Sinh nhật thứ ba mươi bảy của Oskar được cả ông và tất cả tù nhân cùng kỷ niệm. Ai đó đã làm một chiếc hộp nhỏ để đựng khuy măng sét, và khi Herr Direktor xuất hiện dưới xưởng, cô bé mười hai tuổi Niusia Horowitz được đẩy về phía Oskar để đọc một đoạn diễn văn tiếng Đức đã tập đến thuộc lòng. “Herr Direktor,” cô nói lí nhí đến mức ông phải cúi xuống mới nghe được. “Tất cả tù nhân chúc ông những điều tốt đẹp nhất nhân dịp ngày sinh nhật[1]”.
Hôm đấy vừa khéo lại là lễ Shabbat, bởi cư dân Brinnlitz sẽ mãi nhớ đến hôm nay như một ngày hội. Từ đầu giờ sáng, khi Oskar bắt đầu ăn mừng ở văn phòng bằng cognac hiệu Martell và phô cho mọi người xem bức điện tín đầy sỉ nhục từ đám kỹ sư ở Brno, hai xe tải chở bánh mì trắng lăn bánh vào sân. Một phần dành cho trại lính SS, bao gồm cả Liepold đang say rượu ngủ nướng ở nhà. Điều này là cần thiết để ngăn SS cằn nhằn rằng Herr Direktor ưu ái tù nhân. Mỗi tù nhân được phát ba phần tự cân bánh mì. Họ vừa nhấm nháp vừa săm soi. Một số đoán già đoán non xem Oskar moi đâu ra thứ này. Có lẽ nó phần nào đến từ hảo tâm của viên quản lý cối xay trong vùng, Daubek, người ngoảnh mặt làm ngơ mỗi khi tù nhân Brinnlitz trút yến mạch vào quần. Nhưng món bánh mì thứ Bảy ấy được họ hân thưởng chủ yếu vì tính chất thần kỳ của sự kiện, của cái kỳ công mà Oskar đã bỏ ra.
Dù trong ký ức mọi người hôm ấy là một ngày đại hỉ, thực tế không có nhiều lý do cho không khí hội hè. Tuần trước, Herr Commandant Hassebroeck ở Gröss-Rosen gửi tới Liepold một bức điện dài, chỉ đạo y thủ tiêu tù nhân trong tình huống quân Nga đến gần. Điện nói sẽ có một lần chọn lọc cuối cùng. Người già yếu và què quặt phải bắn bỏ ngay lập tức, còn những người khỏe mạnh sẽ bị giải đến Mauthausen.
Dù tù nhân trong xưởng không biết gì về bức điện, họ vẫn có nỗi sợ mơ hồ về một điều tương tự. Cả tuần qua có tin đồn rằng tù nhân Ba Lan đã được điều động đào huyệt tập thể trong rừng quanh Brinnlitz. Sự xuất hiện của bánh mì trắng là thuốc giải cho tin đồn ấy, một cam kết cho tương lai của tất cả. Thế nhưng mọi người có vẻ cũng biết một giai đoạn đầy những hiểm nguy tinh vi hơn trước đã bắt đầu.
Nếu thuộc cấp của Oskar không biết gì về bức điện, thì Herr Commandant Liepold cũng chẳng hơn gì. Đầu tiên nó tới tay Mietek Pemper ở văn phòng của y. Pemper lén mở phong bì bằng hơi nước nóng rồi dán lại và báo thẳng nội dung cho Oskar. Schindler đứng bên bàn đọc bức điện, đoạn quay lại Mietek. “Được thôi,” ông gầm gừ, “Chúng ta đành chia tay Untersturmführer Liepold vậy.”
Vì cả Oskar và Pemper đều cảm thấy trong trại SS ở đây chỉ có duy nhất Liepold là đủ sức phục tùng một mệnh lệnh như vậy. Viên trại phó tuổi ngoài bốn mươi, một tay Oberscharführer tên là Motzek. Dù có thể tự tay sát nhân, nhưng chỉ huy việc giết hại máu lạnh 1.300 con người vượt quá khả năng của y.
Vài ngày trước sinh nhật, Oskar ngầm khiếu nại lên Hassebroeck về cách hành xử cực đoan của Herr Commandant Liepold. Ông tới gặp Rasch, trùm cảnh sát thế lực của Brno và đưa ra cáo buộc tương tự. Ông cho cả hai xem bản sao những bức thư ông đã viết gửi văn phòng tướng Glücks tại Oranienburg. Oskar đặt cược vào việc Hassebroeck sẽ nghĩ đến sự hào phóng của mình trước đây cùng hứa hẹn của mình về những hào phóng trong tương lai, đặt cược rằng y sẽ ghi nhận áp lực thay thế Liepold đang được Oskar tích tụ ở Oranienburg và Brno, và rằng y sẽ điều chuyển Liepold mà chẳng buồn điều tra thái độ của viên Untersturmführer với tù nhân ở Brinnlitz.
Đây là một tuyệt chiêu rất Schindler - ván blackjack Amon-Oskar ở tầm cao hơn. Tất cả tù nam của Brinnlitz đều nằm trên bàn cược, từ Hirsch Krischer, tù nhân số 68821, thợ sửa ô tô bốn mươi tám tuổi, tới Jarum Kiaf, tù nhân số 77196, lao động phổ thông hai mươi bảy tuổi và người sống sót của Goleszów. Và tất cả tù nữ cũng được tính luôn, từ số 76201, thợ cơ khí hai mươi chín tuổi Berta Aftergut, đến số 76500, Jenta Zwetschenstiel ba mươi sáu tuổi.
Oskar đổ thêm dầu vào ngọn lửa dưới ghế của Liepold bằng cách mời y đến ăn tối tại căn hộ trong nhà máy. Hôm đó là 27 tháng Tư, đêm trước sinh nhật Schindler. Tầm mười một giờ tối hôm ấy, tù nhân làm việc dưới xưởng ngỡ ngàng thấy viên Commandant say khướt ngất ngưởng xuất hiện, được Herr Direktor tỉnh táo hơn dìu đi. Dọc đường, Liepold cố gắng nhằm vào từng công nhân. Y quát tháo, chỉ lên những thanh xà cỡ đại trên trần nhà. Bấy lâu nay Herr Direktor không cho y bước chân vào nhà máy, nhưng hôm nay y đã đến, thứ quyền lực tối hậu sẵn sàng trừng phạt họ. “Mả mẹ chúng mày,” y gào rống. “Thấy cái xà không! Tao sẽ treo cổ chúng mày lên đó! Tất cả chúng mày!”
Oskar vừa ôm vai dìu y đi vừa vỗ về. “Phải rồi, phải rồi. Nhưng tối nay thì thôi, hả? Để khi khác.”
Hôm sau, Oskar gọi Hassebroeck và các nơi khác với những cáo buộc dễ dự đoán. Hắn say xỉn, sục sạo khắp nhà máy, dọa hành quyết người ta tại chỗ. Đây đâu phải lao động phổ thông! Họ là nhân viên kỹ thuật lành nghề chịu trách nhiệm sản xuất vũ khí bí mật, vân vân. Mặc dù Hassebroeck chịu trách nhiệm về cái chết của hàng ngàn thợ mỏ, mặc dù y nghĩ rằng tất cả lao động Do Thái phải bị thủ tiêu khi quân Nga đến gần, y vẫn nhất trí rằng từ giờ tới lúc đó nhà máy của Herr Schindler cần được đối xử đặc biệt.
Liepold, Oskar nói, thường xuyên tuyên bố đến phút cuối cùng hắn muốn ra trận. Hắn còn trẻ, còn khỏe, còn nhiệt huyết. À, Hassebroeck bảo Oskar, để xem chúng ta có thể làm gì. Bản thân Commandant Liepold, trong khi đó, dành trọn ngày sinh nhật Oskar để ngủ cho tiêu bữa tối hôm trước.
Trong lúc y vắng mặt, Oskar đã có một bài phát biểu sinh nhật choáng người. Ông đã vui chơi cả ngày, nhưng không ai nhớ diễn văn của ông có chỗ nào không mạch lạc. Chúng tôi không có văn bản ghi lại những gì ông nói, nhưng một bài phát biểu khác, sau đó mười ngày, vào tối mồng 8 tháng Năm, thì có. Theo những người có mặt, mạch văn ở hai bài tương tự nhau. Cả hai, tựu trung lại, đều hứa hẹn cuộc sống sẽ tiếp diễn.
Gọi hai bài là diễn văn, tuy vậy, lại là hạ thấp ảnh hưởng của chúng. Điều bản năng thôi thúc Oskar nỗ lực là điều chỉnh hiện thực, thay đổi nhận thức về bản thân của cả tù nhân lẫn SS. Cách đây khá lâu, với sự quả quyết đầy ương ngạnh, Oskar từng bảo một nhóm công nhân ca đêm, trong đó có Edith Liebgold, rằng họ sẽ sống sót qua chiến tranh. Ông cũng đã ban phát món quà tiên tri ấy khi đón những phụ nữ về từ Auschwitz, buổi sáng họ đến đây tháng Mười một năm ngoái, và bảo họ, “An toàn rồi; có tôi ở đây rồi.” Không thể bỏ qua rằng vào một thời đại khác, một hoàn cảnh khác, Her Direktor đã có thể trở thành một kẻ mị dân kiểu Huey Long[2] của bang Louisiana hay John Lang[3] của nước Úc, với thiên khiếu thuyết phục khán giả rằng họ và ông ta được vận mệnh gắn kết với nhau để ngăn chặn mọi tà ác ở nhân gian trong đường tơ kẽ tóc.
Bài diễn văn sinh nhật được Oskar thực hiện bằng tiếng Đức ở dưới xưởng, khi tù nhân tề tựu đông đủ. Một phân đội SS được đưa vào để canh gác một cuộc hội họp lớn như vậy, và nhóm nhân viên người Đức cũng có mặt. Khi Oskar cất lời, Poldek Pfefferberg cảm thấy lông chấy trên người anh dựng đứng cả lên. Anh nhìn quanh những gương mặt câm lặng của Schoenbrun và Fuchs, của những tên lính SS cầm súng tiểu liên. Họ giết ông ấy mất, anh nghĩ. Và thế là tất cả sẽ đi tong.
Bài phát biểu chứa đựng hai lời hứa lớn. Thứ nhất, đế chế bạo ngược này sắp đến hồi kết thúc. Ông nói tới những người lính SS đứng quanh tường như thể họ cũng bị cầm tù và khát khao được giải phóng. Nhiều người trong số họ, Oskar giải thích cho các tù nhân, đã bị cưỡng bức đăng lính và sung vào Waffen SS. Lời hứa còn lại là ông sẽ lưu lại Brinnlitz tới khi có tuyên bố đình chiến. “Và thêm năm phút nữa,” ông nói. Đối với tù nhân, bài phát biểu ấy, như mọi tuyên bố trước của Oskar, hứa hẹn một tương lai. Nó khẳng định quyết tâm mãnh liệt của ông là không để họ vùi thân dưới mồ trong rừng. Nó nhắc cho họ nhớ ông những gì ông đã đầu tư vào họ, tiếp thêm cho họ sinh lực.
Tuy nhiên ta chỉ có thể phỏng đoán sự ngỡ ngàng của những người lính SS có mặt. Ông vừa hào hứng sỉ nhục quân đoàn của họ. Liệu họ sẽ phản đối, hay sẽ nuốt trôi điều đó, ông sẽ biết ngay qua cách họ phản ứng. Ông cũng cảnh báo họ rằng mình sẽ lưu lại Brinnlitz ít nhất đến khi nào họ rút đi, và do đó ông sẽ là nhân chứng.
Nhưng lòng Oskar không hoan hỉ như ngoài mặt. Sau này ông thú nhận, thời điểm ấy ông quan ngại về những gì các đơn vị quân sự đóng ở Zwittau có thể gây ra cho Brinnlitz khi rút đi. Ông nói, “Chúng tôi hoang mang, bởi chúng tôi sợ lính SS cùng đường sẽ làm liều.” Đây hẳn là một cơn hoang mang thầm lặng, bởi không tù nhân nào, ngồi gặm bánh mì trắng trong ngày sinh nhật Oskar, có vẻ đánh hơi thấy điều đó. Oskar còn nỗi lo về một số đơn vị của Vlasov đóng ở vùng giáp ranh Brinnlitz. Đó là thành viên của ROA, Quân Giải phóng Nga, thành lập năm ngoái theo chỉ đạo của Himmler, tuyển mộ từ hàng ngũ tù binh Nga đông đảo của Đế chế, đặt dưới sự chỉ huy của tướng Andrei Vlasov, một tướng lĩnh Xô viết bị bắt ở mặt trận Moscow ba năm trước. Đây là mối đe dọa với cư dân Brinnlitz, bởi chúng biết Stalin muốn dành cho chúng sự trừng phạt đặc biệt, và sợ Đồng minh sẽ trao chúng cho ông ta. Quân Vlasov ở khắp nơi do vậy rơi vào tình trạng bạo động cùng quẫn kiểu Xlavơ, lại thêm vodka thổi bùng lên. Khi rút lui về trận tuyến quân Mỹ ở phía Tây, chuyện gì chúng cũng dám làm.
Hai ngày sau bài phát biểu sinh nhật của Oskar, một tập chỉ thị hạ cánh xuống bàn Liepold. Chúng thông báo Untersturmführer Liepold được điều động tới một tiểu đoàn bộ binh Waffen SS gần Prague. Dù chẳng thể hào hứng được, có vẻ y đã lặng lẽ khăn gói ra đi. Những bữa tối ở nhà Oskar, nhất là sau chai vang thứ hai, y vẫn hay nói mình muốn ra trận. Gần đây có một số sĩ quan, Wehrmacht và SS, từ mặt trận rút về, được mời ăn tối tại căn hộ của Herr Direktor, và câu chuyện bên bàn ăn luôn nhằm gãi vào chỗ ngứa máu ra trận của Liepold. Y chưa hề đối diện nhiều bằng chứng cho thấy lý tưởng này đã chấm hết như các thực khách khác.
Khó có khả năng y gọi lên văn phòng Hassebroeck trước khi cuốn gói. Đường điện thoại lúc này không ổn định, vì quân Nga đã bao vây Breslau và cách Gröss-Rosen chỉ một tầm hành quân. Nhưng lệnh điều động y sẽ chẳng làm ai ở văn phòng của Hassebroeck ngạc nhiên, do họ cũng thường nghe Liepold ca bài yêu nước. Vậy là, giao quyền chỉ huy Brinnlitz lại cho Oberscharführer Motzek, Josef Liepold lên xe ra trận, một kẻ chủ chiến nay đã toại nguyện.
*
Với Oskar, không có chuyện ngồi yên chờ kết thúc. Đầu tháng Năm, bằng cách nào đó, ông biết tin - có lẽ bằng điện thoại với Brno, nơi đường dây vẫn còn hoạt động - một trong những kho hàng ông thường giao dịch đã bị bỏ không. Mang theo nửa tá tù nhân, ông điều xe tải đến hôi của. Dọc đường xuôi Nam, có một số trạm kiểm soát, nhưng họ phô ra những giấy tờ hoành tráng, được làm giả, như Oskar kể lại, với con dấu và chữ ký của “các quan chức SS cao cấp nhất ở Moravia và Bohemia”. Khi đến nơi, họ thấy kho hàng chìm trong lửa. Các nhà kho quân sự lân cận đều bị châm lửa, chưa kể những đợt oanh tạc bằng bom cháy. Từ hướng nội đô, nơi quân du kích Czechoslovakia đang giành giật từng ngôi nhà với quân Đức, họ có thể nghe tiếng súng. Herr Schindler cho xe tải lùi vào cầu bốc dỡ của kho hàng, phá cửa, và phát hiện trong kho chất đầy thuốc lá hiệu Egipski.
Mặc dù hồn nhiên đi cướp như vậy, trong lòng Oskar vẫn khiếp sợ trước tin đồn ở Slovakia về việc quân Nga xử tử thường dân Đức không thương tiếc và không cần xét xử. Nhờ nghe tin BBC hằng đêm, ông yên lòng hơn khi biết chiến tranh có thể kết thúc trước khi quân Nga đến được Zwittau.
Tù nhân cũng được gián tiếp nghe BBC và nắm được tình hình thực tế. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của Brinnlitz, hai kỹ thuật viên phát thanh, Zenon Szenwich cùng Artur Rabner, liên tục được giao sửa đài cho Oskar, không cái này thì cái khác. Tại xưởng hàn, Zenon đeo tai nghe vào để nghe bản tin hai giờ chiều của Đài tiếng nói London. Tới ca đêm, nhóm thợ hàn lại nghe chương trình phát thanh hai giờ sáng. Đêm nọ, một tên lính SS, vào nhà máy để đưa thư lên văn phòng, phát hiện ra bọn họ đang xúm quanh chiếc đài. “Bọn tôi sửa đài cho Herr Direktor,” họ thanh minh, “và vừa làm nó hoạt động được một phút.”
Hồi đầu năm, tù nhân hy vọng Moravia sẽ rơi vào tay quân Mỹ. Bởi vì Eisenhower vẫn chôn chân bên bờ Elbe, giờ họ biết quân Nga sẽ đến trước. Nhóm tù nhân gần gũi nhất với Oskar soạn một bức thư bằng tiếng Hebrew, giải trình thành tích của Oskar. Bức thư sẽ hữu ích nếu được giao cho quân Mỹ, vốn không chỉ có một phần đáng kể là người Do Thái, mà còn có giáo sĩ quân đội. Stern và bản thân Oskar đều xem việc Oskar tới được chỗ quân Mỹ là điều có ý nghĩa sống còn. Một phần quyết định của Oskar bị ảnh hưởng bởi quan điểm Trung Âu điển hình rằng quân Nga là bọn man rợ, dị giáo và nhân tính khó lường. Tuy nhiên, nếu một số tin tức từ phía Đông đáng tin cậy, thì nỗi sợ của ông hoàn toàn có cơ sở.
Nhưng ông không vì thế mà ngã lòng. Ông vẫn còn thức, và trong tâm trạng phấn khích chờ đợi khi tin Đức đầu hàng đến qua đài BBC vào rạng sáng mồng 7 tháng Năm. Cuộc chiến ở châu Âu sẽ chấm dứt vào nửa đêm hôm sau, đêm thứ Ba mồng 8 tháng Năm. Oskar đánh thức Emilie, và Stern đang trằn trọc cũng được triệu lên văn phòng để giúp Herr Direktor ăn mừng. Stern nhận thấy Oskar đã vững tâm về lực lượng SS đồn trú, nhưng chắc ông sẽ phát hoảng nếu đoán được hôm ấy Oskar sẽ thể hiện sự tự tin đó ra sao.
Dưới xưởng, tù nhân vẫn duy trì nếp lao động thường nhật. Nếu có khác, thì là họ làm việc hiệu quả hơn mọi ngày. Nhưng đến trưa, Herr Direktor phá vỡ không khí vờ vĩnh này bằng cách cho phát diễn văn chiến thắng của Churchill trên loa phóng thanh khắp nhà máy. Lutek Feigenbaum biết tiếng Anh và đứng nghệt mặt bên cỗ máy. Với người khác, giọng nói oang oang và nhát gừng của Churchill chính là lần đầu tiên trong mấy năm qua họ được nghe một ngôn ngữ của Thế giới Mới. Giọng nói đặc trưng ấy, trong phong cách có điểm gì đó tương đồng với giọng Führer đã chết, lan ra cổng và ùa vào các tháp canh, song lính SS đón nhận nó một cách điềm tĩnh. Họ không còn nhìn vào trong trại. Ánh mắt họ, giống Oskar, nhưng chăm chú hơn nhiều, đang dõi về hướng quân Nga. Theo chỉ thị trước đấy của Hassebroeck, lẽ ra họ đang bận rộn trong rừng rậm. Thay vào đó, vừa nhìn đồng hồ đợi đến nửa đêm, họ vừa theo dõi bộ mặt đen ngòm của khu rừng, phỏng đoán xem có du kích trong đó hay không. Viên Oberscharführer bồn chồn, và tinh thần trách nhiệm, đã giữ họ lại vị trí. Bởi tinh thần trách nhiệm, như nhiều thượng cấp của họ về sau sẽ thừa nhận trước tòa, là phẩm chất đặc biệt của SS.
Trong hai ngày thấp thỏm ấy, giữa tuyên bố hòa bình và thời điểm nó có hiệu lực, một tù nhân, một thợ kim hoàn tên Licht, bắt tay vào làm một món quà cho Oskar, một thứ giá trị hơn nhiều chiếc hộp đựng măng sét dành tặng ông ngày sinh nhật. Nguyên liệu là một lượng vàng hiếm hoi, được ông lão Jereth chủ nhà máy bao bì cung tiến. Ai cũng hiểu - kể cả nhóm Budzyn, những tín đồ Marxist, rằng Oskar sẽ phải đào tẩu sau nửa đêm. Nỗi thôi thúc ghi dấu cuộc chia ly bằng một nghi lễ nhỏ là điều chiếm lĩnh tâm trí nhóm tù nhân gần gũi với Oskar - Stern, Finder, Garde, anh em nhà Bejski, Pemper. Thật đáng kinh ngạc khi, vào thời điểm không ai dám chắc mình có sống đến ngày hòa bình không, họ lại lo nghĩ chuyện quà chia tay.
Nhưng để làm nguyên liệu cho món quà, chỉ có kim loại thường là sẵn. Chính ông lão Jereth gợi ý thứ khác giá trị hơn. Ông há mồm khoe ra mấy chiếc răng vàng. Không có Oskar, chúng đã rơi vào tay SS từ lâu. Răng tao sẽ lẫn trong một đống ở một nhà kho SS, cùng với răng vàng của những kẻ xa lạ từ Lublin, Łódź và Lwów.
Tất nhiên đây là một sự cung tiến xứng đáng, và Jereth nhất quyết yêu cầu. Một tù nhân từng hành nghề nha sĩ ở Cracow giúp ông nhổ chiếc răng ra. Licht nung chảy số vàng và đến trưa ngày 8 tháng Năm bắt đầu khắc chữ bằng tiếng Hebrew trong lòng nhẫn. Đó là câu kinh Talmud được Stern đọc cho Oskar ngoài văn phòng của Buchheister tháng Mười năm 1939. “Cứu một mạng người bằng cứu cả thế gian.”
Dưới ga ra nhà máy chiều hôm đó, hai tù nhân được giao dỡ lớp ốp da trên trần và mặt trong các cửa chiếc Mercedes của Oskar, giấu từng túi kim cương nhỏ vào đó rồi bọc lại như cũ, hy vọng không để lại dấu vết gì. Với họ, đó là một ngày kỳ lạ. Khi họ rời ga ra, mặt trời đang lặn sau các tháp canh, nơi đặt khẩu Spandau nạp đạn nhưng vô dụng một cách lạ thường. Như thể cả thế giới đều đang chờ đợi một tiếng nói quyết định.
Tiếng nói ấy dường như đã đến vào buổi tối. Một lần nữa, như vào ngày sinh nhật, Oskar yêu cầu viên Commandant tập trung tù nhân dưới xưởng. Một lần nữa, các kỹ sư và thư ký người Đức, trong đầu đã sẵn kế hoạch di tản, đều có mặt. Trong số họ có cả Ingrid, tình cũ của ông. Cô sẽ không rời Brinnlitz cùng Schindler, mà sẽ đi trốn cùng em trai, một cựu chiến binh trẻ, bị thương tật ở chân. Xét việc Oskar đã trải qua vô vàn khó khăn để chuẩn bị cho tù nhân những hàng hóa đổi chác được, khó có khả năng ông để một cố nhân như Ingrid rời Brinnlitz mà không đem theo thứ gì có thể đánh đổi để sinh nhai. Chắc chắn về sau họ sẽ tái ngộ trong tình thân ái, đâu đó ở phương Tây.
Như tại phát biểu sinh nhật của Oskar, lần này lính gác cũng cầm súng vây quanh đại sảnh. Gần sáu tiếng nữa chiến tranh mới kết thúc, và SS đã tuyên thệ không từ bỏ nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh. Các tù nhân quan sát và cố gắng hình dung tâm lý hiện thời của chúng.
Khi có thông báo Herr Direktor sắp phát biểu, hai nữ tù biết tốc ký, cô Waidmann và bà Berger, bèn đi kiếm bút chì để chuẩn bị ghi lại lời ông. Vì đây là một bài phát biểu ứng khẩu, của một người biết mình sắp thành kẻ đào vong, ấn tượng khi trực tiếp nghe từ miệng Oskar mạnh mẽ hơn nhiều khi đọc bản ký lục của Waidmann-Berger. Nó vẫn tiếp tục những chủ đề hôm sinh nhật nhưng dường như hàm chứa tính định đoạt cho cả tù nhân lẫn lính Đức. Nó tuyên bố các tù nhân là người thừa kế của thời đại mới; nó khẳng định tất cả những người còn lại - SS, Oskar, Emilie, Fuchs, Schoenbrun - đều cần được giải cứu.
“Nước Đức vừa tuyên bố,” ông nói, “đầu hàng không điều kiện. Sau sáu năm nhân loại bị tàn sát, thế giới đang khóc thương các nạn nhân, còn châu Âu đang cố gắng khôi phục hòa bình và trật tự. Tôi muốn kêu gọi các bạn tuân thủ trật tự và kỷ luật không điều kiện - tất cả các bạn, những người đã cùng tôi chia sẻ lo âu qua những năm gian khó để các bạn có thể vượt qua hiện tại, và trong mấy ngày tới quay về gia hương đã bị tàn phá và cướp bóc, tìm kiếm người thân còn sống sót. Tôi mong các bạn hãy ngăn ngừa tâm lý hoảng loạn, điều có thể gây ra hậu quả khôn lường.”
Tất nhiên, ông không hàm ý sự hoảng loạn đến từ các tù nhân. Ông muốn nói cơn hoảng loạn từ phía lính gác, từ những kẻ đang đứng dựa vào tường. Ông đang gợi ý để SS rút đi, và tù nhân cho chúng làm điều đó. Tướng Montgomery, ông nói, Chỉ huy quân Đồng minh, vừa kêu gọi tất cả đối xử nhân đạo với những kẻ bại trận, và mọi người, khi phán xét người Đức, cần phân biệt giữa tội ác và nhiệm vụ. “Những người lính ngoài mặt trận, cũng như những con người bé nhỏ chỉ làm phận sự của mình ở khắp nơi, không thể gánh trách nhiệm về những tội ác của một nhóm nhỏ tự nhận là người Đức đã gây ra.”
Lời bào chữa Oskar nói cho đồng bào của mình là những gì tất cả tù nhân sống sót đêm hôm đó sẽ được nghe nhắc đi nhắc lại cả ngàn lần trong thời đại mới. Nhưng nếu có ai đủ tư cách làm điều đó và được họ lắng nghe, ít nhất với sự khoan dung, thì chắc chắn đó là Herr Oskar Schindler.
“Hàng nghìn người Đức đã lên án việc hàng triệu người trong các bạn, cha mẹ, con cái, anh em các bạn bị giết hại; và đến nay vẫn còn hàng triệu người chưa biết đến độ kinh hoàng của những tội ác ấy.” Những hồ sơ, tài liệu được phát hiện tại Dachau và Buchenwald hồi đầu năm, và được BBC đăng tải chi tiết, mới là lần đầu tiên nhiều người Đức biết đến “sự diệt chủng tột cùng vô nhân tính này”. Vì vậy, một lần nữa ông kêu gọi họ hãy hành xử nhân đạo và công bằng, hãy dành quyền phán xét cho những ai có thẩm quyền. “Nếu phải kết tội ai, hãy làm điều đó đúng nơi đúng chỗ. Bởi ở châu Âu mới sẽ có quan tòa, những quan tòa công chính, sẵn sàng lắng nghe các bạn.”
Tiếp đó, ông nói đến sự gắn bó của mình với tù nhân trong năm qua. Cách nói của Oskar phần nào gần như hoài cổ, nhưng ông cũng sợ bị phán xét chung một rọ với những Goeth và Hassebroeck.
“Nhiều người trong các bạn đều biết những áp bức, những thủ đoạn và những khó khăn mà tôi, để giữ được công nhân, phải vượt qua suốt nhiều năm. Bảo vệ quyền lợi bé nhỏ của một công nhân Ba Lan, duy trì việc làm cho họ và giữ cho họ không bị rơi vào nanh vuốt của Đế chế, gìn giữ ngôi nhà và tài sản khiêm nhường của họ vốn đã khó, cuộc đấu tranh để bảo vệ công nhân Do Thái còn khó đến mức nhiều khi tưởng như không thể vượt qua.”
Ông kể lại một số khó khăn, và cảm ơn họ đã giúp ông đáp ứng yêu cầu của các cơ quan quân giới. Xét đến việc Brinnlitz gần như không sản xuất được gì, lời cảm ơn ấy có thể mang màu giễu cợt. Nhưng Oskar không hề giễu cợt. Điều Herr Direktor muốn nói, theo nghĩa đen, là Cảm ơn các bạn đã giúp tôi đánh lừa chế độ.
Ông chuyển sang bào chữa cho người dân địa phương. “Nếu vài ngày tới cánh cửa tự do mở ra với các bạn, hãy nhớ đến nhiều người dân trong vùng đã đùm bọc các bạn bằng lương thực và quần áo. Tôi đã làm mọi thứ và tìm mọi cách để giúp các bạn có thêm lương thực, và tôi cam kết sẽ làm hết sức mình trong tương lai nhằm bảo vệ các bạn lẫn phần bánh mì hằng ngày cho các bạn. Tôi sẽ tiếp tục làm tất cả những gì có thể cho đến năm phút sau nửa đêm.
“Đừng vào nhà dân trong vùng để cướp bóc. Hãy chứng tỏ các bạn xứng đáng với hàng triệu nạn nhân đồng bào của mình, và kiềm chế mọi hành động trả thù hoặc khủng bố cá nhân.”
Ông thừa nhận các tù nhân chưa bao giờ được hoan nghênh ở đây. “Tại Brinnlitz, đám Do Thái của Schindler là điều cấm kỵ.” Nhưng còn nhiều việc quan trọng hơn là báo thù cục bộ. “Tôi gửi gắm các Kapo và đốc công trách nhiệm tiếp tục duy trì trật tự và hiểu biết lẫn nhau. Hãy truyền đạt tinh thần ấy đến mọi người, bởi đó là vì an toàn của chính các bạn. Hãy cảm ơn nhà máy xay của Daubek, người đã làm những điều phi thường để kiếm lương thực cho các bạn. Thay mặt các bạn, tôi xin cảm ơn vị giám đốc dũng cảm vì đã làm tất cả để các bạn có cái ăn.
“Đừng cảm ơn tôi đã cứu sống các bạn. Hãy cảm ơn bạn bè mình, những người đã làm việc ngày đêm để cứu các bạn khỏi diệt chủng. Hãy cảm ơn Stern, Pemper can trường và một số cá nhân khác, bởi lo nghĩ cho các bạn, đặc biệt là khi ở Cracow, mà phải đối diện thường trực với cái chết. Vào thời khắc danh dự này, nhiệm vụ của chúng ta là giám sát và duy trì trật tự cho đến phút cuối cùng. Tôi xin các bạn, ngay cả giữa các bạn với nhau, đừng làm gì ngoài những quyết định nhân đạo và công bằng. Tôi cũng muốn cảm ơn các cộng sự riêng của mình, bởi đã tuyệt đối hy sinh vì công việc của tôi.”
Bài phát biểu của ông, sau khi dệt từ vấn đề này đến vấn đề khác, phân tích cặn kẽ một vài ý tưởng, đả động sơ qua một số khác, đã đến cốt lõi của sự liều lĩnh. Oskar quay sang toán lính SS và cảm ơn họ vì đã cưỡng lại bản năng tàn bạo trong nghề nghiệp của họ. Một số tù nhân thầm nghĩ, Ông ấy vừa kêu gọi chúng ta đừng khiêu khích chúng? Còn ông ấy thì đang làm gì! Bởi SS vẫn là SS, là quân đoàn của Goeth và John và Hujar và Scheidt. Những thứ một tên SS được dạy, những điều gã hành động và chứng kiến, sẽ xác định giới hạn của nhân tính trong gã. Và Oskar, họ cảm thấy, đang liều lĩnh thách thức giới hạn ấy.
“Tôi muốn,” ông nói, “cảm ơn những người lính SS có mặt tại đây, những người đã bị cưỡng ép từ Quân đội và Hải quân vào lực lượng này. Là chủ gia đình, từ lâu họ đã nhận thức được tính ghê tởm và vô nghĩa trong nhiệm vụ của mình. Họ đã ứng xử ở đây một cách đặc biệt nhân văn và đúng đắn.”
Điều các tù nhân không nhận thức được, còn mới kinh hoàng pha chút hưng phấn trước sự liều lĩnh của Herr Direktor, là Oskar đang hoàn tất điều ông đã khởi đầu từ đêm sinh nhật. Ông đang hủy diệt phần chiến binh trong đội quân SS. Vì nếu họ vẫn đứng yên và tiêu hóa được ý tưởng về sự “nhân văn và đúng đắn” của ông, thì nghĩa là họ chẳng còn gì để làm ngoài việc rút lui.
“Cuối cùng,” ông nói, “tôi đề nghị tất cả ba phút mặc niệm để tưởng nhớ vô số nạn nhân đã chết trong những năm tháng tàn khốc này.”
Tất cả làm theo. Oberscharführer Motzek và Helen Hirsch; Lusia, vừa ra khỏi hầm tuần trước, và Schoenbrun; Emilie và Goldberg. Những người sốt sắng mong thời gian qua mau, những kẻ nôn nóng muốn đào tẩu. Giữ yên lặng giữa những cỗ máy Hilo khổng lồ, vào thời khắc cuối cùng của cuộc chiến ồn ào nhất lịch sử.
Khi phút mặc niệm kết thúc, lính SS nhanh chóng rời xưởng. Các tù nhân ở lại. Họ nhìn quanh, tự hỏi có thực rốt cuộc mình đã thành chủ nhân của nơi này. Khi Oskar và Emilie định về nhà thu dọn hành trang, các tù nhân chặn họ lại. Chiếc nhẫn của Licht được đưa ra. Oskar trân trọng ngắm nghía hồi lâu; ông cho Emilie xem dòng chữ và đề nghị Stern phiên dịch. Khi ông hỏi họ lấy vàng ở đâu và được biết đấy là răng của Jereth, họ chờ đợi ông bật cười; Jereth cũng có mặt trong phái đoàn tặng quà, sẵn sàng bị trêu và đã kịp toét miệng cười phô ra những cái chân răng bé xíu. Nhưng Oskar lại tỏ ra rất nghiêm trang và chậm rãi đeo chiếc nhẫn vào ngón tay. Mặc dù không ai thực sự ý thức được, nhưng đó chính là giây phút họ được trở lại là chính mình, và Oskar Schindler bắt đầu phụ thuộc vào những món quà của họ.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Đức của Niusia không chuẩn lắm dù vẫn hiểu được.
[2] Chính khách Mỹ, thống đốc bang Louisiana giai đoạn 1928-1932.
[3] John Dunmore Lang (1799-1878), mục sư và chính khách dân túy ở Australia.