Chúng ta không rõ tâm hồn Oskar Schindler ở trạng thái nào trong ngày 13 tháng Ba. Nhưng khi công nhân của ông quay lại làm việc từ Płaszów, có lính gác áp giải, ông đã sẵn sàng thu thập tài liệu để chuyển cho bác sĩ Sedlacek vào lần tới. Từ các tù nhân, ông được biết Zwangsarbeitslager Płaszów - tên hành chính của nơi này - sẽ không phải là vương quốc của lý trí. Goeth tiếp tục niềm căm ghét kỹ sư bằng cách cho lính đánh Zygmunt Grünberg đến hôn mê, và đưa anh tới bệnh viện cạnh trại tù nữ muộn đến mức anh cầm chắc cái chết. Qua các tù nhân được hưởng bữa xúp trưa đầy đặn tại DEF, Oskar được biết Płaszów không chỉ là trại lao động mà còn được dùng làm nơi hành quyết. Tuy cả trại đều nghe thấy, nhưng riêng một số tù nhân còn tận mắt chứng kiến.
Chẳng hạn như tù nhân M[1], trước chiến tranh từng kinh doanh trang trí nội thất ở Cracow. Những ngày đầu nhập trại, ông được giao trang trí khu nhà SS, là vài căn biệt thự đồng quê nằm ven con đường phía Bắc trại. Như mọi nghệ nhân có giá trị đặc biệt khác, ông được đi lại tự do hơn, và một buổi chiều mùa xuân năm ấy, ông đang trên con đường từ villa của Untersturmführer Leo John đến ngọn đồi tên gọi Chujowa Górka, nơi có công sự cũ của quân Áo. Trước khi rẽ sang triền dốc đi đến sân nhà máy, ông phải dừng lại nhường đường cho một chiếc xe tải quân đội nặng nề lên dốc. M nhận thấy trên xe toàn phụ nữ, dưới sự áp giải của lính Ukraine mặc đồ bảo hộ trắng. Ông nấp giữa từng chồng gỗ, và thấy phần nào cánh những phụ nữ, bị lùa xuống xe và giải vào trong lô cốt, nhất định không chịu cởi quần áo. Kẻ quát tháo ra lệnh là Edmund Sdrojewski của SS. Đám hạ sĩ quan Ukraine đi xen giữa tù nhân dùng cán roi đánh họ. M đoán họ là dân Do Thái, có lẽ bị bắt vì mang giấy tờ Aryan giả mạo, và được đưa từ nhà tù Montelupich đến đây. Một số rên lên khi trúng đòn, số khác vẫn nín lặng, như thể không muốn cho bọn Ukraine thỏa mãn. Một người bắt đầu tụng Shema Yisroel[2], và tất cả hòa theo. Lời kinh cầu bừng bừng trỗi dậy trên đỉnh đồi, như thể các cô - những người mãi đến hôm qua còn đóng vai người Aryan - bỗng nhận ra giờ đây khi không còn áp lực, hơn ai hết họ được tự do tôn vinh sự khác biệt chủng tộc của mình trước mặt Sdrojewski và bọn lính Ukraine. Thế rồi, trong khi co cụm cho đỡ xấu hổ và lạnh, họ bị bắn chết. Đêm đến, lính Ukraine chở họ đi bằng xe cút kít, chôn trong cánh rừng bên kia đồi Chujowa Górka.
Tù nhân dưới chân đồi cũng nghe nói về vụ hành quyết đầu tiên trên ngọn đồi giờ đây có cái tục danh là “Đồi Buồi”. Có người tự nhủ bị bắn trên đó chỉ toàn du kích, những tay Marxist cứng đầu hoặc bọn điên khùng theo chủ nghĩa dân tộc. Trên ấy là một xứ sở khác. Nếu tuân thủ quy củ trong hàng rào, anh sẽ không bao giờ phải lên đó. Nhưng những ai tỉnh táo hơn trong số công nhân của Schindler, ngày ngày được giải qua phố Wieliczka và nhà máy cáp tới Zablocie làm việc - họ hiểu vì sao tù nhân ở Montelupich lại bị bắn trên đồi, vì sao SS không sợ tù nhân nhìn thấy xe tải lên đồi, hay cả Płaszów nghe được tiếng súng. Đó là vì SS không coi trại viên là nhân chứng cuối cùng. Nếu nghĩ đến ngày phải ra tòa, ngày họ làm chứng tập thể, thì chúng đã đem nạn nhân vào sâu hơn trong rừng. Từ đây, Oskar rút ra kết luận Chujowa Górka không phải là một thế giới biệt lập với Płaszów, mà cả hai, những người bị chở lên đỉnh đồi bằng xe tải và những người sau hàng rào dưới chân đồi, đều đã bị kết án.
*
Buổi sáng đầu tiên Commandant Goeth bước ra hiên và hạ sát ngẫu nhiên một tù nhân, đã có xu hướng xem đây, như vụ hành quyết đầu tiên trên Chujowa Górka, là một sự kiện cá biệt, đơn lẻ, không thuộc về nhịp sống của trại. Kỳ thực, các cuộc sát nhân trên đồi tất nhiên sẽ thành thông lệ, như thói quen buổi sớm của Amon.
Mặc sơ mi, quần chẽn, đi đôi ủng được cần vụ đánh bóng loáng, gã sẽ bước ra bậc thềm của ngôi nhà tạm (một ngôi biệt thự đẹp hơn đang được cải tạo cho gã ở đầu kia khu trại). Sang mùa hè, gã sẽ cởi trần xuất hiện, vì gã ưa ánh nắng. Nhưng hiện thời gã vẫn mặc quần áo từ bữa sáng, một tay cầm ống nhòm, tay kia xách cây súng bắn tỉa. Gã sẽ rà quanh khu trại, khu mỏ, các tù nhân đang đẩy hoặc kéo xe goòng chở đá đi qua trước cửa. Ai liếc mắt nhìn lên sẽ thấy khói từ điếu thuốc gã ngậm chặt trên môi, kiểu hút thuốc không dùng tay của người bận rộn không thể rời tay khỏi công cụ lao động. Trong mấy ngày đầu ở trại, gã đã xuất hiện như thế trên ngưỡng cửa và bắn một tù nhân có vẻ không hết sức đẩy xe chở đá. Không ai biết chính xác tại sao Amon chọn người tù ấy - còn gã chắc chắn không phải giải trình động cơ của mình. Sau một tiếng nổ trên bậu cửa, người tù bị bứt khỏi nhóm khổ sai đang vừa kéo vừa đẩy và bị gạt sang vệ đường. Những người còn lại ngừng đẩy, tất nhiên, cơ bắp đông cứng lại, chờ đợi một trận tàn sát tập thể. Nhưng Amon nhíu mày rồi vẫy tay cho họ đi, như thể muốn nói gã tạm thời hài lòng với chất lượng lao động của họ.
Bên cạnh những hành vi tàn bạo với tù nhân, Amon còn phá vỡ một lời hứa với các doanh nghiệp. Oskar nhận được điện thoại từ Madritsch - ông ta muốn họ cùng lên tiếng. Amon từng hứa sẽ không can thiệp vào công việc của các nhà máy. Ít ra gã không can thiệp từ bên trong. Nhưng gã lại trì hoãn việc thay ca, khi giữ tù nhân hàng giờ ở Appellplatz (sân tập trung) lúc điểm danh. Madritsch nhắc tới trường hợp SS tìm thấy một củ khoai tây trong một căn lán, và tất cả tù nhân ở lán này bị phạt roi công khai trước mặt hàng ngàn bạn tù. Bắt vài trăm người tụt quần dài và quần lót xuống, vén áo lên, và đánh mỗi người hai mươi lăm roi là chuyện chẳng hề nhanh gọn. Và Goeth quy định tù nhân phải tự đếm thay đám lính cần vụ Ukraine cầm roi. Nếu nạn nhân lầm lẫn thì phải bắt đầu lại từ đầu. Những buổi điểm danh tại Appellplatz của Commandant Goeth không thiếu những trò tiêu tốn thời gian như vậy.
Thành thử đội thay ca sẽ tới xưởng may của Madritsch ngay trong Płaszów muộn hàng tiếng đồng hồ và thêm một tiếng nữa ở nhà máy của Oskar trên phố Lipowa. Chưa kể họ đến nơi trong tình trạng sốc, không thể tập trung, rì rầm kể lại chuyện Amon hay John hay Scheidt hay một sĩ quan nào đó đã làm sáng hôm đó. Oskar đã phàn nàn với một tay kỹ sư quen bên Tổng cục Quân giới. Phàn nàn với các sếp cảnh sát cũng chẳng ích gì, anh ta nói. Họ đâu có tham gia cùng cuộc chiến với bọn ta. Có lẽ tôi nên, Oskar nói, giữ công nhân lại nhà máy. Tự xây trại riêng.
Ý tưởng này làm viên kỹ sư thấy thú vị. Ông định để họ ở đâu, ông bạn? anh ta hỏi. Ông làm gì còn đất.
Nếu tôi lo được chỗ, Oskar hỏi, anh có viết thư ủng hộ không?
Khi viên kỹ sư đồng ý, Oskar gọi điện cho một cặp vợ chồng già tên là Bielski sống ở phố Stradom. Ông đề xuất mua lại mảnh đất giáp nhà máy, thuộc sở hữu của họ. Ông lái xe sang bên kia sông gặp họ. Phong thái của ông làm họ rất phấn khởi. Vốn rất ngại phải kỳ kèo mặc cả, ông mở đầu bằng cách ra giá của thời sốt đất. Họ mời ông uống trà và, trong cơn phấn khích, gọi luôn luật sư đến làm hợp đồng khi ông vẫn còn ở đó. Từ nhà họ, Oskar lái thẳng đến trại để, theo phép xã giao, thông báo với Amon ý định xây trại phụ của Płaszów tại nhà máy của mình. Gã bị ý tưởng ấy thu hút. “Nếu các tướng lĩnh SS chấp thuận,” gã nói, “thì ông có thể chờ đợi sự hợp tác của tôi. Miễn ông đừng đòi đôi nhạc công hay con hầu của tôi là được.”
Hôm sau, Oskar bố trí một cuộc gặp toàn diện với Oberführer Scherner trên phố Pomorska. Bằng cách nào đó, cả Amon lẫn tướng Scherner đều biết có thể yêu cầu Oskar gánh toàn bộ tiền xây trại mới. Cả hai cảm nhận được, khi Oskar đưa ra lập luận từ góc độ kinh doanh - “Tôi muốn công nhân ở luôn nhà máy để khai thác tối đa sức lao động của họ”- hắn còn xuất phát từ một đam mê thầm kín và không sợ tốn kém khác. Cả hai coi Oskar là người tử tế nhưng mắc phải bả yêu Do Thái như một thứ virus. Đây là hệ quả từ lý thuyết của SS rằng căn tính Do Thái đã lan khắp thế giới và có sức mạnh thần bí, và nên thương xót Herr Oskar Schindler như một hoàng tử bị hóa ếch. Nhưng hắn sẽ phải chi đậm cho căn bệnh của mình.
Yêu cầu của Obergruppenführer Friedrich-Wilhelm Krüger, giám đốc cảnh sát của vùng Đức thuộc, sếp của Sherner và Czurda, dựa trên quy định của Bộ phận Đặc trách Trại tập trung thuộc Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS của tướng Oswald Pohl, mặc dù đến thời điểm này Płaszów vẫn hoạt động độc lập với văn phòng của Pohl. Yêu cầu cơ bản với cơ sở phụ của Trại Lao động Cưỡng bức của SS là phải có hàng rào cao ba mét, và tháp canh ở cự ly tương ứng với chu vi trại, hố xí, lán trại, bệnh viện, phòng khám răng, nhà tắm và diệt khuẩn, hiệu cắt tóc, cửa hàng lương thực, buồng giặt, văn phòng, khu nhà cho lính gác có chất lượng xây dựng tốt hơn khu trại, và mọi trang thiết bị liên quan. Amon, Scherner lẫn Czurda đều cho rằng Oskar, và điều này chỉ là phải lẽ, sẽ đáp ứng mọi chi phí vì động cơ kinh tế hoặc vì thứ bùa mê ông mắc phải.
Và dù chúng bắt Oskar chi, đề xuất của ông vẫn hợp ý chúng. Vẫn còn một ghetto ở Tarnow, cách đây bốn mươi lăm dặm, và khi nó bị hủy bỏ, Płaszów sẽ phải tiếp nhận cư dân từ đấy. Tương tự, sẽ còn hàng ngàn dân Do Thái tới Płaszów từ các làng quê miền Nam Ba Lan. Một trại phụ ở Lipowa sẽ giảm bớt sức ép ấy.
Amon cũng hiểu, dù gã không bao giờ nói với các sếp, rằng không nhất thiết phải cung cấp chính xác khẩu phần lương thực tối thiểu cho phố Lipowa như chỉ đạo của tướng Pohl. Amon - người có thể phóng lưỡi tầm sét từ bậc thềm mà không bị phản đối, người bất luận thế nào vẫn theo quan điểm chính thống rằng dân số Płaszów cần phải có độ hao mòn nhất định - khi ấy đã bán một phần lương thực của tù nhân ra chợ đen thông qua đầu mối của gã, một người Do Thái tên là Wilek Chilowicz, người có quan hệ với quản lý nhà máy, lái buôn, thậm chí cả các nhà hàng ở Cracow.
Bác sĩ Alexander Biberstein, nay cũng là tù nhân ở Płaszów, đã kết luận rằng khẩu phần hằng ngày dao động từ 700 đến 1.100 calo. Mỗi sáng tù nhân được nửa lít cà phê đen thế phẩm, vị như hạt sồi rang, và một cục bánh mì hắc mạch nặng 175g, tương đương một phần tám ổ bánh mì tròn cần vụ bếp ăn nhận từ hàng bánh mỗi sáng. Cái đói có sức mạnh lũng đoạn đến nỗi mỗi tay cần vụ khi cắt bánh đều quay lưng lại đồng nghiệp rồi gọi to, “Ai lấy miếng này? Ai lấy miếng kia?” Đến trưa họ được ăn xúp - cà rốt, củ cải đường, giả bột cọ. Xúp này hôm loãng hôm đặc. Buổi tối, công nhân từ ngoài trở về đem theo đồ ăn tử tế hơn. Một con gà nhỏ giấu dưới áo khoác, một cây bánh mì Pháp nhét vào ống quần. Amon cố gắng ngăn chặn việc này bằng cách lục soát từng đoàn lao động quay về lúc sẩm tối trước mặt tòa nhà quản trị. Gã không muốn công cuộc đào thải tự nhiên bị cản trở, hay mục tiêu ý thức hệ trong việc buôn bán lương thực qua Chilowicz bị phá hoại. Bởi gã không dung túng cho tù nhân, gã cho rằng nếu Oskar quyết định nhận một nghìn tên Do Thái, hắn có thể dung túng chúng bằng tiền túi, và không thường xuyên cần đến bánh mì và củ cải từ Płaszów.
Mùa xuân ấy, các trùm cảnh sát ở Cracow không phải là đối tượng duy nhất Oskar phải tìm gặp. Ông ra sân sau thuyết phục hàng xóm. Ngoài hai túp lều xập xệ dựng từ ván thông của Jereth, ông sang nhà máy máy sưởi của Kurt Hoderman. Nơi này thuê một đám Ba Lan và khoảng một trăm tù nhân Płaszów. Đầu kia là nhà máy vỏ hộp của Jereth, do viên kỹ sư người Đức Kuhnpast giám sát. Do tù nhân chỉ chiếm một phần nhỏ trong số lao động ở đây, họ không hào hứng gì cho lắm với ý tưởng này, nhưng cũng không phản đối. Vì với đề xuất của Oskar, lao động Do Thái của họ sẽ ở cách nhà máy năm mươi mét thay vì năm cây số.
Tiếp đó Oskar ra vùng lân cận để nói chuyện với kỹ sư Schmilewski tại văn phòng doanh trại Wehrmacht cách đó vài dãy phố. Ông ta cũng thuê một nhóm lao động từ Płaszów. Schmilewski không phản đối. Tên ông ta, Kuhnpast và Hoderman đều được đưa vào hồ sơ đăng ký Schindler gửi đến phố Pomorska.
Đoàn khảo sát của SS đến Emalia và trao đổi với khảo sát viên Steinhauser, bạn cũ của Oskar ở Tổng cục Quân giới. Họ đứng ở khu đất, nhíu mày, đúng tác phong khảo sát, và đặt câu hỏi về hệ thống thoát nước. Oskar mời tất cả lên văn phòng ở tầng trên uống cà phê và cognac, sau đấy mọi người hồ hởi chia tay. Mấy ngày sau, hồ sơ đăng ký lập Phân trại Lao động Cưỡng bức đã được chấp thuận.
Năm đó lợi nhuận của DEF là 15,8 triệu Reichsmark. Có người sẽ nghĩ rằng khoản tiền 300.000 RM Oskar chi để mua nguyên vật liệu cho trại Emalia tuy lớn nhưng không đến nỗi chết người. Sự thật là cuộc tiêu pha của Oskar chỉ mới bắt đầu.
*
Oskar gửi đơn đến Bauleitung, tức Văn phòng Xây dựng, của Płaszów xin sự phục vụ của một kỹ sư trẻ tên là Adam Garde. Garde khi đó vẫn đang làm việc ở khu lán trong trại của Amon và, sau khi hướng dẫn kíp thợ ở đây, sẽ có riêng một lính gác áp giải từ Płaszów đến phố Lipowa để giám sát công trình của Oskar. Lần đầu đến Zablocie, Garde thấy đã có bốn trăm tù nhân ở hai khu lán tạm. Lính SS tuần tra ở ngoài hàng rào, nhưng các bạn tù bảo Garde rằng Oskar không cho SS vào trong trại hay nhà máy, tất nhiên trừ phi có đoàn thanh tra. Oskar, họ kể, luôn đảm bảo toán lính SS đồn trú tại Emalia được say sưa và vui vẻ ở yên một chỗ. Garde có thể thấy các tù nhân ở Emalia mãn nguyện với cuộc sống giữa những tấm ván mỏng manh của hai căn lán, một nam một nữ. Họ đã bắt đầu tự nhận là Schindlerjuden[3], như một cách cẩn trọng tự chúc mừng bản thân, như một bệnh nhân đột quỵ vừa hồi phục tự nhận mình là một gã ăn xin vận đỏ.
Họ đã đào vài hố xí kiểu sơ khai, khiến kỹ sư Garde, dù tán thành sự nhiệt tình ấy, vẫn không tránh khỏi ngửi thấy mùi từ khi bước vào cổng. Họ tắm rửa tại một vòi bơm ngay ngoài sân nhà máy.
Oskar mời Garde lên phòng xem bản thiết kế. Sáu lán, cho tối đa 1.200 người. Bếp ở đầu này, còn lán của SS - Oskar tạm thời cho lính gác SS ở trong khuôn viên nhà máy - nằm ngoài hàng rào ở đầu kia. Tôi muốn một khu tắm giặt hạng nhất, Oskar nói. Tôi có thợ hàn để thi công theo hướng dẫn của anh. Sốt phát ban, ông gầm gừ, hơi nhoẻn cười với Garde. Thứ đó chẳng ai muốn sất. Płaszów chưa gì đã đầy chấy rận. Chúng ta phải luộc được quần áo.
Adam Garde hoan hỉ được tới phố Lipowa mỗi ngày. Đã có hai kỹ sư bị trừng trị ở Płaszów vì bằng cấp của họ, nhưng ở DEF, chuyên gia vẫn là chuyên gia. Một sáng nọ, khi lính gác đang giải anh đi trên phố Wieliczka về hướng Zablocie, một chiếc limousine đen xuất hiện, phanh kít cạnh họ. Từ trên xe bước ra Untersturmführer Goeth. Từ gã toát ra vẻ bồn chồn.
Một tù nhân, một lính gác, gã nhận xét. Thế nghĩa là sao? Tên lính Ukraine xin báo cáo Herr Commandant rằng y được lệnh mỗi sáng áp giải tù nhân này tới nhà máy Emalia của Herr Oskar Schindler. Cả Garde lẫn tên lính đều hy vọng sẽ được miễn tội nhờ nhắc tới tên Oskar. Một lính gác, một tù nhân? viên Commandant nhắc lại, nhưng rồi gã cũng nguôi và trở lại xe mà không xử lý vấn đề một cách quyết liệt.
Cùng ngày hôm đó gã cho gọi Wilek Chilowicz, ngoài việc là tay sai cho gã còn giữ chức đội trưởng cứu hỏa của trại. Symche Spira, mới đây còn là Napoleon ở ghetto, vẫn ở đây và hàng ngày giám sát việc lục soát và đào mới kim cương, vàng bạc và tiền mặt, giấu giếm và không có hồ sơ, của những người nay chỉ còn là tro trên tán thông ở Bełżec. Tuy nhiên, tại Płaszów, Spira không còn quyền lực, quyền lực ở trại đã tập trung vào Chilowicz. Không ai biết uy quyền của y từ đâu đến. Có thể Willi Kunde đã nhắc tên y với Amon; Có thể Amon đã nhận ra và thích phong cách của y. Nhưng đột nhiên, y một bước trở thành đội trưởng cứu hỏa của Płaszów, là người ban phát mũ và băng tay đại biểu cho quyền lực giữa vương quốc hạng hai này, và, như Symche, có trí tưởng tượng đủ hạn chế để tự coi quyền lực của mình ngang với các Sa hoàng.
Goeth gọi Chilowicz lên và bảo y tống Adam Garde tới hẳn chỗ Schindler cho xong chuyện. Ở đây thiếu gì kỹ sư để đốt, Goeth nói, vẻ chán ghét. Theo gã, kỹ sư là giải pháp tình thế cho những người Do Thái không được theo học y khoa ở các trường đại học Ba Lan. Tuy nhiên, Amon nói, trước khi đến Emalia, nó phải làm cho xong cái nhà kính của ta đã.
Tin này đến với Adam Garde tại chỗ của anh trên khu giường cá nhân bốn tầng ở Lán 21. Anh sẽ được đưa tới Zablocie sau khi vượt qua thử thách. Đó là làm việc ở sau nhà Goeth, nơi, Reiter và Grünberg có lẽ sẽ dặn anh, luật chơi rất khó lường.
Trong quá trình làm việc cho viên Commandant, một thanh xà lớn được nâng lên để lắp vào xà cái của ngôi nhà kính. Khi làm việc Adam Garde có thể nghe thấy hai con chó của Amon, Rolf và Ralf, được đặt tên theo truyện tranh trên báo - có điều tuần trước chúng vừa được Amon cho phép cắn nát vú một nữ tù bị tình nghi lười nhác. Bản thân Amon, với vốn kiến thức kỹ thuật nửa vời, thường xuyên đảo qua ngắm nghía với con mắt của dân trong nghề và theo dõi công nhân dùng ròng rọc nâng từng thanh xà lên. Gã đến để hỏi bao giờ họ định lắp xà giữa vào vị trí. Đó là một súc gỗ thông cực dài và nặng, và Goeth đứng từ đầu này hỏi vắt sang đầu kia. Adam Garde không hiểu gì và giơ tay lên khum tai. Goeth hỏi lần nữa, và còn tồi tệ hơn là không nghe được, Garde không hiểu được ý gã. “Tôi không hiểu, thưa Herr Commandant,” anh thú nhận. Amon tóm lấy thanh xà đang được cẩu lên bằng hai bàn tay ngón thon dài, kéo nó ra sau, rồi lăng về phía viên kỹ sư. Garde nhìn thấy khối gỗ đồ sộ xoáy thẳng vào đầu mình và biết đây là một cú đòn chết người. Anh giơ tay phải lên đỡ, thanh xà ập tới, đập nát cả xương ngón lẫn xương bàn và ném anh xuống đất. Khi Garde nhìn được trở lại qua màn sương đau đớn và buồn nôn, Amon đã quay lưng bỏ đi. Có lẽ mai gã sẽ quay lại tìm câu trả lời vừa ý.
Sợ bị xem là tàn tật và vô dụng, kỹ sư Garde từ chối chăm sóc bàn tay giập nát khi đến Krankenstube (trạm xá). Để tự nhiên, nó trĩu xuống bên hông, như một cái bọng đầy thống khổ. Sau cùng anh chịu cho bác sĩ Hilfstein bó bột. Và anh tiếp tục giám sát việc xây dựng nhà kính, và ngày ngày đến Emalia, hy vọng tay áo đủ dài để che kín bàn tay. Khi không yên tâm, anh tự tháo bột. Kệ cho nó lành một cách méo mó. Anh muốn đảm bảo mình được chuyển đến trại của Schindler bằng cách phô diễn một vẻ ngoài lành lặn.
Trong vòng một tuần, ôm theo mấy cuốn sách bọc trong chiếc sơ mi, anh được áp giải hẳn đến phố Lipowa.
❀ ❀ ❀
[1] Hiện đang sống ở Vienna, M không muốn được nêu tên thật.
[2] Một bài kinh cầu nguyện quan trọng của người Do Thái.
[3] Người Do Thái của Schindler.