Thời hoàng kim của Oskar đã kết thúc. Thời bình sẽ không bao giờ giúp ông thăng hoa như thời chiến. Oskar và Emilie đến Munich. Họ ở chung với anh em Rosner một thời gian, vì Henry và em trai đã tìm được suất chơi nhạc tại một nhà hàng ở Munich với thu nhập không đến nỗi nào. Một cựu tù, khi gặp ông ở căn hộ nhỏ bé, chật chội của nhà Rosner, ngỡ ngàng khi thấy chiếc áo khoác rách của ông. Tài sản của ông ở Cracow và Moravia, tất nhiên, đã bị quân Nga tịch thu, chỗ trang sức sót lại đã mang đổi hết lấy thức ăn và rượu. Khi nhà Feigenbaum đến Munich, họ gặp tình nhân mới nhất của ông, một cô gái Do Thái, một tù nhân sống sót không phải từ Brinnlitz mà từ một nơi khác khắc nghiệt hơn. Khách khứa, khi tới thăm Oskar ở nhà thuê, dù có bao dung với những điểm yếu người hùng của ông đến mấy, vẫn thấy hổ thẹn vì thương cảm cho Emilie.
Ông vẫn là một người bạn vô cùng hào phóng và một cao thủ săn lùng hàng hiếm. Henry Rosner nhớ ông vẫn tìm được mối bán gà giữa một Munich không đào đâu ra gà. Ông gắn bó với những cựu tù Do Thái đã đến Đức định cư - nhà Rosner, nhà Pfefferberg, nhà Dresner, nhà Feigenbaum, nhà Sternberg. Một số đầu óc hay hoài nghi sau này sẽ nói thời kỳ ấy ai dính dáng đến trại tập trung nếu khôn ra đều gần gũi bạn bè Do Thái để tô hồng lớp vỏ bảo vệ bản thân. Nhưng sự tin cậy của ông đã vượt ra ngoài thứ khôn lanh bản năng ấy. Schindlerjuden đã trở thành gia đình của Oskar.
Giống như họ, ông biết tin Amon Goeth đã bị quân Mỹ của tướng Patton bắt giữ từ tháng Hai, khi đang nằm ở viện điều dưỡng SS tại Bad Tolz. Y bị giam ở Dachau và khi chiến tranh kết thúc bị giao lại cho chính quyền Ba Lan. Trên thực tế, Amon là một trong những người Đức đầu tiên bị xét xử ở Ba Lan. Một số cựu tù được mời tham dự phiên tòa với tư cách nhân chứng, và trong số các nhân chứng của bên bị mà Amon giữa cơn hoang tưởng định mời ra, có Helen Hirsch và Oskar Schindler. Oskar không đích thân đến Cracow dự phiên tòa. Những người có mặt thấy Goeth, gầy đi vì tiểu đường, bào chữa một cách nhỏ nhẹ nhưng không chút ăn năn. Tất cả các sắc lệnh hành quyết hoặc vận chuyển tù nhân, gã tuyên bố, đều do thượng cấp của gã ký, và do đó là tội của họ chứ không phải của gã. Các nhân chứng kể lại việc viên Commandant tự tay giết người, theo gã, đều cố tình bóp méo sự thật. Đúng là có một số bị xử tử vì tội phá hoại, nhưng thời chiến bao giờ chả có những phần tử phá hoại.
Mietek Pemper, ngồi chờ ở dưới để lên làm chứng, ngồi cạnh một cựu tù Płaszów, người chằm chằm nhìn Amon trước vành móng ngựa và thì thào, “Tới giờ hắn vẫn làm tôi khiếp sợ.” Nhưng Pemper, với tư cách nhân chứng số một của bên công tố, đã liệt kê một cách chính xác tội ác của Amon. Tiếp theo anh là những người khác, trong đó có bác sĩ Biberstein và Helen Hirsch, chủ nhân của những ký ức xác thực và đau đớn. Amon bị kết án tử hình và bị treo cổ ở Cracow vào hôm 13 tháng Chín năm 1946, hai năm sau ngày gã bị SS bắt giữ ở Vienna với tội danh buôn bán chợ đen. Theo báo chí Cracow, gã lên đoạn đầu đài không chút ăn năn, và làm động tác chào Quốc xã trước khi chết.
Ở Munich, Oskar đứng ra nhận diện Leipold, khi y bị quân Mỹ tạm giữ. Một cựu tù Brinnlitz đi cùng Oskar và kể lại, khi y phản đối, Oskar hỏi, “Mi muốn ta làm việc này, hay mi thích để năm mươi người Do Thái phẫn uất đang đợi dưới đường làm điều đó?” Liepold cũng sẽ bị treo cổ - không phải vì tội ác ở Brinnlitz mà vì những vụ sát nhân thời ở Budzyn.
Lúc này có lẽ Oskar đã nhen nhóm ý tưởng mở nông trang ở Argentina, chăn nuôi hải ly, loài động vật gặm nhấm thủy sinh cỡ lớn ở Nam Mỹ, có bộ da đắt giá. Oskar tin rằng bản năng kinh doanh nhạy bén từng mang ông đến Cracow năm 1939 giờ đây đang thôi thúc ông vượt Đại Tây Dương. Ông chẳng còn xu dính túi, nhưng Ủy ban Cứu trợ Do Thái, tổ chức Oskar đã cung cấp thông tin trong thời chiến, và biết rõ thành tích của ông, sẵn lòng giúp đỡ. Năm 1949 họ dành cho ông một khoản vay ex gratia[1] 15.000 đô la Mỹ và một lá thư giới thiệu (“Gửi những ai liên quan”), do M. W. Beckelman, Phó chủ tịch Hội đồng Điều hành tổ chức này ký. Thư viết: Ủy ban Cứu trợ Do Thái tại Mỹ đã điều tra kỹ hành động của ông Schindler vào thời chiến và giai đoạn Đức thuộc… Chúng tôi hết lòng kêu gọi mọi tổ chức và cá nhân được ông Schindler liên hệ hãy làm hết sức mình để giúp đỡ ông, nhằm ghi nhận những thành tích vượt bậc của ông… Dưới vỏ bọc điều hành một trại lao động, đầu tiên ở Ba Lan và sau đó ở Sudetenland, ông Schindler đã tuyển mộ và bảo vệ những lao động Do Thái mà số phận đã định sẽ phải chết ở Auschwitz hoặc các trại tập trung ô nhục khác…
“Trại của Schindler tại Brinnlitz,” các nhân chứng từng nói với Ủy ban Cứu trợ Do Thái, “là trại duy nhất trên vùng lãnh thổ bị Đức Quốc xã chiếm đóng nơi người Do Thái chưa bao giờ bị giết, bị đánh đập, mà luôn được đối xử như con người.”
Giờ đây, khi ông sắp bắt đầu cuộc đời mới, hãy chung tay giúp ông, như ông từng giúp đồng bào của chúng ta.
Khi lên tàu sang Argentina, ông đem theo sáu gia đình Schindlerjuden, và trả tiền vé cho nhiều người trong số họ. Cùng với Emilie, ông định cư ở một trang trại tại tỉnh Buenos Aires và làm ăn ở đây gần mười năm. Những cựu tù không được thấy ông trong những năm tháng ấy, giờ cảm thấy khó lòng hình dung ra ông trong vai nông dân, do Oskar chưa bao giờ là người của nếp sống đều đặn. Một số nhận xét, và cũng có lý của nó, rằng sở dĩ mô hình kỳ dị của Emalia và Brinnlitz thành công là nhờ sự nhạy bén của những người như Stern và Bankier. Đến Argentina, Oskar không còn sự hậu thuẫn ấy, tất nhiên trừ đầu óc tỉnh táo và sự tần tảo của Emilie. Thập niên Oskar nuôi hải ly, tuy nhiên, lại là giai đoạn người ta nhận ra rằng, chất lượng da hải ly nuôi không đạt tiêu chuẩn như hải ly đánh bẫy. Nhiều dự án hải ly khác cũng thất bại, và vào năm 1957, trang trại của nhà Schindler phá sản. Emilie và Oskar dọn đến một căn nhà do tổ chức B’nai B’rith bố trí ở San Vicente, ngoại ô phía Nam Buenos Aires, và Oskar đi làm nhân viên tiếp thị một thời gian. Tuy vậy, chưa đầy một năm, ông bỏ về Đức. Còn Emilie ở lại.
Sống trong một căn hộ nhỏ ở Frankfurt, ông tìm nguồn vốn để mua một nhà máy xi măng, và theo đuổi khả năng đòi bồi thường lớn của Bộ Tài chính Tây Đức cho những tài sản bị mất ở Ba Lan và Czechoslovakia. Nỗ lực ấy chẳng đi đến đâu. Một số cựu tù cho rằng chính quyền không bồi thường cho Oskar là vì trong hàng ngũ viên chức bậc trung vẫn còn tàn dư của tư tưởng Hitler. Nhưng thất bại của Oskar có lẽ vì lý do kỹ thuật, bởi trong các công văn Bộ Tài chính gửi Oskar không phát hiện thấy có biểu hiện gian lận hành chính.
Schindler khởi nghiệp sản xuất xi măng nhờ vốn của Ủy ban Cứu trợ Do Thái cùng “vốn vay” của một số cựu tù thành đạt tại Đức thời hậu chiến. Vòng đời của nó rất ngắn ngủi. Đến năm 1961, Oskar lại phá sản. Nhà máy của ông gặp thiệt hại vì liên tiếp nhiều mùa đông thời tiết khắc nghiệt khiến ngành xây dựng đóng cửa, nhưng một số cựu tù nghĩ rằng một phần căn nguyên thất bại đến từ nết không chịu ngồi yên và khó khép mình vào khuôn khổ của Oskar.
Năm đó, hay tin ông gặp khó khăn, các Schindlerjuden từ Israel mời ông đến chơi và đài thọ mọi chi phí. Báo tiếng Ba Lan ở Israel đăng tin nhắn mời các cựu tù của Trại tập trung Brinnlitz, những người từng biết “Oskar Schindler người Đức”, liên hệ với tờ báo. Ở Tel Aviv, Oskar được chào đón nồng nhiệt. Con cái sinh sau chiến tranh của các cựu tù xúm xít vây quanh ông. Ông béo ra, khuôn mặt cũng nặng nề hơn. Nhưng tại những buổi chiêu đãi, người quen cũ đều nói ông vẫn là Oskar hào sảng ngày xưa. Giọng đùa gầm gừ sắc sảo, nét phong lưu hào nhoáng kiểu Charles Boyer, tửu lượng như hũ chìm, tất cả vẫn vẹn nguyên sau hai lần phá sản.
Đó lại là năm xét xử Adolf Eichmann, và việc Oskar đến Israel thu hút sự chú ý của báo giới quốc tế. Trước ngày khai mạc phiên tòa phóng viên tờ Daily Mail London đã viết một bài về sự tương phản trong lý lịch của hai nhân vật và trích lời nói đầu từ bức thư ngỏ của các Schindlerjuden kêu gọi giúp đỡ Oskar: “Chúng ta không quên nỗi đau Ai Cập, chúng ta không quên Haman[2], chúng ta không quên Hitler. Nhưng, bên cạnh quân tà ác, chúng ta cũng không quên những người chính trực. Hãy nhớ Oskar Schindler.”
Một số người sống sót sau Holocaust tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của một trại lao động nhân đạo như của Oskar, và nỗi hoài nghi ấy được phản ánh qua một phóng viên dự cuộc họp báo với Schindler ở Jerusalem. “Ông giải thích thế nào,” anh này hỏi, “về việc ông quen biết hết giới sĩ quan SS cao cấp tại Cracow và thường xuyên làm ăn với chúng?” “Vào giai đoạn lịch sử ấy,” Oskar nói, “thảo luận về số phận người Do Thái với đức Chưởng giáo Jerusalem là điều hơi khó khăn.”
Bộ phận Xác minh của Yad Vashem, vào cuối thời gian Oskar định cư ở Argentina, đã tìm đến và nhận được bản tường trình do ông cung cấp về hoạt động của mình tại Cracow và Brinnlitz. Giờ đây, chủ động và dưới tác động của Itzhak Stern, Jakob Sternberg và Moshe Bejski (khi xưa là chuyên gia làm giả con dấu cho Oskar, nay là một luật sư uyên bác và khả kính), Ủy ban Thác quản của Yad Vashem bắt đầu cân nhắc một hình thức tôn vinh chính thức dành cho Oskar. Chủ tịch Ủy ban là Thẩm phán Landau, chánh án tại phiên tòa xét xử Eichmann. Yad Vashem tìm kiếm và thu về rất nhiều lời chứng về Oskar. Trong số lượng lớn những đánh giá này, có bốn là phê phán. Mặc dầu cả bốn nhân chứng đều thừa nhận, nếu không có Oskar thì bọn họ đã chết, họ vẫn phê phán cách thức kinh doanh của ông trong những tháng đầu cuộc chiến.
Hai trong số bốn lời chúng tiêu cực ấy là của hai bố con, được nhắc tới trong phần đầu dưới cái tên C. Oskar đã đưa tình nhân của ông, Ingrid, vào làm Treuhänder (quản lý) ở đại lý đồ tráng men của họ tại Cracow. Lời chứng thứ ba từ thư ký của C, nhắc lại cáo buộc ông dùng nắm đấm và hăm dọa, những tin đồn mà Stern đã thông tin lại với Oskar từ năm 1940. Cuối cùng là một người khẳng định có cổ phần ở nhà máy tráng men của Oskar trước chiến tranh, khi nó mang tên cũ là Rekord, song Oskar đã phớt lờ quyền lợi của ông ta.
Thẩm phán Landau và Ủy ban của ông chắc đã xem bốn cáo buộc này là không đáng kể khi đặt cạnh vô vàn lời chứng của các Schindlerjuden khác, và họ không bình luận gì. Dù gì đi nữa, cả bốn vẫn thừa nhận Oskar đã cứu mạng họ, nên người ta bảo Ủy ban đã đặt câu hỏi tại sao, nếu đã gây tội lỗi với những người này, Oskar còn vượt bao gian truân khổ ải để cứu họ làm gì.
Thành phố Tel Aviv là nơi đầu tiên vinh danh Oskar. Vào sinh nhật thứ năm mươi ba của Oskar, ông khánh thành tấm bia tại Công viên Anh hùng. Văn tự trên bia ca ngợi ông cứu mạng 1.200 tù nhân tại AL Brinnlitz, và tuy nó chưa phản ánh hết, về mặt số lượng, thành tích thật sự của ông, nó tuyên bố tấm bia được dựng lên bằng tình yêu và lòng biết ơn. Mười ngày sau, ở Jerusalem, Oskar được phong là Người Hiệp nghĩa, một danh hiệu đặc hữu của Israel, bắt nguồn từ một giả thuyết xa xưa của chủng tộc Hebrew, rằng giữa biển người phi Do Thái, Chúa Trời luôn ban tặng cho họ một mẻ những người chính trực. Oskar còn được mời trồng một cây carob trên Đại lộ Hiệp nghĩa dẫn tới Bảo tàng Yad Vashem. Ngày nay cây vẫn còn, có gắn biển, sánh vai cùng cây mang tên nhiều người Hiệp nghĩa khác. Tại đây còn có cây của Julius Madritsch, người đã liều lĩnh nuôi dưỡng và bảo vệ công nhân của mình theo một cách chưa hề nghe đến tại các nhà máy của Krupp và Farben, và một cây của Raimund Titsch, quản đốc của Madritsch ở Płaszów. Trên triền đồi sỏi đá này, hiếm có cây lưu niệm nào mọc cao hơn ba mét.
Truyền thông Đức đưa tin về thành tích thời chiến của Oskar và các nghi lễ ở Yad Vashem. Những tin bài ấy, dù luôn tán tụng, không làm cuộc sống của ông dễ dàng hơn. Ông bị phỉ nhổ, bị ném đá trên đường phố Frankfurt, một tốp công nhân giễu cợt ông và nói ông nhẽ ra phải bị hỏa thiêu cùng bọn Do Thái. Năm 1963, ông đấm một công nhân, kẻ gọi ông là “đồ bợ đít Do Thái”, và bị y kiện vì tội hành hung. Tại tòa án địa phương, nấc thấp nhất ở hệ thống tư pháp Đức, Oskar được viên chánh án giáo huấn một bài trước khi phạt ông bồi thường thiệt hại. “Lẽ ra tôi đã tự sát,” Oskar viết cho Henry Rosner ở Queens, New York, “nếu điều đó không làm chúng hả hê đến thế.”
Những lăng nhục ấy càng gia tăng sự phụ thuộc của ông vào các cựu tù. Họ là bảo đảm duy nhất về tình cảm lẫn tài chính cho Oskar. Suốt phần đời còn lại, mỗi năm ông lại đến với họ vài tháng, sống trong an nhàn và trân trọng giữa Tel Aviv hay Jerusalem, ăn miễn phí ở một nhà hàng Rumania trên phố Ben Yehudah, Tel Aviv, dẫu đôi khi vẫn bị Moshe Bejski, vì lòng hiếu thuận, cố hạn chế tửu lượng của ông xuống ba ly đúp cognac một tối. Nhưng rốt cuộc, ông vẫn luôn phải trở về với nửa kia của tâm hồn mình: con người bị tước đoạt hết thảy; căn hộ chật chội, tồi tàn chỉ cách nhà ga Frankfurt vài trăm mét. Viết thư từ Los Angeles cho các Schindlerjuden khác trên đất Mỹ vào năm ấy, Poldek Pfefferberg kêu gọi tất cả các cựu tù quyên góp ít nhất một ngày lương cho Oskar Schindler, người, theo lời anh, đang trong tình trạng “chán chường, cô đơn, vỡ mộng”.
Mối liên hệ của Oskar và các Schindlerjuden được duy trì định kỳ hằng năm. Đó là một sự luân chuyển theo mùa - nửa năm là cánh bướm Israel, nửa năm là con sâu Frankfurt. Ông thường xuyên túng thiếu.
Một Ủy ban ở Tel Aviv, với Itzhak Stern, Jakob Sternberg và Moshe Bejski là thành viên, tiếp tục vận động chính quyền Tây Đức dành cho Oskar một khoản trợ cấp tương xứng. Căn cứ của họ là những hành động anh hùng của Oskar trong thời chiến, những tài sản ông đã mất, và sức khỏe yếu ớt của ông lúc này. Phản ứng chính thức đầu tiên của chính phủ Đức, mặc dầu vậy, lại là trao tặng ông Huân chương Công trạng năm 1966, trong một buổi lễ do Konrad Adenauer chủ trì. Mãi tới tận 1 tháng Bảy năm 1968, Bộ Tài chính mới vui mừng thông báo rằng kể từ hôm nay ông sẽ được trợ cấp 200 mark một tháng. Ba tháng sau, công dân lĩnh lương hưu Schindler được nhận danh hiệu Hiệp sĩ Thánh Sylvester từ tay Giám mục xứ Limburg.
Oskar vẫn sẵn sàng hợp tác với Bộ Tư pháp Liên bang để truy lùng tội phạm chiến tranh. Riêng trong việc này, dường như ông không hề khoan nhượng. Đúng ngày sinh nhật của mình năm 1967, ông cung cấp thông tin mật liên quan tới nhiều cán bộ của KL Płaszów. Bản ghi lời chứng của ông ngày hôm ấy cho thấy ông chẳng hề ngần ngại, nhưng cũng đầy thận trọng khi làm chứng. Nếu có nhân viên SS nào mà ông không biết hoặc biết ít, ông nói ngay. Ông đã nói như vậy về Amthor, về Zugsburger và về Fraulein Ohnesorge, một trong những nữ giám thị nóng tính. Thế nhưng ông không ngần ngại kết tội Bosch là kẻ sát nhân và bóc lột, và kể, khi nhận ra Bosch trên ga tàu ở Munich năm 1946, ông đã tiến lại và hỏi, sau Płaszów, hằng đêm y có ngủ được không.
Bosch, Oskar kể, thời điểm ấy đang sống bằng hộ chiếu Đông Đức. Một giám thị có tên là Mohwinkel, đại diện của Tổ hợp Vũ khí Đức ở Płaszów, cũng bị tố cáo thẳng thừng “thông minh nhưng tàn bạo,” Oskar nhận xét. Về vệ sĩ của Goeth, Grün, ông kể lại vụ y định xử tử Lamus, một tù nhân tại Emalia, và bị ông ngăn cản bằng một chai vodka (rất nhiều tù nhân khác cũng thuật lại chuyện này trong lời chứng của họ lưu giữ tại Yad Vashem). Về hạ sĩ quan Ritschek, Oskar nói y có ác danh, nhưng bản thân ông không biết gì về tội ác của y. Ông cũng không khẳng định được nhân vật trong bức ảnh Sở Tư pháp cho ông xem có phải là Ritschek không. Trong danh sách của Sở Tư pháp, một người duy nhất được ông hết lời khen ngợi. Đó là kỹ sư Huth, người đã giúp đỡ trong lần cuối cùng ông bị bắt. Huth, theo ông, được chính các tù nhân tôn trọng và đánh giá cao.
*
Bước sang tuổi sáu mươi, ông bắt đầu làm việc cho tổ chức Những Người Bạn Đức ở Đại học Hebrew. Việc này cũng xuất phát từ sự thúc giục của các Schindlerjuden - những người mong tìm cho Oskar một mục đích sống mới. Ông bắt đầu tham gia gây quỹ ở Tây Đức. Tài năng dụ dỗ và mê hoặc quan chức lẫn doanh nhân của ông một lần nữa có đất dụng võ. Ông còn góp phần xây dựng khuôn khổ trao đổi giáo dục cho trẻ em Đức và Israel.
Dù sức khỏe giảm sút, ông vẫn sống và uống như thanh niên. Ông yêu một phụ nữ Đức tên là Annemarie, sau khi gặp cô ở khách sạn Vua David tại Jerusalem. Đây sẽ là chỗ dựa tình cảm cho ông những năm cuối đời. Vợ ông, Emilie, vẫn sống tại căn nhà nhỏ tại San Vicente, phía Nam Buenos Aires, một mình, không có sự hỗ trợ tài chính từ Oskar. Thời điểm cuốn sách này được viết, bà vẫn đang sống ở đó. Giống như thời ở Brinnlitz, bà là một nhân cách cao quý và thầm lặng. Trong cuốn phim tài liệu do truyền hình Đức sản xuất năm 1973, bà chia sẻ - mà không có chút cay đắng hay than thân trách phận nào của người vợ bị bỏ rơi - về Oskar và Brinnlitz, và về những gì bà đã làm ở đây.
Một cách sắc sảo, bà nhận xét sự nghiệp của Oskar, trước lẫn sau chiến tranh, đều không có gì xuất sắc. Có thể nói ông đã may mắn, khi trong giai đoạn ngắn ngủi và khốc liệt từ 1939 đến 1945, ông đã gặp những người khơi dậy được những phẩm chất sâu kín trong ông. Năm 1972, nhân dịp Oskar đến thăm văn phòng điều hành ở New York của Hội Những Người Bạn Mỹ của Đại học Hebrew, ba Schindlerjuden, nay là cổ đông trong một công ty xây dựng lớn tại New Jersey, dẫn đầu một nhóm bảy mươi lăm cựu tù khác quyên góp 120.000 đô la để dành tặng Oskar một tầng trong Trung tâm Nghiên cứu Truman tại Đại học Hebrew. Nơi đây sẽ lưu giữ Cuốn sách Sinh mệnh, ghi lại nỗ lực cứu nạn của Oskar và danh sách những người được giải cứu. Hai trong ba cổ đông, Murray Pantirer và Isak Levenstein, mới mười sáu tuổi khi Oskar mang họ đến Brinnlitz. Những đứa con của Oskar nay đã thành cha mẹ ông, chỗ nương tựa của ông, nguồn vinh dự của ông. Ông đã yếu nhiều. Những người từng làm bác sĩ ở Brinnlitz - Alexander Biberstein chẳng hạn - thấy rõ điều này. Một người khuyến cáo bạn bè thân thiết của Oskar, “Ông ấy sống nổi đến giờ là một kỳ tích. Tim ông ấy đập hoàn toàn bằng sự bướng bỉnh.”
Tháng Mười năm 1974, ông đột quỵ tại căn hộ nhỏ gần ga Frankfurt, và mất tại bệnh viện vào ngày mồng 9. Giấy chứng tử xác định, xơ cứng cấp động mạch não và tim là nguyên nhân dẫn tới cái chết. Trong di chúc ông bày tỏ mong muốn từng đề cập với vài Schindlerjuden là được chôn cất ở Jerusalem. Trong vòng hai tuần, cha xứ dòng Francis ở thành phố đã cho phép Herr Oskar Schindler, một trong những con chiên ít tuân giáo lý nhất của Nhà thờ, được chôn cất tại Nghĩa trang Latin của Jerusalem.
Thêm một tháng trôi qua, trước khi thi hài Oskar, đặt trong quan tài bọc chì, được diễu qua đường phố đông đúc của Thành cổ Jerusalem, đến nghĩa trang Công giáo ngoảnh mặt về phương Nam, nhìn xuống Thung lũng Hinnom, trong kinh Tân ước gọi là Gehenna. Trong bức ảnh dòng người tiễn biệt ông đăng trên báo có thể thấy - bên cạnh những người Do Thái khác của Schindler - Itzhak Stern, Moshe Bejski, Helen Hirsch, Jakob Sternberg, Juda Dresner.
Ông được tiếc thương trên khắp các lục địa.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Latin, nghĩa là “vì lòng hảo tâm”, trong trường hợp này chỉ khoản vay không nhất thiết phải trả lại.
[2] Nhân vật trong Kinh Thánh, âm mưu sát hại toàn bộ người Do Thái.