Giữa những tù nhân biết chuyện, đã sớm có sự cạnh tranh để vào được Emalia. Tù nhân Dolek Horowitz, một nhân viên mua sắm trong trại Płaszów, biết rằng mình sẽ không đến được chỗ Schindler. Nhưng ông còn vợ và hai con.
Những sáng mùa xuân này Richard, cậu em, thường dậy sớm, khi mặt đất phả nốt chút hơi ẩm cuối đông dưới dạng sương mù, tuột xuống khỏi giường mẹ ở khu tù nữ, và chạy men triền đồi xuống trại nam, đầu tơ tưởng mẩu bánh mì thô cho bữa sáng. Cậu phải có mặt bên cha khi điểm danh đầu giờ trên Appellplatz. Đường cậu chạy đưa cậu qua đồn cảnh sát Do Thái của Chilowicz và, kể cả trong những ngày sương mù, trong tầm nhìn của hai trạm gác. Nhưng cậu an toàn vì họ biết cậu. Cậu là con nhà Horowitz. Cha cậu được coi là vô giá với Herr Bosch, bạn nhậu của viên Commandant. Tác phong tự nhiên trong cách tự do đi lại của Richard xuất phát từ chuyên môn của cha cậu; cậu duyên dáng di chuyển dưới những ánh mắt của tháp canh, tìm đến lán của cha, leo lên võng của ông và đánh thức ông bằng những câu hỏi. Tại sao sáng có sương mà chiều thì không? Xe tải có đến không? Lát nữa điểm danh có lâu không? Có ai bị phạt đòn không?
Những câu hỏi của Richard khắc sâu vào đầu Dolek Horowitz ý nghĩ rằng Płaszów không dành cho kể cả những đứa trẻ được biệt đãi. Biết đâu ông có thể liên hệ với Schindler - Schindler thỉnh thoảng vẫn đến đây, đi loanh quanh khu nhà quản trị và công xưởng, dưới danh nghĩa làm ăn, để tặng quà và trao đổi tin tức với bạn bè cũ như Stern, Roman Ginter và Poldek Pfefferberg. Khi không tiếp cận được bằng cách đó, ông sực nghĩ ra có lẽ mình có thể thông qua Bosch. Dolek tin rằng họ gặp nhau thường xuyên. Ở đây thì không, nhưng có lẽ tại văn phòng trong thành phố và các cuộc tiệc tùng. Có thể thấy họ không phải bạn bè, nhưng gắn bó với nhau vì cùng làm ăn, cùng chung lợi ích.
Richard không phải là người duy nhất (và có lẽ cũng không phải là chủ yếu) Dolek muốn đưa đến trại của Schindler. Richard có thể khuếch tán nỗi sợ bằng đám mây những câu hỏi. Điều đáng lo là cô chị mười tuổi, Niusia, người đã từ lâu không còn hỏi nữa; một cô bé gầy gò đã qua tuổi thật thà; người - từ cửa sổ xưởng bàn chải, nơi em khâu từng túm lông vào mặt gỗ - hằng ngày chứng kiến cảnh xe tải leo lên đồi, và ôm ấp nỗi kinh hoàng không chia sẻ được cùng ai, chẳng khác gì người lớn, không leo lên ngực cha mẹ và truyền nỗi sợ đi được nữa. Để nguôi cơn đói, Niusia bắt đầu hút lá hành vấn trong giấy báo. Tin đồn khả tín là ở Emalia thì những biện pháp khôn trước tuổi như thế sẽ không cần thiết nữa.
Do vậy Dolek kêu nài với Bosch nhân dịp y đi thị sát kho quần áo. Dựa vào những nghĩa cử trước đây của Bosch, ông nói, ông muốn nhờ y có lời với Herr Schindler. Ông nhắc đi nhắc lại lời cầu xin lẫn tên hai đứa trẻ để Bosch, trí nhớ bị bào mòn vì rượu, khỏi quên. Herr Schindler chắc là bạn tốt nhất của ta, Bosch nói. Ta nhờ thì kiểu gì ông ấy cũng làm.
Dolek không mong đợi gì nhiều từ cuộc nói chuyện. Vợ ông, Regina, chẳng có kinh nghiệm sản xuất đạn pháo hay đồ tráng men. Bản thân Bosch cũng không bao giờ nhắc lại chuyện này. Thế nhưng, chưa đầy một tuần, họ đã có tên trong danh sách kế tiếp đến Emalia, được Commandant Goeth phê chuẩn đổi lấy một phong bì nhỏ đựng trang sức. Niusia bây giờ trông như một người lớn mảnh mai, kín đáo trong lán nữ ở Emalia, còn Richard vẫn tự do đi lại như ở Płaszów, mọi người tại xưởng đạn dược lẫn xưởng tráng men đều quen cậu, lính gác chấp nhận sự hiện diện của cậu. Regina cứ chờ Oskar đến chỗ bà trong nhà máy và nói, “Ra bà là vợ Dolek đấy hả?” Lúc đó bà chỉ còn việc cảm ơn thế nào cho phải. Chỉ là ông chẳng bao giờ làm vậy. Bà vui mừng nhận thấy mình không có gì nổi bật ở phố Lipowa, và con gái bà cũng vậy. Họ biết Oskar nhớ họ là ai, vì ông vẫn gọi tên Richard khi trò chuyện với cậu. Họ cũng biết, từ sự thay đổi trong bản chất những câu hỏi của Richard, giá trị của điều ông đã đem đến cho họ.
Ở Emalia, không có viên Commandant nào để ngược đãi tù nhân. Và không có lính gác cố định. Hai ngày trại lính lại thay một lần: hai xe tải chở lính SS và Ukraine từ Płaszów đến Zablocie để đổi gác. Lính Płaszów thích phiên trực tại Emalia. Bếp ăn của Herr Direktor, dù sơ khai hơn Płaszów, nấu lại ngon hơn. Vì Herr Direktor nổi trận lôi đình rồi gọi cho Oberführer Scherner nếu có tên lính nào, thay vì chỉ tuần tra vòng ngoài, dám đặt chân vào trại, bọn chúng luôn an phận bên này hàng rào. Nhiệm vụ ở Zablocie nhàm chán một cách dễ chịu.
Trừ khi có đoàn thanh tra cấp cao của SS, tù nhân của DEF ít khi thấy cận mặt lính gác. Một lối đi rào thép gai đưa họ đến nhà máy tráng men; một lối khác đến cửa xưởng đạn dược. Ai làm việc ở nhà máy vỏ hộp, nhà máy máy sưởi và phòng hành chính của doanh trại đi làm hằng ngày dưới sự áp giải của lính Ukraine - hai ngày lại đổi một lần. Chẳng tên lính nào đủ thời gian hình thành mối thù chết người với tù nhân.
Thế nên, có thể SS đặt ra giới hạn cho cuộc sống ở Emalia, nhưng đặt ra nhịp điệu cho nó chính là Oskar. Đó là một nhịp điệu bền vững mong manh. Ở đây không có chó. Và không đánh đập. Xúp và bánh mì ngon hơn và đầy đặn hơn ở Płaszów - cỡ hai ngàn calo một ngày, theo lời một bác sĩ làm công nhân tại Emalia. Ca làm việc dài, thường là mười hai tiếng, bởi vì Oskar vẫn là một doanh nhân có những hợp đồng chiến tranh và khát khao lợi nhuận truyền thống cần đáp ứng. Tuy nhiên, phải nói rằng không có ca làm việc nào quá lao khổ và khi ấy nhiều tù nhân dường như tin rằng nỗ lực lao động sẽ góp phần hữu hình đảm bảo sự sinh tồn của họ. Theo các tài liệu Oskar cung cấp cho Ủy ban Cứu trợ Do Thái sau chiến tranh, ông đã chi ra 1.800.000 złoty (360.000 dollar) mua lương thực cho Emalia. Người ta sẽ bắt gặp những khoản chi tương tự, nhằm mục đích tô hồng, trong sổ sách của Farben and Krupp - mặc dù xét tỉ lệ phần trăm trên lợi nhuận thì còn lâu mới bằng của Oskar. Thực tế là, không ai gục ngã và chết do quá sức, bị đánh đập hay đói ăn tại Emalia. Trong khi chỉ riêng nhà máy tại Buna của I. G. Farben, có tới 25.000 tù nhân trong số 35.000 sẽ chết mòn trong lao động.
Về sau này, cựu tù Emalia sẽ gọi trại của Schindler là thiên đường. Ở thời điểm ấy họ đã ly tán khắp nơi, nên đó không thể là một nhận định được tất cả nhất trí sau khi chuyện đã xảy ra. Cái tên đó chắc hẳn đã ít nhiều phổ biến từ khi họ ở Emalia. Tất nhiên, đó chỉ là một thiên đường tương đối, thiên đường đối lập với Płaszów. Điều nó khơi dậy ở họ là cảm giác về một cuộc cứu nạn siêu thực, một cảnh hoang đường không ai dám nhìn kỹ vì sợ nó tan biến. Người mới ở DEF chỉ biết về Oskar qua lời kể. Họ không dám đứng trên đường đi của Herr Direktor hay đánh bạo nói chuyện với ông. Họ cần thời gian hồi phục và dần thích nghi với nhà tù phi truyền thống của Schindler.
Một cô gái tên Lusia chẳng hạn. Chồng cô vừa bị tách khỏi hàng ở Appellplatz của Płaszów và đưa đến Mauthausen cùng nhiều người khác. Trước điều sẽ trở thành thực tế hiển nhiên ấy, cô khóc than như một góa phụ. Vừa khóc, cô vừa lên đường đến Emalia. Cô được phân mang sản phẩm đã tráng men đến lò luyện. Ở đây được phép tranh thủ bề mặt nóng của máy móc để hâm nóng nước, còn sàn nhà thì ấm. Với cô, nước nóng là ân huệ đầu tiên ở Emalia.
Đầu tiên, cô chỉ biết đến Oskar như một bóng người cao lớn đi giữa hai hàng máy ép kim loại hoặc trên lan can. Không rõ vì sao nó lại không làm cô sợ. Cô cảm giác nếu mình bị nhận ra, tính chất của nơi này - thức ăn, không bị đánh đập, không có lính gác trong trại - sẽ bị đảo ngược. Cô chỉ muốn được âm thầm làm việc rồi theo lối đi rào thép gai trở về căn lán của mình.
Được một thời gian, cô thấy mình đã gật đầu đáp lễ Oskar, thậm chí đã trả lời ông rằng vâng, cảm ơn ông, Herr Direktor, cô khỏe lắm. Có lần ông cho cô một ít thuốc lá, quý hơn vàng vì vừa có thể an thần vừa đổi chác được với lao động Ba Lan. Cô đã chứng kiến bạn bè biến mất, nên cô sợ tình bạn của ông; cô muốn ông chỉ hiện hữu vậy thôi, một người cha huyền bí. Thiên đường do một người bạn quản lý là thứ quá đỗi mong manh. Muốn duy trì một thiên đường bền vững, ta cần một nhân vật quyền uy và bí hiểm hơn thế.
Nhiều tù nhân ở Emalia có chung suy nghĩ ấy.
Có một cô gái tên là Regina Perlman, vào thời điểm khu trại ở nhà máy của Oskar ra đời, đang sống tại Cracow bằng giấy tờ giả của người Nam Mỹ. Làn da sẫm giúp căn cước này khả tín, và dưới thân phận này cô làm việc như một người Aryan tại văn phòng một nhà máy ở Podgórze. Nếu dọn đến Warsaw, Łódź, hoặc Gdansk, cô sẽ an toàn hơn trước những kẻ tống tiền. Nhưng cha mẹ cô ở Płaszów, và cô mang giấy tờ giả còn vì họ, bởi cô có thể tiếp tế lương thực, thuốc men và nhu yếu phẩm cho họ. Từ hồi ghetto cô đã biết câu ngạn ngữ truyền kỳ trong cộng đồng Do Thái tại Cracow rằng Herr Schindler là đấng cứu khổ cứu nạn. Cô cũng biết tình hình ở Płaszów, ở mỏ đá, và ban công của viên Commandant. Để làm điều này cô sẽ phải phá vỡ vỏ bọc của mình, nhưng cô tin đó là điều cần thiết để đưa được bố mẹ vào trại của Schindler.
Lần đầu tới DEF, cô mặc chiếc váy hoa bạc màu, vô danh một cách an toàn, không đi tất. Người gác cổng thông báo lên văn phòng của Herr Schindler ở tầng trên, và qua lớp kính cô có thể thấy ông không hứng thú tiếp cô. Cô chẳng là gì cả - một cô gái lem luốc từ một nhà máy khác. Như những người mang giấy tờ Aryan giả mạo khác, cô luôn sợ bị một gã Ba Lan thù địch phát hiện ra chân tướng. Mà người này lại có vẻ thù địch.
Không có gì quan trọng đâu, cô nói khi gã quay lại và lắc đầu. Cô muốn cắt đuôi gã. Nhưng gã Ba Lan chẳng buồn nói dối cô. “Ông ấy không muốn gặp cô,” gã nói. Một chiếc BMW lầm lì đậu trong sân nhà máy và nó chỉ có thể thuộc về Herr Schindler. Ông có nhà, nhưng không tiếp khách không có tiền mua bít tất. Cô run rẩy bỏ đi vì thoát nạn. Cô may mắn chưa phải thú nhận với Herr Schindler điều ngay cả trong mơ cô vẫn sợ phải làm với bất cứ ai.
Cô chờ một tuần để được nghỉ làm thêm lần nữa. Cô dành hẳn nửa ngày để chuẩn bị cách tiếp cận mới. Cô tắm gội và mua tất từ chợ đen. Cô mượn bạn - một cô gái mang giấy tờ Aryan giả chẳng thể mạo hiểm có nhiều bạn bè - một chiếc sơ mi. Cô đã sẵn một chiếc áo khoác đẹp, và tậu thêm một chiếc mũ nan che mạng. Cô trang điểm, tạo cho khuôn mặt vẻ rạng rỡ rám nắng thích hợp với một phụ nữ không có gì phải sợ. Trong gương, nhìn cô chả khác gì thời tiền chiến, một thiếu nữ Cracow thanh lịch có nguồn gốc ngoại lai - cha có lẽ là doanh nhân người Hung, còn mẹ từ Rio đến.
Lần này, đúng như ý cô, tay gác cổng Ba Lan thậm chí không nhận ra cô. Gã cho cô vào trong chờ, còn gã gọi điện cho Klonowska, thư ký của Herr Direktor, và được nối máy trực tiếp với Schindler. Herr Direktor, gã nói, có một quý cô có việc quan trọng muốn gặp ngài. Có vẻ Herr Schindler muốn biết chi tiết hơn. Một quý cô trẻ, ăn mặc trang nhã, gã nói, và rồi, cúi chào trong khi vẫn cầm điện thoại, và rất xinh đẹp, gã tiếp. Như thể nôn nóng muốn gặp cô, hoặc sợ cô là tình cũ bị bỏ rơi, sẽ làm ông mất mặt tại tiền sảnh, Schindler đón cô trên bậc cầu thang. Ông mỉm cười khi thấy cô là khách lạ. Ông rất vui được gặp cô, Fraulein Rodriguez này. Cô thấy ngay ông ngưỡng mộ phụ nữ đẹp, một tính cách vừa trẻ thơ vừa thành thục. Với cử chỉ hào hoa như minh tinh màn bạc, ông mời cô lên gác. Cô có việc cần giãi bày riêng với ông? Tất nhiên là được. Ông dẫn cô qua mặt Klonowska. Klonowska phản ứng một cách bình thản. Cô gái này có thể là bất cứ ai - mối làm ăn chợ đen, hoặc giao dịch tiền bạc. Thậm chí là một nữ du kích sành điệu. Tình ái là khả năng sau cùng. Dù gì đi nữa, một cô gái từng trải như Klonowska chẳng mong gì chiếm hữu Oskar hoặc ngược lại.
Vào văn phòng, Schindler lấy ghế mời cô ngồi, rồi bước lại sau bàn làm việc, dưới bức chân dung của Führer. Cô hút thuốc nhé? Một ly Pernod hoặc cognac? Không, cô đáp, nhưng xin ông cứ tự nhiên. Ông tự rót cho mình một ly. Có chuyện gì quan trọng nào? ông hỏi, không còn mấy vẻ phong lưu ban nãy trên cầu thang. Bởi thái độ của cô cũng đã thay đổi, sau khi cửa ra vào khép lại. Ông thấy rõ cô đến có việc nghiêm túc. Cô nghiêng người ra trước. Trong một thoáng, cô cảm thấy mình thật ngu ngốc, khi vứt bỏ thân phận Aryan mà cha cô đã mất 50.000 zł để mua cho con gái, khi thú nhận tất cả và không chút đắn đo, với tay Đức Sudeten nửa lo âu, nửa châm biếm, tay cầm ly cognac này. Nhưng trong chừng mực nào đó, đây cũng là điều dễ dàng nhất cô từng làm.
Thú thật với ông, Herr Schindler, tôi không phải người Ba Lan gốc Aryan. Tên thật của tôi là Perlman. Cha mẹ tôi đang ở Płaszów. Họ bảo, và tôi tin, rằng đến Emalia đồng nghĩa với được nhận Lebenskarte - thẻ sinh tồn. Tôi chẳng có gì cho ông; tôi phải đi mượn quần áo để vào được nhà máy. Ông sẽ đưa họ về đây giúp tôi chứ?
Oskar đặt ly xuống và đứng dậy. Cô tính thỏa thuận ngầm? Tôi không bao giờ thỏa thuận ngầm. Điều cô gợi ý, Fraulein, là phạm pháp. Tôi có nhà máy ở Zablocie này, và câu hỏi duy nhất của tôi là họ có chuyên môn không? Nếu cô không phiền lưu lại địa chỉ, có thể sẽ tới lúc tôi thông báo tôi cần cha mẹ cô vì kỹ năng lao động của họ. Nhưng không phải bây giờ, và cũng không phải vì bất kỳ lý do nào khác.
Nhưng họ đâu phải công nhân lành nghề, Fraulein Perlman thốt. Cha tôi làm nghề nhập khẩu, không phải thợ cơ khí.
Chúng tôi cần cả nhân viên văn phòng, Schindler đáp. Nhưng chủ yếu vẫn cần thợ dưới xưởng.
Cô bại hoàn toàn. Rơm rớm nước mắt, cô để lại tên giả và địa chỉ thật - ông muốn làm gì thì tùy. Nhưng xuống dưới đường cô bỗng hiểu ra và phấn chấn trở lại. Biết đâu Schindler nghi cô là gián điệp đến gài bẫy ông. Dù gì thì ông vẫn rất lạnh lùng. Trong cách ông tống cổ cô chẳng hề có cử chỉ tử tế nào, dù là mơ hồ, có thể bị truy vấn.
Trong vòng một tháng, ông bà Perlman đã chuyển từ Płaszów đến Emalia. Không phải một mình, như Regina Perlman vẫn hình dung, nếu Herr Oskar Schindler đại phát từ tâm, mà trong một nhóm ba mươi công nhân mới. Thi thoảng, cô lại tạt qua phố Lipowa và hối lộ để vào thăm họ. Cha cô được giao tráng men sản phẩm, xúc than, quét sàn nhà xưởng. “Nhưng ông ấy đã nói chuyện trở lại,” bà Perlman nói. Từ khi vào Płaszów, ông đã thành câm.
Kỳ thực, bất chấp khu lán gió lùa lẫn hệ thống nước ọp ẹp, ở Emalia có một tâm lý chung, một niềm tin mong manh, một giả định về tính bền vững mà cô, người mạo hiểm sống bằng giấy tờ giả giữa Cracow ảm đạm, chẳng hy vọng cảm thấy khi nào thực tại điên cuồng này chưa kết thúc.
Cô Perlman-Rodriguez không làm khó Herr Schindler bằng cách ào tới văn phòng ông trong niềm biết ơn, hay viết những lá thư dạt dào cảm kích. Nhưng mỗi lần ra khỏi cánh cổng vàng của DEF lòng cô luôn trỗi dậy một nỗi ghen tị khôn nguôi với những người trong đó.
*
Tiếp đến là chiến dịch đưa Giáo sĩ Menasha Levartov, dưới danh nghĩa thợ cơ khí của Płaszów, đến Emalia. Levartov là một giáo sĩ đô thị uyên bác, trẻ tuổi, râu đen. Tư tưởng của ông tự do hơn các đồng nghiệp từ làng quê Ba Lan, những người coi Sabbath còn trọng hơn tính mạng, những người trong suốt thời kỳ 1942-1943 đã bị xử bắn hàng loạt trong các trại lao động cưỡng bức tại Ba Lan vào tối thứ Sáu vì không chịu làm việc. Ông thuộc mẫu giáo sĩ, kể cả trong thời bình, cũng sẽ khuyên giáo dân rằng có thể tỏ lòng kính Chúa với sự kiên định của người ngoan đạo song cũng có thể làm điều đó bằng sự linh hoạt của người tỉnh táo.
Lervartov luôn nhận được sự hâm mộ từ Itzhak Stern đang làm việc ở Phòng Xây dựng thuộc tòa nhà Quản trị của Amon Goeth. Ngày xưa, nếu có điều kiện, bọn họ sẽ ngồi với nhau hàng giờ bên ly herbata[1], mặc nó nguội ngắt trong khi tranh luận về ảnh hưởng của Zoroaster đối với Do Thái giáo, ngược lại, hoặc quan niệm về tự nhiên của đạo Lão. Với Stern, riêng về tôn giáo so sánh, đàm đạo với Levartov thú vị hơn nhiều anh chàng Oskar Schindler hay chém gió, người cũng có điểm yếu trí mạng là ưa cao đàm khoát luận về chủ đề này.
Trong một lần Oskar đến thăm Płaszów, Stern đề nghị ông tìm cách đem Menasha Levartov về Emalia, nếu không chắc chắn Goeth sẽ giết ông ta. Bởi Levartov thuộc loại dễ bị để ý - vấn đề là phong thái. Goeth bị thu hút bởi những người có phong thái; họ, giống như những người lờ đờ, đều thuộc diện mục tiêu ưu tiên cao. Stern kể cho Oskar chuyện Levartov suýt chết dưới tay Goeth như thế nào.
Trại của Amon Goeth hiện có hơn 30.000 người. Tại đầu này của Appellplatz, gần nhà tang lễ Do Thái cũ, nay đã thành chuồng ngựa, là một khu trại cho dân Ba Lan, sức chứa độ 1.200 tù nhân. Obergruppenführer Krüger rất hài lòng khi thị sát khu trại mới nên đã thăng viên Commandant lên hai cấp thành Hauptsturmführer.
Cùng với khối tù nhân Ba Lan, dân Do Thái từ miền Đông và từ Czechoslovakia sẽ bị giam ở Płaszów trong khi chờ có chỗ ở Auschwitz-Birkenau hoặc Gröss-Rosen, xa hơn về phía Tây. Có khi dân số lên đến trên 35.000, và những phiên điểm danh ở Appellplatz chật ních người. Amon bởi vậy phải thải bớt tù cũ mới có chỗ cho tù mới. Và Oskar biết phương pháp gọn nhẹ của viên Commandant là bước vào một văn phòng hay công xưởng bất kỳ, bắt tất cả xếp thành hai hàng, rồi giải một hàng đi. Hàng này sẽ bị đưa lên công sự Áo để hành quyết, hoặc đến xe gia súc ngoài Ga Cracow-Płaszów hoặc, từ mùa thu năm 1943, tới tuyến đường sắt mới kế bên trại lính SS.
Trong một đợt thải loại như vậy, Stern kể, Amon đi vào xưởng cơ khí của khu nhà máy. Các đốc công đứng nghiêm như nhà binh và hăm hở báo cáo, biết rằng chỉ lỡ lời cũng mất mạng như chơi. “Ta cần hai mươi lăm thợ cơ khí,” Amon nói khi đám đốc công báo cáo xong. “Đúng hai mươi lăm. Chỉ chọn những đứa lành nghề.”
Một tay đốc công trỏ Levartov và vị giáo sĩ bước vào hàng, dù thấy Amon đặc biệt chú ý đến mình. Dĩ nhiên, chẳng ai biết hàng nào sẽ bị giải đi, và đi đâu, nhưng nói chung gia nhập hàng lao động lành nghề vẫn là canh bạc an toàn hơn.
Việc chọn lọc tiếp tục. Levartov đã để ý thấy xưởng cơ khí sáng nay vắng một cách kỳ quái, vì một số đang làm việc hoặc giết thời gian gần cửa đã đánh hơi thấy việc Goeth xuất hiện và kịp chuồn sang nhà máy may của Madritsch để trốn sau những súc vải hay vờ sửa chữa máy may. Độ bốn chục người chậm chân hoặc thiếu cảnh giác còn lại ở xưởng cơ khí giờ đây đứng thành hai hàng, giữa dãy bàn làm việc và máy tiện. Ai cũng sợ, nhưng những người ở hàng ngắn càng thấp thỏm hơn.
Rồi một cậu bé không rõ tuổi, bé nhất độ mười sáu mà lớn nhất cỡ mười chín, lên tiếng từ giữa hàng ngắn, “Nhưng, Herr Commandant, cháu cũng là thợ cơ khí.”
“Vậy à, Liebchen?” Amon lẩm bẩm, rút khẩu súng lục nhà binh, bước đến bên cậu bé và bắn vào đầu cậu. Tiếng nổ chát chúa trong không gian đầy kim loại hất tung cậu bé vào tường. Cậu chết, Levartov kinh hoàng nghĩ, trước khi ngã xuống sàn.
Hàng người lúc này càng ngắn hơn được áp giải ra ga, xác cậu bé được chở lên đồi bằng xe cút kít, sàn nhà được lau sạch, máy tiện vận hành trở lại. Nhưng Levartov, tiếp tục chậm rãi làm bản lề, biết Amon đã nhận diện ra mình, qua ánh chớp trong mắt gã - cái nhìn như muốn nói, Có một tên. Vị giáo sĩ cảm thấy nhờ cậu bé xấu số lên tiếng mà Amon mới tạm quên mất mình, mục tiêu rõ ràng hơn với gã.
Sau vài ngày, Stern kể tiếp, Amon quay lại xưởng cơ khí đúng lúc đông người làm việc, và đi một vòng tự chọn nhân sự đưa lên đồi hoặc chở đi. Gã dừng lại bên bàn của Levartov, đúng như dự đoán của ông. Ông có thể ngửi thấy mùi bọt cạo râu từ gã. Và thấy cổ tay áo hồ cứng của Amon. Gã là kẻ ăn vận rất bảnh bao.
“Mi đang làm gì đấy?” viên Commandant hỏi.
“Herr Commandant,” Levartov đáp,“Tôi làm bản lề.” Vị giáo sĩ chỉ đống bản lề nhỏ trên sàn.
“Làm một chiếc ta xem.” Amon lệnh. Gã rút đồng hồ trong túi, rồi bắt đầu tính giờ. Levartov cẩn trọng cắt một chiếc bản lề, dùng ngón tay điều khiển miếng kim loại, ấn máy tiện; những ngón tay lao động đầy thuyết phục, hoan hỉ vì thuần thục. Vừa làm vừa âm thầm run rẩy tính giờ, ông cho ra một chiếc bản lề trong thời gian ông tự ước tính là năm mươi tám giây, và để cho nó rơi xuống chân.
“Chiếc nữa,” Amon lầm lì nói. Sau màn khảo nghiệm tốc độ, vị giáo sĩ vững dạ hơn và tự tin tiếp tục. Sau khoảng một phút chiếc thứ hai tuột xuống chân ông.
Amon xem xét đống bản lề. “Mi đã làm việc ở đây từ sáu giờ sáng nay,” Amon nói, mắt không rời khỏi sàn nhà. “Và mi có thể làm với tốc độ như vừa rồi - thế mà chỉ được một nhúm con thế này à?” Dĩ nhiên, Levartov hiểu ra ông vừa đóng quan tài cho chính mình. Amon bắt ông đi dọc lối đi, không ai nỡ hoặc dám ngước nhìn. Để thấy gì? Ông đi vào cõi chết. Đi vào cõi chết là chuyện thường ngày ở Płaszów.
Ra ngoài, giữa bầu trời xuân, Amon bắt Menasha Levartov dựa vào tường, lấy tay chỉnh vai ông, rồi ra rút khẩu súng đã hạ sát cậu bé hai ngày trước.
Levartov chớp mắt và nhìn các bạn tù đang hối hả đi qua, đẩy hoặc khiêng nguyên vật liệu cho Płaszów, chỉ mong đi thoát cho nhanh, những cư dân Cracow trong số đó tự nhủ, Lạy Chúa, đến lượt Levartov rồi. Ông thầm tụng Shema Yisroel và nghe thấy tiếng cơ của khẩu súng. Song tiếng kim loại lách cách ấy không kết thúc bằng một tiếng gầm mà là một tiếng cạch nhỏ như tiếng bật lửa không ra lửa. Như một con nghiện cụt hứng và với một thoáng khó chịu, Amon Goeth thay băng đạn mới, ngắm bắn lần nữa, rồi bóp cò. Khi vị giáo sĩ quay đầu theo bản năng, như thể ngờ rằng có thể tiêu giảm sức mạnh của viên đạn như với một cú đấm, tất cả những gì phát ra từ khẩu súng của Goeth là một tiếng cạch nữa.
Goeth bắt đầu lầm bầm chửi tục. “Donnerwetter! Zum Teufel!” Levartov cảm giác Amon sẽ hạ xuống phàn nàn về chất lượng cơ khí hiện đại bất cứ lúc nào, như thể họ là hai tay bán hàng đang cố thể hiện một màn trình diễn đơn giản - đi một ống nước, khoan một lỗ trên tường. Amon nhét khẩu súng hóc vào bao da đen, rồi rút trong túi áo ra một khẩu rulo báng nạm ngọc trai, thứ mà giáo sĩ Levartov chỉ biết qua những truyện Viễn Tây ông đọc hồi bé. Ông tự nhủ, Mình chắc chắn không còn cơ may được ân xá vì lỗi kỹ thuật. Hắn sẽ tiếp tục. Mình sẽ chết dưới một cây súng cao bồi, và dù tất cả kim hỏa có bị mài mòn, Hauptsturmführer Goeth cũng sẽ tìm đến những vũ khí thô sơ hơn.
Theo lời Stern kể với Schindler, khi Goeth nhắm bắn lần nữa, Menasha Levartov đã kịp ngó quanh, với hy vọng tìm được gì đó để kết hợp với hai pha hóc súng bất ngờ của Goeth làm đòn bẩy. Góc tường có một đống than, một sự vật bản thân nó không có gì là hứa hẹn. “Herr Commandant,” Levartov bắt đầu nói, nhưng đã nghe tiếng chuyển động đầy sát khí của búa gõ và lò xo. Một lần nữa, tiếng cạch của bật lửa hỏng lại vang lên. Amon nổi điên, như muốn xé toang nòng súng ra khỏi ổ.
Giáo sĩ Levartov bắt chước tư thế của đám đốc công ban nãy. “Herr Commandant, tôi xin phép được báo cáo, sở dĩ đống bản lề của tôi không đạt yêu cầu như vậy, là bởi sáng nay phải căn chỉnh lại máy. Do đó, thay vì cắt bản lề, tôi được điều đi xúc đống than kia.”
Levartov cảm thấy mình đã phạm luật của trò chơi từ nãy đến giờ giữa hai người, trò chơi lẽ ra phải kết thúc hợp lý bằng cái chết của Levartov, cũng như trò Rắn và Thang tất yếu phải kết thúc khi có người đổ được sáu điểm. Giờ đây cứ như thể vị giáo sĩ đã giấu hột súc sắc đi, làm trò chơi không thể kết thúc. Amon đánh vào mặt ông bằng tay trái, và Levartov nghe miệng mình có vị máu, nằm trên lưỡi ông như một lời bảo đảm.
Hauptsturmführer Goeth bỏ đi để mặc Levartov cạnh bức tường. Cuộc thi đấu, dù vậy, cả Levartov lẫn Stern đều biết, mới chỉ tạm dừng.
Câu chuyện được Stern thì thào kể lại với Oskar ngay tại Văn phòng Xây dựng của Płaszów. Stern, lưng còng, mắt nhướng lên, tay chắp lại, vẫn hào phóng về chi tiết như thường lệ. “Không thành vấn đề,” Oskar lầm bầm. Ông khoái chọc Stern. “Sao phải dài dòng? Emalia lúc nào chẳng có chỗ cho người có thể làm ra một chiếc bản lề sau chưa đầy một phút.”
Khi Levartov và vợ tới Emalia vào mùa hè năm 43, ông phải chịu đựng cái mà ban đầu ông nghĩ là tính giễu cợt tôn giáo của Schindler. Cứ đến chiều thứ Sáu, khi gặp Levartov tại xưởng đạn dược của DEF, nơi ông đứng máy tiện, Oskar lại bảo, “Sao ông lại ở đây, giáo sĩ. Ông chuẩn bị lễ Shabbat đi chứ. Mãi đến khi Oskar tuồn cho ông một chai rượu lễ, Levartov mới hiểu Herr Direktor không đùa. Từ đó, mỗi thứ Sáu, trước khi trời tối, vị giáo sĩ lại được nghỉ việc, quay về lán của mình ở sân sau quây rào thép gai của DEF. Tại đây, dưới những dây phơi chua nồng quần áo ướt, ông sẽ tụng Kiddush bên ly rượu, giữa những dãy giường tầng cao tận mái. Và, tất nhiên, dưới bóng một tháp canh SS.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Ba Lan: trà.