Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Ss tiếp tục lùng sục ghetto cho đến tối thứ Bảy. Chúng hoạt động với sự hiệu quả mà Oskar đã chứng kiến qua những vụ hành quyết trên phố Krakusa. Những trận đột kích của chúng rất khó dự báo, những ai thoát được vào thứ Sáu lại bị bắt vào thứ Bảy. Nhưng Genia vẫn sống sót, nhờ năng khiếu giữ im lặng trước tuổi và khả năng tàng hình trong màu đỏ.

Ở Zablocie, Schindler không dám tin cô bé áo đỏ lại qua được Aktion. Qua Toffel và những mối quan hệ khác tại trụ sở cảnh sát trên phố Pomorska, ông được biết bảy ngàn người đã được thanh lọc khỏi ghetto. Một quan chức Gestapo tại Văn phòng các Vấn đề Do Thái hân hoan xác nhận thông tin ấy. Trong giới chức ở Pomorska, Aktion tháng Sáu được đánh giá là thắng lợi.

Những tin tức kiểu này của Oskar đã trở nên chính xác hơn. Chẳng hạn, ông biết Aktion vừa qua do một nhân vật là Wilhelm Kunde điều hành, nhưng chỉ huy trực tiếp là SS Obersturmführer Otto von Mallotke. Oskar không lưu hồ sơ, nhưng ông sẵn sàng cho một thời đại mới, khi ông sẽ báo cáo đầy đủ cho Canaris hoặc cả thế giới. Điều đó sẽ đến sớm hơn dự kiến. Trước mắt, ông điều tra những hiện tượng trước đây ông xem như sự bệnh hoạn nhất thời. Ông lấy thông tin từ cảnh sát, từ những người Do Thái đầu óc tỉnh táo như Stern. Tin tình báo từ các nơi khác trên đất Ba Lan được tuồn vào ghetto, một phần qua tiệm thuốc của Pankiewicz, từ du kích của Quân đội Nhân dân Ba Lan. Dolek Liebeskind, thủ lĩnh nhóm kháng chiến Akiva Halutz, cũng đem đến thông tin thu thập được từ các ghetto khác, qua công việc chính thức và phải đi lại thường xuyên của anh tại Công xã Do Thái tự cường, một tổ chức vẫn được Đức - do phải dè chừng Chữ thập đỏ - cho phép tồn tại.

Tiết lộ tin này cho Judenrat cũng chẳng ích gì. Hội đồng Judenrat quan niệm rằng về mặt dân sự không nên cho các cư dân ghetto biết về trại tập trung. Như vậy chỉ khiến người dân hoang mang dẫn tới mất trật tự trên đường phố, và sẽ khó tránh khỏi trừng phạt. Tốt hơn cứ mặc cho họ nghe tin đồn, tự kết luận đấy chỉ là phóng đại, rồi lại tiếp tục hy vọng. Đây là thái độ chung của hầu hết các Ủy viên Hội đồng - kể cả dưới thời vị Chủ tịch tử tế Artur Rosenzweig. Nhưng Rosenzweig thôi rồi. Tay thương gia David Gutter, nhờ cái họ Đức, sẽ sớm trở thành Chủ tịch Judenrat. Khẩu phần thực phẩm giờ đây không chỉ chịu sự xà xẻo của quan chức SS, mà còn của cả Gutter và các Ủy viên Hội đồng mới, với đại diện trên đường phố là Symche Spira đi bốt cổ cao. Judenrat bởi vậy chẳng còn lợi ích trong việc thông báo cho cư dân ghetto về đích đến dự kiến của họ, bởi các Ủy viên tin rằng bản thân sẽ không phải ra đi.

Hiểu biết đầu tiên của ghetto, và tin tức có ý nghĩa quyết định với Oskar, đến sau sự trở về Cracow - tám ngày sau khi bị bắt lên tàu rời Prokocim - của dược sĩ trẻ Bachner. Không ai biết bằng cách nào anh vào được ghetto, hay tại sao anh trở lại chốn này, chỉ để bị SS bắt đưa đi lần nữa. Nhưng, tất nhiên, chính sự thôi thúc của những điều anh biết đã mang Bachner trở về.

Câu chuyện của anh lan truyền khắp Lwówska và những con phố đằng sau Plac Zgody. Tôi đã thấy điều kinh hoàng tối hậu, anh quả quyết. Mắt anh loạn thần, tóc anh bạc trắng sau mấy ngày vắng mặt. Anh nói, tất cả dân Cracow bị bắt hồi tháng Sáu được đưa đến trại Bełżec, sát biên giới Nga. Khi đến ga, họ bị lính Ukraine lùa xuống bằng dùi cui. Nơi này tỏa ra một mùi hôi đáng sợ, nhưng một sĩ quan SS tử tế giải thích đó là mùi thuốc sát trùng. Tất cả xếp hàng trước hai nhà kho lớn, một treo biển ÁO KHOÁC, cái kia ghi TƯ TRANG. Những người mới đến được lệnh cởi quần áo, và một cậu bé Do Thái phát cho mỗi người một đoạn dây để buộc giày lại với nhau. Kính và nhẫn cũng phải tháo ra. Tiếp đến, trần truồng, tù nhân được cạo trọc đầu; một hạ sĩ quan SS bảo người ta cần tóc họ để làm một vật phẩm đặc biệt cho thủy thủ tàu ngầm. Sẽ mọc lại thôi, y nói, nuôi dưỡng ảo tưởng về sự hữu dụng của họ. Cuối cùng, các nạn nhân được lùa vào một lối đi rào thép gai, đến những boongke gắn ngôi sao David bằng đồng trên mái, treo biển PHÒNG TẮM VÀ HÍT THỞ. Lính SS trấn an họ suốt quá trình này, khuyên họ hít thở sâu, rằng đó là cách sát trùng hiệu quả. Bachner nhìn thấy một cô bé đánh rơi vòng tay xuống đất, một cậu bé ba tuổi nhặt lên, vừa nghịch chiếc vòng vừa bước vào boongke.

Trong boongke, Bachner kể, tất cả bị phun hơi ngạt. Sau đó từng toán lính được điều vào, dỡ ngọn kim tự tháp xác người ra và đem thi thể đi chôn. Chưa đầy hai ngày, tất cả đã chết, trừ anh. Trong khi chờ đến lượt ở một khu đất có rào, không hiểu vì sao anh lẻn vào được một hố xí rồi chui xuống bể phốt. Anh nấp dưới đấy ba ngày, phân và nước tiểu ngập đến cổ. Mặt anh, anh kể, thành một tổ ruồi. Anh ngủ đứng, chèn người vào thành hố vì sợ chết đuối. Sau cùng, đến đêm, anh bò ra.

Không biết vì sao anh đi bộ được ra khỏi Bełżec, men theo đường sắt. Ai nấy đều hiểu, anh thoát được chính vì hành động của anh đã ra ngoài lý trí. Cũng như vậy, anh được người ta rửa ráy - một nông phụ, chắc thế - rồi cho quần áo mới để lên đường trở về nơi xuất phát.

Đến tận lúc đó, tại Cracow vẫn còn có người cho rằng chuyện của Bachner là một tin đồn nguy hiểm. Họ hàng đã nhận được bưu thiếp từ các tù nhân tại Auschwitz. Nghĩa là có thể chuyện ở Bełżec có thật, nhưng ở Auschwitz thì không. Mà chắc gì đã đáng tin? Với khẩu phần cảm xúc ít ỏi của ghetto, người ta sống qua ngày bằng cách bấu víu vào điều đáng tin.

Các phòng hơi ngạt ở Bełżec, theo nguồn tin của Schindler, vừa được hoàn thành tháng Ba năm ấy dưới sự giám sát của một công ty kỹ thuật ở Hamburg và các kỹ sư của SS ở Oranienburg. Theo lời chứng của Bachner, nơi này thừa sức đạt công suất ba ngàn lượt sát sinh một ngày. Lò hỏa thiêu đang được xây dựng, vì lo ngại lối tiêu hủy xác chết cũ cản trở phương thức sát sinh mới. Chính nhà thầu tại Bełżec đã lắp đặt hệ thống đồng dạng ở Sobibor, cũng thuộc Lublin. Hồ sơ thầu đã được phê duyệt, việc xây dựng đã được triển khai với một cơ sở tương tự ở Treblinka, gần Warsaw. Cả phòng lẫn lò đã đi vào hoạt động tại trại Auschwitz chính và trại Auschwitz II rộng lớn cách Birkenau vài ki lô mét. Quân kháng chiến khẳng định, mười ngàn lượt sát nhân một ngày hoàn toàn trong khả năng của Auschwitz II. Vùng Łódź thì có trại ở Chelmno, cũng được trang bị công nghệ mới.

Giờ đây, viết ra những điều này chỉ là thuật lại chuyện bình thường của lịch sử. Nhưng phát hiện ra chúng vào năm 1942, bị chúng rơi xuống đầu giữa bầu trời tháng Sáu, là một cú sốc sâu xa, một sự đảo lộn trong vùng tâm thức nơi gìn giữ những quan niệm bền vững về nhân loại và những gì nhân loại có thể làm. Khắp châu Âu mùa hè ấy, hàng triệu người, trong đó có Oskar và những cư dân ghetto Cracow, đã vật vã điều chỉnh cơ chế tâm hồn để tiếp nhận Bełżec và những cơ sở tương tự trong rừng Ba Lan.

Cùng hè năm ấy, Schindler chấm dứt tình trạng phá sản của Rekord và, theo điều khoản của Tòa Thương mại Ba Lan, mua lại quyền sở hữu công ty trong một cuộc đấu giá mang tính hình thức. Dù quân Đức đã vượt sông Don và đang tiến về vựa dầu Caucasus, từ những gì chứng kiến trên phố Krakusa, Oskar dự đoán rằng rốt cuộc chúng không thể thắng lợi. Do vậy ông muốn tranh thủ thời cơ hợp pháp hóa tối đa quyền sở hữu nhà máy ở phố Lipowa. Ông nuôi hy vọng, một cách gần như con trẻ và sẽ chẳng được lịch sử đếm xỉa đến, rằng sự sụp đổ của tên bạo chúa sẽ không tước đi sự hợp pháp ấy - rằng sang thời đại mới ông sẽ tiếp tục là đứa con thành đạt của Hans Schindler xứ Zwittau.

Jereth ở nhà máy bao bì tiếp tục hối thúc ông xây lán - làm nơi trú ẩn - ở khu đất trống của mình. Oskar lo hết các giấy tờ cần thiết. Nơi nghỉ ngơi cho công nhân ca đêm là lý do của ông. Gỗ ông đã có - do chính Jereth quyên tặng.

Khi hoàn thiện vào mùa thu, công trình nhìn mỏng manh và ọp ẹp. Vách tường có màu xanh của gỗ tươi và xem ra sẽ còn co ngót, để tuyết rơi xiên lọt vào. Ấy thế nhưng vào đợt Aktion tháng Mười, đây sẽ là nơi trú ẩn của hai vợ chồng Jereth, của công nhân nhà máy bao bì, xưởng máy sưởi, và công nhân ca đêm của Oskar.

Oskar Schindler, người mỗi sáng sương giá có Aktion lại từ văn phòng đi xuống nói chuyện với viên sĩ quan SS, với viên phụ tá Ukraine, với Cảnh sát Xanh, và với toán OD sẽ từ Podgórze sang để hộ tống công nhân ca đêm của ông về nhà; Oskar Schindler, người vừa uống cà phê vừa gọi điện đến văn phòng của Wachtmeister Bosko cạnh ghetto để bịa ra lý do vì sao công nhân ca đêm của ông phải ở lại phố Lipowa sáng nay - con người này giờ đây đã vượt quá giới hạn của tập quán kinh doanh thận trọng và tự đặt mình vào vòng nguy hiểm. Những nhân vật thế lực đã hai lần lôi ông ra tù chẳng thể làm thế mãi cho dù ông có hào phóng mỗi lần sinh nhật họ đến thế nào chăng nữa. Năm nay không thiếu những nhân vật thế lực bị tống vào Auschwitz. Nếu họ chết ở đây, vợ góa của họ nhận được một bức điện tín nhạt nhẽo và vô cảm của viên Commandant. “CHỒNG BÀ ĐÃ CHẾT TRONG TRẠI TẬP TRUNG AUSCHWITZ.”

Bosko cao lêu nghêu, gầy hơn Oskar. Giọng nói cục cằn, và cũng là dân Czech gốc Đức. Gia đình anh, giống như Oskar, thuộc diện bảo thủ và tôn thờ các giá trị Đức truyền thống. Anh đã có một thời gian ngắn ôm niềm hy vọng Đại Đức khi Hitler lên nắm quyền, giống như bầu nhiệt huyết Đại Âu châu của Beethoven dành cho Napoleon. Tại Vienna, nơi anh theo ngành thần học, Bosko đã gia nhập SS - một phần để khỏi phải đăng lính Wehrmacht, một phần vì cơn cuồng nhiệt chóng tàn. Nay anh đã hối hận và đang, nhiệt thành hơn là Oskar nghĩ, sám hối. Ở thời điểm này, Oskar chỉ biết đây là người luôn sẵn lòng ngầm phá hoại một Aktion. Bosko chịu trách nhiệm về ngoại vi của ghetto, và từ văn phòng ở ngoài bức tường, anh nhìn cảnh tượng Aktion với niềm kinh hãi đích thực, bởi anh, như Oskar, tự xem mình là một nhân chứng tiềm năng.

Oskar không biết rằng vào đợt Aktion tháng Mười, Bosko đã tuồn vài chục trẻ em trong ghetto ra ngoài bằng thùng các tông. Ông cũng không biết rằng viên Wachtmeister này cung cấp mỗi lần cả chục giấy thông hành cho quân nổi dậy. Lực lượng vũ trang Do Thái (ZOB) ở Cracow khá mạnh. Nòng cốt của nó là thành viên câu lạc bộ thanh niên, đặc biệt là từ Akiva - lấy tên bậc giáo sĩ huyền thoại Akiva ben Joseph, soạn giả kinh Mishna. Lãnh đạo ZOB là hai vợ chồng Shimon và Gusta Dranger - nữ chủ nhân của cuốn nhật ký sẽ thành kinh điển của phong trào Cách mạng - và Dolek Liebeskind. Họ cần tự do ra vào ghetto để tuyển mộ thành viên, vận chuyển tiền, giấy tờ giả, và tờ báo của phong trào. Họ có liên hệ với Quân đội Nhân dân Ba Lan thiên tả, có căn cứ trong rừng quanh Cracow, mà tổ chức này cũng cần giấy tờ do Bosko cung cấp. Chỉ riêng quan hệ của Bosko với ZOB và Quân đội Nhân dân đã đủ lĩnh án treo cổ; nhưng anh vẫn ngầm chế giễu, khinh bỉ bản thân và coi thường những nỗ lực giải cứu nửa vời. Vì Bosko muốn cứu tất cả, sẽ sớm cố gắng làm như vậy, và sẽ vì thế mà vong thân.

*

Danka Dresner, chị họ của Genia áo đỏ, mười bốn tuổi và giờ đây đã lớn vượt ra khỏi cái bản năng thơ ấu đã giúp cô em bé bỏng an toàn thoát khỏi hàng rào cảnh sát trên Plac Zgody. Dù em đã làm lao công ở căn cứ Luftwaffe, thực tế là vào mùa thu năm ấy bất kỳ phụ nữ nào dưới mười lăm hoặc trên bốn mươi đều có nguy cơ bị bắt đi trại.

Thành thử, vào buổi sáng một nhóm Sonderkommando SS và các đội Cảnh sát An ninh tiến vào phố Lwówska, bà Dresner liền đưa Danka xuống Dabrowski, tới nhà một người hàng xóm có tường giả. Chủ nhà là một phụ nữ gần bốn mươi, là người hầu của bếp ăn Gestapo gần Wavel, bởi vậy có thể hy vọng được châm chước chút ít. Nhưng bà có bố mẹ già, đương nhiên bị nguy hiểm. Do vậy bà mới xây một vách ngầm rộng sáu mươi xăng ti mét cho hai cụ, một dự án tốn kém, bởi chỉ có thể đưa lậu gạch vào ghetto bằng xe cút kít, giấu dưới đống hàng hóa hợp pháp - quần áo cũ, củi và thuốc tẩy uế. Có Chúa mới biết bức vách bí mật này đã tốn của bà bao nhiêu tiền - có thể 5.000 zł, có thể 10.000.

Đã vài lần bà nói chuyện này với bà Dresner. Nếu Có Aktion, bà Dresner và Danka có thể đến đây. Thế nên vào buổi sáng họ nghe thấy từ góc phố Dabrowski thứ âm thanh huyên náo ấy, tiếng sủa của bầy Dalmatian và Doberman, tiếng gầm qua loa phóng thanh của các Oberscharführer, Danka và bà Dresner vội vàng chạy tới nhà người bạn.

Khi mẹ con nhà Dresner leo lên cầu thang và tìm được đúng phòng, họ nhận thấy sự huyên náo ấy đã làm kinh động nữ chủ nhân. “Xem chừng không ổn,” bà ta nói. “Bố mẹ tôi đã trong đó rồi. Thêm con bé nữa thì vừa. Nhưng chị thì không.”

Danka trân trân ngó bức tường cuối phòng, ngó lớp giấy dán lem luốc. Trong đó, bị lèn sau lớp gạch, chuột có lẽ đang sục sạo dưới chân, giác quan căng ra vì bóng tối, là cha và mẹ già của người phụ nữ này.

Bà Dresner nhận ra bạn mình không còn tỉnh táo. Con bé thì được, chị thì không, bà ta nhắc đi nhắc lại. Như thể bà ta nghĩ, vì Danka nhẹ cân nên SS sẽ khoan dung hơn nếu phát hiện ra bức tường. Bà Dresner giải thích rằng mình không béo, rằng có vẻ Aktion chỉ tập trung vào bên này phố Lwówska, rằng bà chẳng có nơi nào để trốn. Và rằng bà cũng vừa. Danka là đứa tin cậy được, bà nói, nhưng có mẹ trong đó nó sẽ yên tâm hơn. Chị cứ lấy mắt ước lượng mà xem, chỗ này bốn người sánh vai nhau vẫn vừa. Nhưng tiếng súng cách đó hai dãy nhà đã quét phăng chút lý trí còn sót lại ở người phụ nữ. “Con bé thì được!” bà ta hét lên. “Còn chị thì không!”

Bà Dresner quay sang Danka và bảo em trốn vào bức tường. Chính Danka sau đó cũng không hiểu vì sao mình lại ngoan ngoãn nghe lời mẹ và nín nặng đi trốn đến thế. Chủ nhà đưa em lên gác xép, lật thảm lên, dỡ một tấm ván sàn ra. Danka chui xuống. Dưới đó không tối lắm; hai ông bà đã thắp một mẩu nến. Danka thấy mình đứng cạnh bà cụ - mẹ người khác, nhưng, bên trên mùi cùng khổ, vẫn toát ra mùi hương ấm áp, bảo bọc của tình me. Bà cụ khẽ mỉm cười với em. Ông cụ đứng đầu bên kia, hai mắt nhắm lại, không để bị phân tâm vì ngoại cảnh.

Được một lúc, bà cụ ra hiệu rằng nếu muốn em có thể ngồi xuống. Danka ngồi bó gối theo chiều dọc và tìm được một tư thế thoải mái trên sàn. Không có con chuột nào quấy rầy em. Em không nghe thấy gì - không một lời nào từ mẹ em và bà bạn bên kia bức tường. Nhưng trên hết em bất ngờ cảm thấy an toàn. Và cùng với cảm giác an toàn là nỗi ân hận vì đã máy móc nghe lời mẹ, và lo lắng cho bà, người vẫn ở ngoài kia, trong thế giới của những Aktion.

Bà Dresner không về ngay. Lúc này SS đã tới phố Dabrowski. Bà nghĩ có lẽ mình nên nán lại. Nếu bà bị bắt, bạn bà cũng chẳng tổn thất gì. Như thế khéo lại có ích. Bắt được một phụ nữ đây có thể sẽ làm chúng cảm thấy đã hoàn thành nhiệm vụ và không săm soi kỹ lớp giấy dán tường.

Nhưng người phụ nữ đã đinh ninh rằng sẽ không ai sống sót nếu bà Dresner lưu lại; còn bà Dresner cũng nhận thấy, nếu chủ nhà vẫn ở trong tình trạng này thì sẽ thế thật. Thế nên bà đứng dậy, bình thản dập tắt mọi hy vọng của bản thân, và rút lui. Chúng sẽ thấy bà trên ngưỡng cửa hoặc ngoài sảnh. Vì sao không ở ngoài phố? Đã gần như luật bất thành văn, cư dân ghetto phải run rẩy ngồi trong nhà cho đến khi bị phát hiện, nên ai bị bắt khi đang đi cầu thang thì coi như mắc tội thách thức chế độ.

Một bóng người đội mũ kêpi ngăn bà lại. Cậu ta xuất hiện trên ngưỡng cửa, nheo mắt nhìn từ hành lang tối tăm đến vùng sáng xanh lạnh của mảnh sân phía trong. Chăm chú nhìn, cậu ta nhận ra bà, và bà cũng vậy. Cậu ta quen con trai lớn của bà; nhưng ai dám chắc điều này có ý nghĩa gì không; ai biết sức ép họ phải chịu trong OD lớn đến mức nào. Cậu vào sảnh và đến gần bà. “Pani Dresner,” cậu nói. Cậu chỉ vào cầu thang “Mười phút nữa chúng sẽ rút đi. Bác cứ nấp dưới cầu thang. Nhanh lên. Nấp dưới cầu thang đi.”

Cũng đờ đẫn như Danka khi tuân lời mẹ, bà tuân lời cậu trai OD, chui xuống gầm cầu thang. Nhưng bà biết không ổn. Ánh sáng mùa thu từ sân sẽ phơi bày bà. Nếu định ngó vào sân, hoặc vào cửa căn hộ nằm cuối hành lang, chúng sẽ thấy bà ngay. Vì lom khom hay đứng thẳng chẳng khác gì nhau, bà bèn đứng thẳng. Từ ngưỡng cửa, cậu trai OD lại giục bà ở yên đấy. Rồi cậu bỏ đi. Bà nghe tiếng la hét, ra lệnh, cầu xin, tất cả như thể đang diễn ra ngay nhà bên cạnh.

Cuối cùng, cậu trở lại với một số người nữa. Bà nghe thấy tiếng chân trước cửa. Bà nghe thấy cậu nói bằng tiếng Đức rằng mình đã lục soát tầng trệt và không có ai ở nhà. Nhưng các phòng tầng trên thì có người. Cuộc đối thoại giữa cậu với lính SS tẻ nhạt đến mức bà cảm thấy nó không phản ánh hết sự mạo hiểm cậu phải trải qua. Cậu đã đặt cược tính mạng của mình vào kịch bản sau khi càn quét Lwówska tới tận cuối phố Dabrowski, bọn chúng không còn đủ mẫn cán để tự mình lục soát tầng trệt, vì thế sẽ không phát hiện ra bà Dresner, người cậu chỉ biết sơ, nấp dưới cầu thang.

Sau cùng chúng tin lời cậu. Bà nghe tiếng chúng lên cầu thang, đóng mở cửa sầm sập trên tầng một, tiếng bốt lộp cộp trong căn phòng có tường giả. Bà nghe giọng bạn mình tru tréo, thất thanh… tôi có giấy phép lao động chứ, tôi làm việc tại bếp ăn Gestapo, tôi biết hết các ngài sĩ quan. Bà nghe thấy chúng từ tầng hai đi xuống bắt theo ai đó; không chỉ một người; một đôi vợ chồng, hoặc một gia đình. Họ thế mạng cho mình, về sau bà nghĩ. Một giọng đàn ông trung niên khò khè viêm phổi nói, “Nhưng thưa các ngài, chúng tôi có thể mang theo ít quần áo chứ.” Bằng một giọng hờ hững như phu khuân vác ngoài ga khi được hỏi giờ tàu, tên lính SS bảo ông ta bằng tiếng Ba Lan, “Không cần đâu. Ở đó người ta sẽ bao cấp hết.”

Tiếng ồn xa dần. Bà Dresner chờ đợi. Không có trận càn thứ hai. Trận tiếp theo sẽ đến vào ngày mai hoặc ngày kia. Chúng sẽ trở lại, hết lần này đến lần khác, tỉa dần cả ghetto. Sự kiện vào tháng Sáu còn là đỉnh điểm của nỗi kinh hoàng thì tới tháng Mười đã thành chuyện thường nhật. Và dù lòng rất cảm kích cậu trai OD, bà vẫn ý thức rất rõ, khi lên cầu thang đón Danka, rằng một khi việc sát nhân được lên lịch, công nghiệp hóa, và trở thành thông lệ như tại Cracow này, thì anh khó lòng, bằng sự nghĩa hiệp nửa vời, cải biến dòng chảy chủ lưu của chế độ. Những cư dân chính thống hơn ở ghetto có câu châm ngôn - “Sống một giờ cũng là sống.” Cậu trai OD đã cho bà một giờ ấy. Bà biết chẳng ai có thể cho bà thêm nữa.

Trên lầu, người đàn bà có chút hổ thẹn. “Con bé có thể đến bất kỳ lúc nào,” bà ta nói. Nghĩa là, tôi loại chị không phải vì hèn nhát, mà vì đó là chính sách. Và chính sách là bất biến. Chị không được vào, nhưng nó thì được.

Bà Dresner không tranh cãi - bà cảm giác lập trường của bà chủ nhà là một phần của phương trình đã cứu mạng bà dưới sảnh. Bà cảm ơn. Danka có thể sẽ cần đến lòng hiếu khách của bà ta lần nữa.

Từ giờ trở đi, vì bà nhìn trẻ hơn cái tuổi bốn mươi hai và vẫn còn khỏe mạnh, bà Dresner sẽ nỗ lực sinh tồn trên cơ sở đó - cơ sở kinh tế, tức là giá trị giả định mà sức khỏe mang lại cho bà trong mắt Tổng cục Quân giới hay cơ quan nào khác của guồng máy chiến tranh. Nhưng bà chẳng lấy gì làm chắc chắn. Thời buổi này, chỉ cần nhận thức được phân nửa sự thật, ta sẽ hiểu rằng với SS, cái chết của một người Do Thái mà xã hội không được phép nhân nhượng ăn đứt mọi giá trị của người này với tư cách một vật phẩm lao động. Câu hỏi là, trong một thời đại như thế, Ai cứu Juda Dresner, nhân viên mua sắm của nhà máy? Ai cứu Janek Dresner, thợ sửa ô tô tại xưởng của Wehrmacht? Ai cứu Danka Dresner, lao công của Luftwaffe, vào buổi sáng mà SS rốt cuộc đã quyết định bỏ qua giá trị kinh tế của họ?

*

Trong khi cậu trai OD thu xếp sự sinh tồn của bà Dresner tại hành lang ngôi nhà trên phố Dabrowski, các thành viên Zionist của phong trào thanh niên Halutz và ZOB đang chuẩn bị một hành động phản kháng hữu hình hơn. Họ tìm được đồng phục của Waffen SS và nhờ vậy có thể vào nhà hàng Cyganeria của quân dự bị SS ở Św Ducha Plac bên kia quảng trường, đối diện rạp hát Slowacki. Tại đây họ đặt một quả bom thổi tung bàn ghế lên mái nhà, xé vụn bảy lính SS và làm bị thương hơn bốn mươi tên nữa.

Khi nghe tin, Oskar biết suýt nữa mình cũng đã có mặt ở đó, để phỉnh phờ vài gã sĩ quan.

Mục đích sâu xa của Shimon và Gusta Dranger cùng đồng đội là đi ngược lại truyền thống dĩ hòa vi quý của ghetto, biến nó thành phong trào phản kháng tập thể. Họ đánh bom rạp chiếu bóng Bagatella dành riêng cho SS tại phố Karmelicka. Trong bóng tối nhập nhòe lời hứa hẹn của Leni Riefenstahl về đàn bà Đức, dành cho các binh sĩ mỏi mệt vì thực hiện nhiệm vụ đất nước giao phó giữa ghetto man rợ này hay trên đường phố ngày một lắm hiểm nguy của Cracow, và chỉ trong chớp mắt một lưỡi lửa khổng lồ vàng rực đã bùng lên nhận chìm tất cả.

Trong mấy tháng liền, ZOB đánh chìm tàu tuần tiễu trên sông Vistula, phóng hỏa một cơ số xưởng ô tô quân sự trong thành phố, cung cấp Passierschein cho những người đáng lẽ không được nhận giấy này, tuồn ảnh hộ chiếu vào trung tâm để làm giả giấy tờ Aryan, làm trật bánh đoàn tàu thanh lịch dành riêng cho quân đội chạy tuyến Cracow-Bochnia, và phát hành tờ báo cách mạng của mình. Họ cũng gài bẫy cho hai cấp phó của Cảnh sát trưởng OD Spira, Spitz và Forster, hai kẻ đã lên danh sách bỏ tù hàng ngàn người, rơi vào bẫy phục kích của Gestapo. Họ đã xào lại một trò chơi khăm quen thuộc của sinh viên. Một người bọn họ đóng giả làm chỉ điểm, hẹn hai viên cảnh sát ở một làng gần Cracow. Đồng thời một người khác cũng vào vai chỉ điểm mật báo cho Gestapo biết hai thủ lĩnh của phong trào kháng chiến Do Thái sẽ xuất hiện tại một điểm hẹn cụ thể. Spitz lẫn Forster đều bị hạ gục khi đang chạy trốn Gestapo.

Tuy vậy, phong cách phản kháng của cư dân ghetto vẫn là của Artur Rosenzweig, người, vào tháng Sáu, khi được yêu cầu lập danh sách trục xuất hàng nghìn người, đã ghi tên mình, vợ và con gái lên hàng đầu.

Còn ở Zablocie, tại sân sau của Emalia, Jereth và Oskar Schindler đang theo đuổi phương thức phản kháng riêng của họ, bằng cách lên kế hoạch xây dựng khu lán thứ hai.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.