Giáng sinh năm ấy chẳng đến nỗi nào. Nhưng có một nỗi u hoài; tuyết phủ như một câu hỏi ở công viên đối diện căn hộ của Schindler, như một điều gì đó hoang mang, cảnh giác và bất biến trên nóc pháo đài Wavel ở cuối đường và dưới những mặt tiền cổ kính ở phố Kanonicza. Không còn ai tin vào một giải pháp nhanh gọn nữa - kể cả giới nhà binh, người Ba Lan, lẫn người Do Thái ở hai bên bờ sông.
Để làm quà Giáng sinh cho cô thư ký Ba Lan Klonowska, Schindler mua một con chó xù, một tạo vật kỳ dị đậm chất Paris, do Pfefferberg cung cấp. Ông tặng Ingrid đồ trang sức và gửi vài món khác về vỗ yên Emilie ở Zwittau. Chó xù thì khó kiếm, theo Leopold Pfefferberg. Những trang sức thì đơn giản. Vì thời thế, đá quý là mặt hàng đang lưu chuyển rất nhanh.
Có vẻ như Oskar đã duy trì sự gắn bó đồng thời với ba người đàn bà, và có nhiều mối quan hệ ngắn ngủi sơ sài khác, song không phải hứng chịu những trừng phạt thường đeo đuổi mấy gã đào hoa. Khách khứa đến thăm căn hộ của ông chưa bao giờ gặp Ingrid đang dằn dỗi. Cô có vẻ là một phụ nữ độ lượng và mát tính. Emilie, người có nhiều cơ sở để phàn nàn hơn, lại quá tự tôn để gây ra những chuyện ầm ĩ mà Oskar đáng phải chịu. Nếu Klonowska có ấm ức gì, nó dường như không ảnh hưởng đến thái độ của cô tại văn phòng của DEF, hay lòng trung thành của cô với Herr Direktor. Dư luận có thể dự đoán rằng sống như Oskar thì các cuộc đụng độ công khai giữa những phụ nữ bức xúc là chuyện bình thường. Nhưng không ai trong số bạn bè và công nhân của Oskar - những nhân chứng sẵn lòng thừa nhận và thậm chí chắt lưỡi bỏ qua tội lỗi xác thịt của ông - nhớ đã có cuộc đụng độ đau đớn nào như thế, điều vẫn thường giáng xuống đầu những gã trăng hoa biết kiềm chế hơn Oskar nhiều.
Phỏng đoán, như một số người, rằng ai cũng sẽ bằng lòng với việc sở hữu một phần Oskar sẽ hạ thấp những người phụ nữ liên quan. Vấn đề có lẽ ở chỗ, nếu ai định nói với Oskar về lòng chung thủy, thì một ánh nhìn ngơ ngác trẻ thơ và thành thật sẽ hiện ra trong mắt ông, như thể họ đang giới thiệu một khái niệm kiểu như Thuyết Tương đối, chỉ có thể hiểu được nếu người nghe chịu ngồi yên và tập trung trong năm tiếng. Oskar không bao giờ có năm tiếng và không bao giờ hiểu.
Trừ trường hợp mẹ ông. Sáng Giáng sinh năm ấy, vì người mẹ đã khuất, Oskar đi dự lễ Trọng ở Nhà thờ St. Mary. Trên ban thờ chính có một khoảng không nơi chỉ vài tuần trước bức phù điêu gỗ[1] của Wit Stwosz hãy còn thu hút sự chú ý của giáo dân với một dàn các thiên thần chen chúc. Sự trống trải, màu đá xanh xao của nơi trước kia từng gắn bức phù điêu làm Herr Schindler để ý, và hổ thẹn. Có kẻ đã ăn cắp bức phù điêu. Nó đã được chuyển về Nuremberg. Thế giới này đã trở nên quá sức hoang đường!
Riêng chuyện kinh doanh mùa đông ấy là vẫn ngon lành. Sang năm mới, bạn bè ở Tổng cục Quân giới đề cập với Oskar khả năng mở một xưởng đạn dược để sản xuất đạn pháo chống tăng. Đạn pháo không làm Oskar hào hứng như xoong chảo. Xoong chảo thuộc loại dễ gia công. Chỉ cần cắt kim loại ra, dập, tráng men, nung ở nhiệt độ thích hợp. Không cần căn chỉnh máy móc; đòi hỏi về độ chính xác kém xa sản xuất vũ khí. Và vỏ đạn thì chẳng mua bán lậu cho ai được, mà Oskar vốn thích mua bán lậu - thích cái khoái cảm, cái tai tiếng, cái tiền tươi thóc thật, và cái miễn giấy tờ của nó.
Nhưng vì lợi ích chính trị, Oskar vẫn mở xưởng, cho lắp đặt một cơ số máy Hilo khổng lồ, để dập khuôn và gia công chính xác vỏ đạn tại công xưởng số 2 của nhà máy. Xưởng đạn dược vẫn còn sơ khai; sẽ mất vài tháng để lên kế hoạch, tính toán và thử nghiệm trước khi ra lò sản phẩm hoàn thiện. Đám máy Hilo, tuy nhiên, ít ra cũng tạo cho việc kinh doanh của Schindler, như một hình thức bảo hiểm trước tương lai khó lường, vẻ ngoài của một ngành nghề thiết yếu.
Trước khi căn chỉnh xong các máy Hilo, Oskar đã nghe được phong thanh từ các đầu mối SS trên phố Pomorska rằng sẽ có ghetto cho dân Do Thái. Ông truyền tin này cho Stern, không muốn gây ra tâm lý hoảng hốt. À có, Stern đáp, có tin đồn ấy thật. Có người còn mong đến ngày đó. Ta sẽ ở trong, kẻ thù ở ngoài. Ta sẽ được tự quản. Sẽ không còn ai ghen ghét ta, ném đá ta ngoài phố. Ghetto sẽ có tường bao kiên cố. Bức tường sẽ là hình thức cuối cùng, cố định của tai họa.
Sắc lệnh “Gen. Gub. 44/91,” ban hành ngày 3 tháng Ba, được thông báo trên các nhật báo của Cracow và từ các loa phóng thanh lưu động trong Kazimierz. Đi dọc phân xưởng đạn dược của nhà máy, Oskar nghe được bình luận của một kỹ thuật viên người Đức về sự kiện này. “Trong ấy chẳng phải sẽ tốt hơn cho họ ư?” anh ta hỏi. “Dân Ba Lan ghét họ mà.”
Sắc lệnh viện dẫn chính lý do này. Để hạn chế xung đột sắc tộc trong vùng Đức thuộc, chính quyền sẽ quy hoạch một khu dân cư Do Thái biệt lập. Việc đi lại của cư dân bị giới hạn trong phạm vi ghetto, nhưng ai có giấy phép lao động hợp lệ sẽ được ra ngoài đi làm và quay về vào buổi tối. Ghetto sẽ được bố trí ở quận ngoại ô Podgórze, ngay bên kia sông. Thời hạn để vào ghetto là ngày 20 tháng Ba. Sau khi vào, tất cả sẽ được Judenrat bố trí chỗ ở. Riêng công dân Ba Lan sống tại khu vực sẽ thuộc về ghetto, do vậy buộc phải di dời, cần đăng ký với sở nhà đất Ba Lan để xin cấp căn hộ ở nơi khác trong thành phố.
Sắc lệnh được ban hành kèm tấm bản đồ của ghetto. Phía Bắc sẽ giáp sông, phía Đông với đường sắt đi Lwów, phía Nam với đồi Rekawka, phía Tây với Podgórze. Sẽ đông đúc ra trò. Nhưng lại có một niềm hy vọng rằng từ nay những áp bức sẽ định hình và sẽ cho mọi người căn cứ để lên kế hoạch cho tương lai giới hạn của họ. Đối với người như Juda Dresner, một nhà buôn vải vóc trên phố Stradom, và sau này sẽ biết Oskar, một năm rưỡi qua đã làm ông hoang mang tột độ với một chuỗi những sắc lệnh, những vụ xâm nhập tư gia và tịch biên tài sản. Ông đã mất cơ nghiệp của mình cho Quỹ Tín thác, rồi cả xe lẫn nhà. Tài khoản ngân hàng của ông bị phong tỏa. Trường của con ông bị đóng cửa, mà nếu không thì chúng cũng bị trục xuất khỏi đó. Đồ gia bảo bị tịch thu, cả chiếc radio cũng vậy. Cả gia đình bị cấm đặt chân vào trung tâm Cracow, cấm đi tàu hỏa. Họ chỉ có thể đi toa tàu điện riêng biệt. Vợ, con gái và các con trai ông thỉnh thoảng lại bị lùa đi xúc tuyết hoặc các loại hình lao động bắt buộc khác. Họ không bao giờ biết, khi bị tống lên thùng xe tải, mình sẽ vắng mặt lâu hay chóng, và loại sĩ quan điên khùng hơi tí là bóp cò nào sẽ giám sát công việc của họ. Dưới chế độ này, họ cảm thấy đời chẳng còn chỗ nào bấu víu, và mình đang trượt xuống một hố sâu không đáy. Nhưng có lẽ ghetto chính là đáy, nơi họ có thể bắt đầu bình tâm suy nghĩ.
Ngoài ra, người Do Thái Cracow - bẩm sinh có lẽ là cách miêu tả thích hợp nhất - đã quen với ý niệm ghetto. Và giờ khi sắc lệnh đã ra, chính từ ấy lại mang đến một âm hưởng cổ xưa làm yên lòng người. Khi xưa, cha ông họ cũng không được phép bước ra khỏi ghetto Kazimierz mãi đến tận 1867, khi Franz Josef ký sắc lệnh cho phép họ định cư ở bất cứ đâu trong thành phố. Những kẻ hoài nghi bảo người Áo phải mở cửa Kazimierz, nằm sát Cracow như một cái hốc ở khúc quanh của dòng sông, để lao động Ba Lan tìm được chỗ ở gần nơi làm việc. Nhưng bất kể thế nào, Franz Josef vẫn được thế hệ người già của Kazimierz tôn kính nhiệt thành, như ở gia đình Oskar Schindler thời thơ ấu.
Mặc dù tự do đến muộn như vậy, nhưng ở những người già đồng thời lại có một nỗi nhớ tiếc ghetto Kazimierz ngày xưa. Ghetto đồng nghĩa với bẩn thỉu, nhà cửa chật chội, tắm rửa chung chạ, tranh giành cãi cọ nhau từng chỗ phơi quần áo. Thế nhưng nó cũng quy tụ người Do Thái về với nét đặc biệt của chính họ, với sự giàu có của trí tuệ tập thể, với ca hát và bàn luận về Zion, khi chen vai thích cánh trong những quán cà phê nếu không sẵn kem sữa thì vẫn đầy ý tưởng. Có những tin đồn đáng sợ đến từ ghetto ở Łódź và Warsaw, nhưng căn cứ vào bản đồ thì ghetto của Podgórze tương đối rộng rãi, vì nếu đặt nó chồng lên bản đồ Trung tâm, ta sẽ thấy ghetto bằng cỡ một nửa khu Thành cổ về diện tích - nói rộng thì không phải, song cũng không đến nỗi ngột ngạt.
Sắc lệnh có một điều khoản có tính an thần khi cam kết bảo vệ dân Do Thái khỏi người Ba Lan đồng quốc. Từ đầu thập niên ba mươi ở Ba Lan đã nổi lên một cuộc đấu tranh chủng tộc có tổ chức. Từ khi Đại suy thoái bắt đầu và giá nông sản sụt giảm, chính quyền Ba Lan đã dung dưỡng một số tổ chức chính trị bài Do Thái và coi Do Thái là nguồn cơn của khó khăn kinh tế. Sanacja, đảng Thanh tẩy Đạo đức của Nguyên soái Pilsudski[2], sau khi cha đẻ của nó qua đời, bèn liên minh với Mặt trận Thống nhất Dân tộc, một đảng cánh hữu ngược đãi Do Thái. Đứng giữa Quốc hội ở Warsaw, Thủ tướng Skladkowski tuyên bố, “Chiến tranh kinh tế với dân Do Thái? Được thôi!” Đáng lẽ cải cách ruộng đất cho nông dân, Sanacja lại khuyến khích họ nhìn các quầy hàng Do Thái ngày phiên chợ như biểu tượng và lời giải thích toàn diện cho sự bần cùng của nông thôn Ba Lan. Hàng loạt vụ thảm sát Do Thái xảy ra ở các thành phố, khởi đầu với Grodno năm 1935. Các nhà lập pháp cũng nhảy vào vòng chiến, và các ngành kinh doanh của người Do Thái chết đói dưới các đạo luật tín dụng mới. Các phường nghề không tiếp nhận thợ thủ công Do Thái, các trường đại học định ra quota, hoặc như họ - với sở trường kinh viện - vẫn gọi là numerus clausus aut nullus (số lượng hạn chế hoặc không), với sinh viên Do Thái. Trước áp lực của Đảng Thống nhất Dân tộc, các khoa bố trí ghế băng riêng trong sân trường cho sinh viên Do Thái và lưu đày họ sang cánh trái ở các giảng đường. Một chuyện khá phổ biến ở các đại học Ba Lan là những thiếu nữ Do Thái thông minh xinh xắn vừa từ giảng đường bước ra thì dung mạo đã bị hủy dưới nhát dao lam từ tay một thanh niên gầy gò, nghiêm túc thuộc Mặt trận Thống nhất Dân tộc.
Khi vùng Đức thuộc mới thành lập, những kẻ chinh phục đã kinh ngạc trước sự nhiệt tình của dân Ba Lan trong việc chỉ điểm các gia đình Do Thái, giữ chặt một tên Do Thái để tóc thánh cho lính Đức cắt trụi bộ râu Chính thống giáo bằng kéo hoặc bằng lưỡi lê, quá tay rạch luôn da mặt. Thế nên, vào tháng Ba năm 1941, lời cam kết bảo vệ cư dân ghetto khỏi tư tưởng dân tộc cực đoan Ba Lan vang lên bên tai người Do Thái gần như khả tín.
Mặc dù không có niềm hân hoan tự phát nào trong cộng đồng Do Thái ở Cracow khi họ khăn gói dọn vào Podgórze, nhưng lần di cư ấy có những yếu tố giống đến kỳ lạ một sự về nhà, cùng với cảm giác chạm tới giới hạn mà sau đó, với một chút may mắn, họ sẽ không bị ly tán hay đàn áp thêm nữa. Giống đến mức có người từ các làng quanh Cracow, từ Wieliczka, từ Niepolomice, Lipnica, Murowana, Tyniec cũng hối hả dọn đến vì sợ bị kẹt lại ở ngoài sau ngày 20 tháng Ba giữa một khung cảnh khốn cùng hơn. Bởi ghetto về bản chất, và gần như trong định nghĩa, là chốn có thể nương thân, cho dù thỉnh thoảng vẫn bị tấn công. Ghetto đại biểu cho sự ổn định, thay vì biến động.
Ghetto sẽ mang đến một bất tiện nho nhỏ trong đời Oskar Schindler. Thường lệ, ông sẽ rời căn hộ sang trọng trên phố Straszewskiego, đi qua khối đá vôi có tên là Wavel, án ngữ trước cửa thành phố như nút bấc trên chai rượu, rồi chạy xuyên Kazimierz, qua cầu Kosciuszko và rẽ trái đến nhà máy tại Zablocie. Giờ thì tuyến đường này đã bị bức tường ghetto chặn lại. Chuyện nhỏ thôi, nhưng khiến ý tưởng duy trì một căn hộ trên tầng thượng của tòa văn phòng ở phố Lipowa thêm phần hợp lý. Khu nhà cũng không tệ, có phong cách kiến trúc của Walter Gropius. Nhiều kính và ánh sáng, lối vào ốp gạch lập phương rất thời thượng.
Mỗi khi đi lại giữa thành phố và Zablocie vào những ngày tháng Ba trước khi đến hạn vào ghetto, ông lại thấy người Do Thái ở Kazimierz đang gói ghém đồ đạc, và trên phố Stradom, vào đầu thời kỳ ân hạn, các gia đình đẩy xe cút kít chất đầy ghế, thảm và đồng hồ thẳng tiến về ghetto. Gia đình họ đã sống ở Kazimierz từ khi đây còn là một hòn đảo ngăn cách với trung tâm thành phố bởi dòng suối tên là Stara Wisła. Đúng ra là từ khi Kazimierz Đại đế mời họ tới Cracow, trong khi, ở nơi khác, họ đang phải gánh tội gây ra Cái chết Đen. Oskar đoán tổ tiên họ cũng đến Cracow như thế, đẩy xe cút kít đầy giường chiếu, hơn năm trăm năm về trước. Giờ đây, họ lại ra đi, xem ra vẫn với những cỗ xe đẩy. Lời mời của Kazimierz đã bị hủy bỏ.
Những sáng có việc đi ngang thành phố, Oskar nhận thấy kế hoạch của chính quyền là tiếp tục cho xe điện chạy dọc phố Lwówska, xuyên qua ghetto. Những đoạn đường đối diện đường tàu được thợ Ba Lan xây cao lên, nơi nào còn trống được xây tường xi măng bít lại. Mặt khác, xe điện sẽ đóng cửa khi vào ghetto và không dừng lại cho đến khi quay về Umwelt, thế giới của chủng tộc Aryan, ở góc phố Lwówska và Św Kingi. Oskar biết kiểu gì người ta rồi cũng sẽ bắt chuyến tàu ấy. Cửa đóng, tàu không dừng, súng máy trên bờ tường - có hề gì? Đó là cố tật vô phương cứu chữa của nhân loại. Sẽ có người tìm cách nhảy xuống, một cô hầu gái Ba Lan trung thành ôm bọc xúc xích. Và sẽ có người tìm cách nhảy lên, một thanh niên nhanh nhẹn, thể thao như Leopold Pfefferberg, túi đựng đầy kim cương hay tiền złoty của vùng Chiếm đóng hay một bức điện mật cho quân kháng chiến. Con người phản ứng trước mọi cơ hội nhỏ nhoi, cho dù nó đến từ bên ngoài, cửa khóa chặt, di chuyển nhanh giữa những bức tường câm lặng.
*
Từ ngày 20 tháng Ba, công nhân Do Thái của Oskar sẽ không được lĩnh lương và phải hoàn toàn sống dựa vào khẩu phần. Thay vào đó ông sẽ phải đóng lệ phí cho Trụ sở SS ở Cracow. Cả Oskar và Madritsch đều lấy thế làm bất an, bởi họ biết rồi chiến tranh cũng sẽ kết thúc và chủ nô lệ, giống như ở Mỹ, sẽ bị lăng nhục và tước đoạt sạch sẽ. Khoản tiền phải nộp cho các trùm cảnh sát là mức phí do Văn phòng Hành chính và Kinh tế của SS quy định - 7,50 Reichsmark một ngày cho một nhân công lành nghề và 5 RM cho lao động thô sơ và phụ nữ. Vậy tức là rẻ hơn giá nhân công trên thị trường tự do. Nhưng với cả Oskar và Julius Madritsch nỗi băn khoăn về đạo đức còn nặng hơn lợi thế kinh tế. Năm đó, trả lương cho công nhân là điều ít khiến Oskar lo lắng nhất. Ngoài ra, ông chưa bao giờ là một nhà tư bản lý tưởng. Thời trẻ, ông thường bị cha trách mắng vì tiêu pha bừa bãi. Từ hồi mới là anh bán hàng, ông đã sở hữu hai ô tô, những mong Hans sẽ biết tin và bị sốc. Ngày nay, tại Cracow ông thừa sức mua đầy một chuồng - một chiếc Minerva của Bỉ, một chiếc Maybach, một chiếc Adler mui trần, một chiếc BMW.
Hoang tàng nhưng vẫn giàu có hơn người cha nghiêm cẩn của mình - đó là một trong những vinh quang mà Schindler mong muốn trong đời. Vào thời buổi kinh tế bùng nổ, chi phí nhân công chỉ là chuyện vặt.
Với Madritsch cũng vậy. Nhà máy quân phục của Julius Madritsch tọa lạc ở phía Tây ghetto, cách nhà máy của Oskar chừng một dặm. Việc kinh doanh tốt đến mức ông đang đàm phán để mở thêm một cơ sở nữa tại Tarnow. Ông cũng là con cưng của Tổng cục Quân giới, có độ tín nhiệm cao đến mức được vay một triệu złoty từ Ngân hàng Emisyjny[3].
Cho dù lương tâm có thấy ghê tởm thế nào, cũng ít có khả năng hai doanh nhân, Oskar và Julius, cảm thấy bị đạo đức ngăn cấm thuê thêm lao động Do Thái. Đó là vấn đề lập trường, và bởi họ vốn thực dụng, lập trường không phải là phong cách của họ. Dù gì đi nữa, chính Itzhak Stern và Roman Ginter, doanh nhân và đại diện của Văn phòng Cứu trợ thuộc Judenrat, đã tìm đến Oskar lẫn Julius để nài họ thuê người Do Thái, được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Mục đích là tạo cho ghetto giá trị lâu bền về kinh tế. Một quan niệm gần như hiển nhiên trong suy nghĩ của Stern và Ginter thời điểm ấy, là một người Do Thái có giá trị kinh tế, tại một đế chế tăng trưởng bộc phát và đói nhân công trình độ cao, sẽ an toàn trước những điều tồi tệ hơn. Oskar và Madritsch tán thành.
*
Vậy là trong hai tuần, người Do Thái xiêu vẹo đẩy xe cút kít từ Kazimierz qua cầu đi vào Podgórze. Những gia đình trung lưu có người hầu Ba Lan giúp đẩy xe cùng. Dưới đáy xe là những trâm cài áo còn sót lại, áo lông thú, của nả giấu gậm giường, ấm nước và xoong chảo. Người Ba Lan tụ tập trên phố Stradom và Starovislna, dè bỉu và ném bùn. “Bọn Do Thái cút rồi, bọn Do Thái cút rồi. Chào nhé, Do Thái.”
Bên kia cầu, chiếc cổng gỗ cầu kỳ chào đón những công dân mới của ghetto. Màu sơn trắng và họa tiết vỏ sò trên tường khiến nó đậm chất Arabesque. Có hai cổng vòm rộng để xe điện từ Cracow đi vào và đi ra, bên hông là một bốt gác sơn trắng. Ở trên cổng vòm, dòng chữ tiếng Hebrew như cố trấn an. THỊ TRẤN DO THÁI, nó tuyên bố. Hàng rào thép gai chạy dọc mặt trước nhìn ra sông của ghetto, trong khi những đoạn trống được bịt lại bằng những tấm bê tông cao gần ba mét, đỉnh lượn tròn, nhìn như một hàng bia mộ vô danh.
Ở cổng ghetto, đoàn người đẩy xe được đại diện Văn phòng Nhà ở của Judenrat đón tiếp. Nếu có vợ và gia đình đông người, anh sẽ được cấp hai phòng và quyền sử dụng bếp. Mặc dù vậy, sau thời kỳ ăn ở tiện nghi thập niên hai mươi và ba mươi, giờ đây thật khốn khổ khi phải chia sẻ cuộc sống riêng tư với những gia đình bất đồng về nghi lễ, khác biệt và khó chịu về mùi vị và nếp sống. Các bà rền rĩ, còn các ông bảo khéo rồi còn tệ hơn, chắt lưỡi và lắc đầu. Chung một phòng, nhà Chính thống thấy nhà Tự do thật gớm ghiếc.
Ngày 20 tháng Ba, cuộc di cư hoàn tất. Ai còn ở ngoài đều phải đối mặt với hình phạt và nguy hiểm. Bên trong, tạm thời, vẫn còn đất sống.
Edith Liebgold, hai mươi ba tuổi, được nhận một phòng ở tầng một cùng với mẹ và con nhỏ. Việc Cracow thất thủ mười tám tháng trước đã đẩy chồng cô vào tình trạng gần như tuyệt vọng. Anh bỏ nhà đi lang thang như để tìm kiếm lối thoát cho mình. Anh nói đến chuyện vào rừng, đến chuyện tìm một bãi đất trống an toàn. Và anh không quay về nữa.
Từ cửa sổ cuối phòng, Edith Liebgold có thể nhìn thấy sông Vistula sau hàng rào thép gai, nhưng con đường từ nhà cô đến các khu khác của ghetto, đặc biệt là đến bệnh viện trên phố Wegierska, phải chạy qua Plac Zgody, Quảng trường Hòa bình, quảng trường duy nhất ở ghetto. Tại đây, trong ngày thứ hai sống giữa những bức tường, thiếu đúng hai mươi giây nữa là cô bị bắt lên xe tải của SS đi xúc than hoặc tuyết trong thành phố. Việc đội lao động, theo lời đồn, thường trở về ghetto thiếu một vài người so với lúc đi chỉ là một chuyện. Với Edit, đáng sợ hơn cả sự may rủi ấy là việc bị tống lên xe tải khi, chỉ nửa phút trước, cô vẫn đang định đi hiệu thuốc của Pankiewicz, và hai mươi phút nữa cô phải cho con bú.
Thế nên cô cùng các bạn đi đến Văn phòng Việc làm Do Thái. Nếu cô có thể được nhận vào làm ca, mẹ cô sẽ trông em bé vào ban đêm.
Những ngày đầu văn phòng rất đông khách. Judenrat nay đã có cảnh sát riêng, Ordnungsdienst (hay OD), được mở rộng và biên chế thường trực để duy trì trật tự của ghetto, và một thanh niên đội mũ kêpi, đeo băng tay hướng dẫn mọi người xếp hàng trước cửa văn phòng.
Nhóm của Edith Liebgold chỉ vừa vào đến cửa và đang chuyện trò rôm rả để giết thời gian thì một người đàn ông trung niên nhỏ nhắn mặc complet nâu và đeo cà vạt, tiếp cận cô. Họ có thể nhìn ra ông ta bị thu hút bởi sự ồn ào và tươi trẻ của họ. Đầu tiên họ tưởng ông ta định à ơi Edith.
“Này,” ông ta nói, “thay vì xếp hàng… có một nhà máy tráng men bên Zablocie.”.
Ông ta để cái tên tự gây ấn tượng. Zablocie nằm ngoài ghetto, ông ta tiếp. Các cô có thể đổi chác với công nhân Ba Lan ở đó. Ông ta cần mười phụ nữ khỏe mạnh để làm ca đêm.
Họ làm bộ nhăn mặt, như thể họ vẫn có quyền chọn lựa công việc và thậm chí có thể từ chối. Không vất vả đâu, ông ta đảm bảo. Và họ sẽ dạy nghề cho các cô. Ông ta giới thiệu mình là Abraham Bankier. Ông ta là quản lý. Chủ là người Đức, đương nhiên rồi. Đúc loại nào? họ hỏi. Bankier toét miệng cười, như thể đột nhiên muốn đáp ứng mọi hy vọng của họ. Loại không tệ đâu, ông ta nói.
Đêm đó, Edith Liebgold gặp những thành viên ca đêm còn lại của nhà máy tráng men và đi từ ghetto sang Zablocie dưới sự giám sát của một OD Do Thái. Khi đứng trong hàng cô hỏi thăm về Deutsche Email Fabrik. Xúp ở đây nhiều cái lắm, họ nói. Có bị đánh không? Cô hỏi. Chỗ này không phải loại ấy đâu, họ đáp. Không như nhà máy dao cạo của Beckmann đâu; giống chỗ Madritsch hơn. Madritsch là người tốt, và Schindler cũng vậy.
Ở cổng vào nhà máy, nhóm công nhân ca đêm mới được Bankier gọi ra khỏi hàng và đưa lên tầng, đi qua một dãy bàn trống, đến trước cánh cửa có dòng chữ HERR DIREKTOR. Edith Liebgold nghe thấy một giọng nói trầm ấm mời họ vào. Họ thấy Herr Direktor đang ngồi ở góc bàn, hút thuốc. Mái tóc ông, đâu đó giữa màu vàng và nâu nhạt, nhìn như mới chải; ông mặc một bộ vét hai hàng cúc, thắt cà vạt lụa. Trông ông đích thị là người sắp đi dự tiệc tối, nhưng đã đặc biệt nán lại để nói vài lời với họ. Ông rất cao lớn; ông vẫn còn trẻ. Giữa một cơn ác mộng sặc mùi Hitler, Edith chờ đợi một bài giảng về nỗ lực thời chiến và nâng cao năng suất.
“Tôi muốn chào mừng các bạn,” ông nói tiếng Ba Lan. “Các bạn là một phần trong kế hoạch mở rộng nhà máy.” Ông nhìn đi chỗ khác; không khéo ông còn nghĩ, Đừng bảo họ rằng - họ chẳng có vai trò gì ở đây.
Thế rồi, không nháy mắt, không mào đầu, không nhún vai để giảm nhẹ tính tuyệt đối trong câu nói, ông bảo họ: “Làm việc ở đây, các bạn sẽ an toàn. Nếu làm ở đây, các bạn sẽ sống sót qua chiến tranh.” Ông chào tạm biệt và cùng họ rời văn phòng, cho phép Bankier giữ họ lại ở đầu cầu thang, để Herr Direktor có thể xuống trước và ngồi vào sau vô lăng.
Lời hứa làm họ choáng váng. Nó như lời hứa của Chúa. Người trần sao có thể nói ra một lời hứa như vậy? Nhưng Edith Liebgold thấy mình tin ngay lập tức. Không hẳn vì cô muốn tin; cũng không phải vì nó là một sự dỗ dành, một lời khích lệ táo bạo. Mà bởi khi Herr Schindler thốt lên lời hứa ấy, ông không cho cô lựa chọn nào khác, ngoài tin.
Nhóm công nhân mới nhận hướng dẫn công việc trong cơn ngây ngất. Như thể một bà lão digan gàn dở chẳng cần lợi lộc gì vẫn tiên đoán họ sẽ lấy một chàng bá tước làm chồng. Lời hứa đã thay đổi vĩnh viễn kỳ vọng của Edith Liebgold vào cuộc sống. Giả sử họ có bắn cô thật, có lẽ cô sẽ đứng đó và phản đối, “Nhưng Herr Direktor đã bảo điều này không thể xảy ra.”
Công việc không đòi hỏi trí óc. Edith dùng một cây gậy dài, đầu có móc để đem bình đã tráng men đến lò luyện. Khi làm việc cô luôn tâm niệm lời hứa của Herr Schindler. Chỉ người điên mới hứa những lời tuyệt đối như thế. Hứa không chớp mắt. Nhưng ông không điên. Bởi ông là một doanh nhân có bữa tiệc tối phải đi. Thế tức là ông biết. Nhưng thế nghĩa là ông có thiên nhãn, có liên hệ sâu xa với quỷ thần, hay gì đấy tương tự. Có điều, ngoại hình của ông, bàn tay đeo nhẫn vàng mặt ấn, không phải là bàn tay của đấng tiên tri. Đấy là tay của một tửu đồ; bàn tay nơi ta có thể mơ hồ cảm thấy những vuốt ve thầm kín. Và thế là cô lại trở về với ý nghĩ rằng ông bị điên, bị say, với những cách giải thích huyền bí, với ma thuật mà Herr Direktor đã dùng để gieo vào cô một niềm tin xác quyết.
Những vòng suy nghĩ luẩn quẩn tương tự sẽ nảy sinh vào năm đó và những năm tiếp theo trong đầu những ai nhận được lời hứa bốc đồng ấy của Oskar Schindler. Một số sẽ ý thức được cái hệ quả không ai nói ra. Nếu con người này sai lầm, nếu ông ta tùy tiện sử dụng quyền lực để đưa ra lời phán quyết, thì nghĩa là chẳng có Chúa, có lòng nhân đạo, có bánh mì, có cứu khổ cứu nạn gì hết. Chỉ còn, dĩ nhiên, may rủi, và xem ra vận may không đứng về phía họ.
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn: triptych, phù điêu hoặc bình phong gồm ba bức, một chính và hai cánh hai bên.
[2] Chính khách, tướng lĩnh và nhà độc tài trên thực tế ở Ba Lan, mất năm 1935.
[3] Ngân hàng do Đức thành lập, hoạt động tương tự như một ngân hàng trung ương ở vùng Đức thuộc.