấy, Jacopo nhỉ?”

“Phải, tôi đã nhận ra điều đó ngay. Tối qua anh ta đã tranh luận về sự ấu trĩ với kỹ năng tuyệt vời. Nhưng tiếp tục nào. Ta đã cho gì vào khoa Ôxy-ấu-trĩ nhỉ? Tôi không tìm thấy các ghi chép của mình đâu cả.”

Diotallevi lấy trong túi áo ra một mẩu giấy và nhìn tôi với vẻ kẻ cả thân thiện. “Trong khoa Ôxy-ấu-trĩ, đúng như tên gọi của nó ám chỉ, điều quan trọng là sự tự mâu thuẫn. Đó là lý do tôi nghĩ rằng nên xếp Quy hoạch đô thị cho người Di-gan vào đó.”

“Không,” Belbo bác bỏ. “Chỉ có thể làm thế khi đó là Quy hoạch đô thị du canh du cư. Ngoa dụ liên quan tới những điều không thể tồn tại về mặt thực nghiệm; Ôxy-ấu-trĩ liên quan tới những mâu thuẫn trong thuật ngữ.”

“Có thể. Nhưng chúng ta sẽ cho những khóa học nào vào Oxy-ấu-trĩ đây? Ồ, phải rồi, có đây rồi: Truyền thống trong Cách mạng, Chính trị quả đầu* dân chủ, Tính vận động trong triết học Parmenides*, Tính tĩnh tại trong triết học Heraclitus*, Tính hưởng lạc của dân thành Sparta, Phép biện chứng lặp thừa, Luận chiến kiểu Boole.”

Nền chính trị mà quyền lực tập trung vào tay một số ít.

Triết gia Hy Lạp cổ đại, người sáng lập trường phái triết học Eleatic. Theo Parmenides, thay đổi là không thể xảy ra và tồn tại là vô tận, bất biến.

Triết gia duy vật biện chứng người Hy Lạp, nổi tiếng với câu nói “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.

Tôi không ngăn nổi mình chõ miệng vào: “Thế còn Ngữ pháp của lỗi ngữ pháp?”

“Hay!” cả hai cùng thốt lên và ghi chú lại.

“Có một vấn đề,” tôi nói.

“Là gì?”

“Nếu công chúng ngửi được chuyện này, người ta sẽ vác bản thảo đến.”

“Anh chàng này sắc bén đấy, Jacopo,” Diotallevi nói. “Chúng ta vừa vô tình vẽ ra một hướng nghiên cứu chi tiết thực sự cho học thuật. Chúng ta vừa cho thấy sự cần thiết của những điều không thể xảy ra. Bởi vậy, phải giữ mồm giữ miệng. Giờ tôi phải đi đây.”

“Đi đâu vậy?” Belbo hỏi.

“Bây giờ là chiều thứ Sáu.”

“Chúa ơi!” Belbo kêu lên và quay sang tôi. “Bên kia phố có nhà mấy người Do Thái chính thống; anh biết đấy, mũ đen, râu ria, lọn tóc rủ xuống tai. Ở Milan không có nhiều người như vậy. Hôm nay là thứ Sáu, lễ Sabbath bắt đầu lúc mặt trời lặn, vậy nên buổi chiều họ bắt đầu chuẩn bị trong căn hộ bên kia đường: đánh bóng chân nến, nấu nướng thức ăn, chuẩn bị mọi thứ để ngày mai không phải đốt ngọn lửa nào. Thậm chí họ để ti vi mở cả đêm, chọn trước một kênh. Dầu sao đi nữa, Diotallevi đây có một cặp ống nhòm; anh ấy hào hứng quan sát họ, vờ như mình đang ở bên kia con phố.”

“Tại sao vậy?” tôi hỏi.

“Diotallevi của chúng ta nghĩ mình là người Do Thái.”

“Anh nói ‘nghĩ’ là ý gì?” Diotallevi bực mình. “Tôi người Do Thái. Cậu có gì phản đối chuyện đó không, Casaubon?”

“Tất nhiên là không.”

“Diotallevi không phải dân Do Thái,” Belbo khẳng định.

“Không? Thế tên tôi thì sao? Có khác gì Graziadio hay Diosiacontè. Một cái tên Do Thái truyền thống. Một cái tên ghetto*, giống như Sholom Aleichem.”

Dùng để chỉ khu định cư của cộng đồng người Do Thái (sau này còn được dùng để chì một số cộng đồng thiểu số khác) trong một thành phố. Thuật ngữ này bắt nguồn từ Venice để chỉ khu vực thành phố mà ở nơi đó người Do Thái bị quản thúc.

“Diotallevi là một cái họ may mắn mà công chức thành phố đặt cho những đứa trẻ bị bỏ rơi. Ông nội anh là trẻ bị bỏ rơi.”

“Một đứa trẻ Do Thái bị bỏ rơi.”

“Diotallevi, anh có da trắng hồng, về mặt thực tế anh là người bạch tạng.”

“Có thỏ bạch tạng, sao không thể có người Do Thái bạch tạng?”

“Diotallevi à, một người không thể cứ quyết định mình là người Do Thái kiểu như anh ta quyết định trở thành nhà sưu tập tem hay thành viên Hội Chứng nhân Giêhôva. Là Do Thái thì sinh ra đã là Do Thái. Chấp nhận đi! Anh cũng chỉ là dân ngoại đạo như hai chúng tôi thôi.”

“Tôi đã cắt bao quy đầu*.”

Một tập tục của dân Do Thái. Sau khi chào đời được 8 ngày, các bé trai sẽ phải chịu lễ cắt bao quy đầu. Lễ này thường được tiến hành vào buổi sáng ngay tại nhà.

“Thôi nào! Vô khối người được cắt bao quy đầu, vì lý do vệ sinh. Tất cả những gì anh cần là một bác sĩ và con dao. Anh bao nhiêu tuổi khi cắt bao quy đầu?”

“Chúng ta đừng có cố bới bèo ra bọ.”

“Không, bới chứ. Dân Do Thái chuyên bới bèo ra bọ.”

“Không ai có thể chứng minh ông nội tôi không phải người Do Thái.”

“Tất nhiên là không, ông cụ là trẻ bị bỏ rơi. Ông ấy có thể là bất cứ gì, người thừa kế vương vị của đế quốc Byzantine hay con hoang của hoàng tộc Habsburg.”

“Người ta tìm thấy ông tôi gần Portico d’Ottavia, trong khu định cư Do Thái ở Rome.”

“Nhưng bà anh có phải Do Thái đâu, mà dòng giống Do Thái lại theo đường mẫu hệ...”

“Bỏ qua những cơ sở về thủ tục đi - trong sổ bạ của thành phố ta có thể đọc được nhiều thứ bên ngoài con chữ - có những cơ sở về dòng máu. Dòng máu chảy trong tôi mách bảo rằng những suy nghĩ của tôi đậm đặc chất Talmud, và anh thật phân biệt chủng tộc khi tuyên bố rằng một người không phải dân Do Thái lại có thể đậm chất Talmud như tôi đây.”

Thế rồi anh ta bỏ đi. “Đừng để ý,” Belbo nói. “Hầu như ngày nào chúng tôi cũng tranh luận về việc này. Sự thực là Diotallevi dâng trọn trái tim cho Kabbalah. Nhưng cũng có những tín đồ Cơ đốc giáo theo Kabbalah. Nói gì thì nói, nếu Diotallevi muốn là người Do Thái, sao tôi lại phải phản đối chứ?”

“Đúng vậy. Chúng ta ở đây đều là người có tư tưởng tự do.”

“Phải.”

Anh ta châm thuốc. Tôi nhớ ra lý do mình tới đây. “Anh có nhắc tới một bản thảo về hiệp sĩ dòng Đền,” tôi nhắc.

“Phải... Xem nào. Nó nằm trong một kẹp tài liệu giả da...” Anh ta cô kéo một bản thảo từ giữa chồng bản thảo mà không làm xáo trộn những bản thảo khác. Một hành động mạo hiểm. Một mớ bản thảo rớt xuống sàn. Trên tay Belbo giờ là một kẹp tài liệu giả da.

Tôi xem mục lục và lời tựa. “Cuốn này nói về cuộc bắt bớ những hiệp sĩ dòng Đền,” tôi nói. “Năm 1307, Philip Tuấn tú quyết định bắt giam tất cả hiệp sĩ dòng Đền ở Pháp. Có một truyền thuyết kể rằng hai ngày trước khi Philip ban hành lệnh bắt này, một chiếc xe bò chở rơm rạ rời lãnh địa của dòng Đền ở Paris tới một địa chỉ không ai biết. Người ta nói rằng một nhóm hiệp sĩ do một người nhà Aumont dẫn đầu trốn trên chiếc xe bò này. Những hiệp sĩ ấy được cho là đã trốn thoát, ẩn nấp ở Scotland và gia nhập một chi nhánh của Hội Tam điểm ở Kilwinning. Cũng theo truyền thuyết, họ trở thành một phần của Hội Tam điểm, những người giữ vai trò bảo vệ các bí mật của Đền Solomon. À, đây rồi, đúng như tôi dự đoán trước. Tác giả này cũng quả quyết rằng nguồn gốc của Hội Tam điểm nằm ở cuộc chạy trốn của các hiệp sĩ dòng Đền tới Scotland. Một câu chuyện đã được xào xáo lại trong vài thế kỷ qua, không có cơ sở nền tảng nào hết. Tôi có thể đưa cho anh ít nhất năm mươi cuốn cũng kể câu chuyện đó, cuốn này đạo từ cuốn kia. Đây, nghe đoạn này đi, trong một trang giở bất kỳ nhé: ‘Bằng chứng của cuộc hành trình tới Scotland nằm trong thực tế rằng ngày nay, sáu trăm năm mươi năm sau, trên thế giới vẫn tồn tại những dòng kín có nguồn gốc từ đội quân dòng Đền. Còn cách giải thích nào cho sự tiếp nối của di sản này?’ Anh hiểu ý tôi không? Làm sao mà hầu tước Carabas có thể không tồn tại khi chú mèo Đi Hia bảo rằng nó phục vụ cho hầu tước?”

“Được rồi,” Belbo nói, “tôi sẽ ném nó đi. Nhưng vụ hiệp sĩ dòng Đền này khiến tôi khá hứng thú. Lần này tôi có sẵn một chuyên gia và tôi không muốn để mất anh ta. Tại sao lại chỉ nói về các hiệp sĩ dòng Đền mà không đề cập gì đến những hiệp sĩ Malta*? Khoan, đừng vội trả lời tôi bây giờ. Muộn rồi. Tôi và Diotallevi sắp phải đi dùng bữa tối với Signor Garamond. Khoảng mười rưỡi chúng tôi sẽ xong. Tôi sẽ cố thuyết phục Diotallevi ghé qua Pilade, anh ta đi ngủ sớm và ít khi uống rượu. Anh sẽ tới đó chứ?”

Dòng Hiệp sĩ Malta, phát triển trong thời Trung cổ, còn được biết đến với tên Dòng Hiệp sĩ Cứu tế hay Dòng Thánh John.

“Thì còn chỗ nào nữa đâu? Tôi thuộc về một thế hệ lạc lối và chỉ thấy thoải mái khi ở bên những kẻ lạc lối và đơn độc khác.”

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.