Trại mới, như Emalia, được trang bị bằng tiền của Oskar. Trên nguyên tắc hành chính, mọi trại sản xuất đều do chủ nhà máy tự xây dựng. SS cho rằng họ đã được hỗ trợ đáng kể bằng giá nhân công rẻ mạt, nên việc chi một khoản nhỏ mua gỗ và dây thép gai là hoàn toàn hợp lý. Kỳ thực, các nhà công nghiệp con cưng của Đức, như Krupp và Farben, đều xây trại bằng vật liệu do doanh nghiệp SS cung cấp, với nguồn lao động dồi dào. Oskar không phải con cưng, nên chẳng được gì. Ông moi được vài xe xi măng từ Bosch, với mức giá có lẽ được y coi là giá chợ đen khuyến mại. Cũng từ nguồn này, ông kiếm được độ hai, ba tấn xăng và dầu diesel phục vụ sản xuất và vận chuyển. Ngoài ra, ông cũng mang từ Emalia đi một phần rào thép gai.
Nhưng quanh bộ khung nhà xưởng trơ trọi của Hoffman, ông phải cung cấp hàng rào điện cao thế, khu vệ sinh, trại cho một trăm lính gác, văn phòng liền kề cho SS, một phòng khám, và bếp ăn tập thể. Ngoài chi phí này, Sturmbannführer Hassebroeck đã từ Gröss-Rosen xuống thị sát và ra về với một lượng cognac, đồ sứ và, theo lời Oskar, “chè tính bằng cân”. Hassebroeck còn đem về lệ phí thanh tra và tiền đóng góp Hỗ trợ Mùa đông bắt buộc, theo quy định từ Cục D, tất cả không hề có biên lai. “Xe của y có sức chứa đáng kể cho những thứ ấy,” sau này Oskar kể lại. Ông chẳng nghi ngờ gì việc vào tháng Mười năm 1944, Hassebroeck đã bắt đầu ngụy tạo chứng từ của Brinnlitz.
Thanh tra do Oranienburg trực tiếp gửi đến cũng cần được chăm sóc. Về hàng hóa và thiết bị của DEF, phần lớn vẫn đang trên đường, và sẽ cần 250 toa hàng cho tất cả đến nơi. Thật đáng kinh ngạc, Oskar nói, khi trong tình trạng rệu rã như thế các quan chức Ostbahn, nếu được khuyến khích đúng cách, có thể kiếm được bằng ấy toa tàu.
Và điều đặc biệt nhất ở đây, ở chính Oskar, hớn hở trong chiếc mũ miền sơn cước, khi xuất hiện từ mảnh sân băng giá, là khác với Krupp và Farben và mọi doanh nghiệp khác sử dụng nô lệ Do Thái, ông không hề có mục đích kinh doanh nghiêm túc. Ông chẳng mong đợi gì về sản lượng; trong đầu chả có biểu đồ doanh thu nào. Dù bốn năm trước ông đến Cracow để làm giàu, giờ đây tham vọng sản xuất trong ông chỉ là con số không.
Tình hình sản xuất ở Brinnlitz rất hỗn loạn. Nhiều máy ép, máy khoan và máy tiện vẫn chưa đến, và sẽ phải đổ nền xi măng mới để chịu được sức nặng của các thiết bị này. Nhà xưởng vẫn ngổn ngang máy móc cũ của Hoffman. Tuy vậy, đối với tám trăm công nhân đạn dược trên danh nghĩa vừa đến nơi, Oskar vẫn đang trả 7,5 RM một ngày cho lao động lành nghề và 6 RM cho lao động bình thường. Con số này tương đương 14.000 USD một tuần chỉ cho lao động nam; khi tốp phụ nữ tới nó sẽ vượt trên 18.000. Oskar, do đó, đang chơi một đại thương vụ rồ dại, nhưng lại ăn mừng nó với chiếc mũ xứ Tyrol.
Chuyện tình ái của Oskar cũng có thay đổi. Emilie Schindler từ Zwittau chuyển tới sống cùng Oskar trong căn hộ tầng trệt. Khác với Cracow, Brinnlitz quá gần để bà lấy đó làm cớ cho việc sống ly thân. Với một tín đồ Công giáo như bà, đây là lúc để hoặc chính thức hóa rạn nứt ấy, hoặc quay về chung một mái nhà. Chí ít, họ dường như vẫn chấp nhận đối phương, một sự tôn trọng lẫn nhau tuyệt đối. Thoạt nhìn bà có vẻ là một số không trong hôn nhân, một bà vợ bị ngược đãi nhưng không biết làm thế nào để thoát ra. Ban đầu một số còn tự hỏi bà sẽ nghĩ gì, nếu biết bản chất nhà máy, của khu trại mà Oskar đang duy trì. Họ chưa biết rằng Emilie sẽ có đóng góp đáng kể của riêng mình, không xuất phát từ đạo xuất gia tòng phụ, mà từ suy nghĩ của bản thân bà.
Ingrid đã theo Oskar đến Brinnlitz để làm việc tại nhà máy mới, nhưng cô ngụ bên ngoài trại và chỉ có mặt vào giờ làm việc. Chắc chắn mối quan hệ giữa họ đã nguội lạnh, và cô sẽ không bao giờ sống cùng Oskar nữa. Nhưng cô không oán hận gì, và những tháng sau này Oskar vẫn thường tới thăm cô. Nàng Klonowska sốt sắng, cô gái Ba Lan yêu nước và sành điệu, ở lại Cracow, nhưng giữa họ cũng không có cay đắng gì. Oskar vẫn liên hệ với cô mỗi lần trở lại Cracow, và cô vẫn sẽ giúp ông khi SS gây rắc rối. Mặc dù quan hệ của Oskar với Klonowska và Ingrid đang đi đến hồi kết một cách êm thấm nhất, và không gợn chút đắng cay nào, ta sẽ sai lầm nếu tin rằng ông đã thành con người chuyên nhất.
Ngày họ đến, ông bảo nhóm tù nam rằng cứ yên tâm chờ đợi đoàn tù nữ. Ông dám chắc nếu chậm cũng khó mà trễ hơn họ được. Đoàn tù nữ, dù vậy, lại đi theo hành trình khác. Sau một chặng ngắn từ Płaszów, đoàn tàu đưa họ, cùng vài trăm tù nữ khác, đi qua cổng vòm của Auschwitz-Birkenau. Cửa mở, họ thấy mình đứng giữa quảng trường mênh mông chia đôi khu trại, và những nam nữ nhân viên SS sành sỏi, giọng điệu bình thản, bắt đầu phân loại họ. Quá trình phân loại diễn ra vô cảm một cách đáng sợ. Nếu đi chậm, họ liền bị ăn dùi cui, nhưng không hề có yếu tố cá nhân ở đây. Tất cả chỉ để lùa cả đoàn đi qua. Với đội SS ở trạm Birkenau, tất cả chỉ là sự tẻ nhạt của nhiệm vụ. Họ đã nghe qua mọi lời cầu xin, mọi câu chuyện. Họ đã rành rẽ mọi mánh khóe tù nhân có thể thi triển.
Dưới đèn pha, đoàn nữ tù tê liệt hỏi nhau, thế này nghĩa là sao? Nhưng dù đờ đẫn, giày sũng thứ bùn đặc trưng của Birkenau, họ vẫn nhận thấy, những nữ nhân viên SS chỉ vào họ và bảo những bác sĩ mặc quân phục chú ý tới họ “Schindlergruppe!”[1] Vậy là những viên bác sĩ trẻ bảnh bao này sẽ bỏ đi, để họ yên một lúc.
Chăn lọp bọp bùn, họ bị áp giải tới nhà tiệt trùng, và bị bắt cởi đồ theo lệnh những nữ nhân viên SS trẻ hà khắc cầm dùi cui. Mila Pfefferberg lo lắng về lời đồn đã trở nên quen thuộc với tù nhân của Đế chế - một số vòi sen phun ra hơi ngạt. Ở đây, cô mừng rỡ nhận ra, chỉ có nước lạnh như băng.
Tắm xong, một số chuẩn bị tâm lý bị xăm. Họ chỉ biết có vậy về Auschwitz. SS xăm tay tù nhân nếu định sử dụng họ. Còn nếu định tống ai vào máy, thì chúng mặc kệ. Chuyến tàu đưa họ tới đây đồng thời cũng chở đến hơn hai ngàn tù nhân khác, không thuộc danh sách của Schindler và do vậy phải qua quá trình chọn lọc bình thường. Rebecca Bau, bị loại khỏi danh sách của Schindler, vượt qua bài kiểm tra và được xăm một con số, và bà mẹ dẻo dai của Josef Bau cũng đoạt một hình xăm trong trò xổ số lố bịch của Birkenau. Một cô gái Płaszów khác, tròn mười lăm, xem xét hình xăm vừa nhận được và hân hoan phát hiện ra có hai số năm, một số ba, hai số bảy - những con số được ghi lại trong Tashlag, hay Lịch Do Thái. Có số, anh có thể rời Birkenau đến một trong các trại lao động ở Auschwitz, nơi ít ra vẫn còn cơ hội.
Còn đoàn phụ nữ của Schindler, không có hình xăm, bị bắt mặc lại quần áo và đưa đến một căn lán không cửa sổ ở trại nữ. Giữa sàn là một cái lò bằng sắt lá, ốp gạch. Đó là tiện nghi duy nhất. Không có giường tầng. Hai đến ba người ngủ chung một ổ rơm mỏng. Nền đất ẩm ướt, chốc chốc nước dâng lên như thủy triều khiến nệm rơm và chăn rách ướt sũng. Đây là một ngôi nhà chết giữa lòng Birkenau. Họ nằm đó, thiếp đi, đóng băng và thấp thỏm trong một bể bùn rộng lớn.
Nó dập tắt hình dung của họ về một chốn an cư, một ngôi làng ở Moravia. Nơi này là một thành phố khổng lồ, đoản mệnh. Mỗi ngày hơn một phần tư triệu người Ba Lan, Digan và Do Thái duy trì sự sinh tồn ngắn ngủi tại đây. Còn hàng nghìn người nữa ở Auschwitz I, trại đầu tiên, nhỏ hơn, nơi ở của Commandant Rudolf Höss. Và ở đại công trường tên gọi Auschwitz III, hàng chục nghìn người đang lao động khi còn có thể. Những phụ nữ của Schindler không được biết chính xác số liệu thống kê của Birkenau hay của bản thân công quốc Auschwitz. Tuy nhiên họ có thể thấy, trên rặng bạch dương mé Tây cơ sở khổng lồ này, khói liên tục bốc lên từ bốn lò thiêu cùng vô số giàn thiêu. Họ tin rằng mình đang trôi dạt, và thủy triều sẽ mang họ xuống đó. Nhưng dù với tất cả năng lực sản sinh và tin ở tin đồn, đặc trưng của cuộc sống tù đày, họ cũng sẽ không đoán nổi, bao nhiêu người có thể bị phun hơi ngạt tại đây vào một ngày hệ thống vận hành suôn sẻ. Con số - theo Höss - là chín nghìn.
Bọn họ cũng hoàn toàn không biết mình đến Auschwitz vào thời điểm chiến sự và cuộc đàm phán bí mật của Himmler và Bá tước Thụy Điển Folke Bernadotte đang dẫn chiến tranh đi theo hướng mới. Bí mật về các trung tâm diệt chủng đã bị lộ, vì quân Nga đã khai quật trại Lublin và phát hiện lò thiêu có chứa xương người cùng hơn năm trăm thùng Zyklon B. Tin này được công bố khắp thế giới, và Himmler, kẻ muốn được nghiêm túc coi là người đương nhiên kế vị Führer sau chiến tranh, sẵn sàng cam kết với Đồng minh ngừng sát hại dân Do Thái bằng hơi ngạt. Dù vậy, y không ra chỉ thị về việc này cho đến tháng Mười - không có sử liệu chính xác về ngày. Một bản gửi tướng Pohl; bản kia gửi Kaltenbrunner, trùm An ninh Đế chế. Cả hai đều phớt lờ mệnh lệnh này, và Adolf Eichmann cũng vậy. Người Do Thái từ Płaszów, Theresienstadt và Ý tiếp tục bị giết bằng hơi ngạt đến giữa tháng Mười một. Người ta tin rằng lần tuyển chọn cuối cùng cho phòng hơi ngạt được thực thi vào ngày 30 tháng Mười.
Trong tám ngày đầu tiên tại Auschwitz, nhóm phụ nữ của Schindler đối diện nguy cơ rất lớn bị xông hơi ngạt. Kể cả sau đó, khi những nạn nhân sau cùng của phòng hơi ngạt tiếp tục suốt tháng Mười một xếp hàng tiến về cánh Tây của Birkenau, khi các lò và giàn thiêu nuốt dần những lô xác xếp hàng chờ đến lượt, họ cũng không thấy bất cứ thay đổi căn bản nào về bản chất của trại. Mọi nỗi hoang mang của họ dẫu sao cũng đều có căn cứ, bởi hầu hết những người sót lại sau khi việc xông hơi ngạt chấm dứt sẽ bị bắn - chung kết cục với tất cả công nhân lò thiêu - hoặc bị bỏ mặc cho chết bệnh.
Dù gì đi nữa, nhóm phụ nữ của Schindler cũng thường xuyên bị kiểm tra sức khỏe tập thể trong tháng Mười và Mười một. Từ ngày đầu một số đã bị lọc ra và chuyển sang lán dành riêng cho tù ốm nặng. Các bác sĩ ở Auschwitz - Josef Mengele, Fritz Klein, Konig và Thilo - không chỉ làm việc ở dây chuyền của Birkenau mà còn đảo xuống trại, xuất hiện khi điểm danh, xộc vào buồng tắm, mỉm cười hỏi, “Mẹ ơi, mẹ bao nhiêu tuổi rồi?” Clara Sternberg thấy mình bị chuyển sang lán cho phụ nữ lớn tuổi. Bà cụ sáu mươi Lola Krumholz cũng bị tách từ Schindlergruppe sang lán cho người già để chết mòn và chính quyền khỏi phải tốn kém gì. Bà Horowitz, tin rằng cô bé Niusia mong manh mười một tuổi không qua được kiểu sát hạch “trong nhà tắm”, giấu vội cô bé vào một nồi tắm hơi rỗng ruột. Một trong số các nữ nhân viên SS phụ trách họ – người xinh đẹp, tóc vàng - nhìn thấy nhưng lờ đi. Cô ả là loại dữ đòn, nóng tính, sau này sẽ vòi tiền bà Horowitz và kiếm được cây trâm mà Regina không hiểu sao còn giấu được tới lúc ấy. Regina giao nộp một cách bình thản. Một ả khác, đậm người và nền tính hơn, hay gạ tình chị em và chắc sẽ đòi một sự báo đáp riêng tư hơn.
Thỉnh thoảng một vài bác sĩ sẽ có mặt khi điểm danh. Mỗi lần thấy họ, chị em lại chà đất sét lên má cho có chút sinh khí. Một lần, Regina tìm được ít đá cho con gái, Niusia, đứng lên; và viên bác sĩ trẻ tóc bạch kim Mengele đến gần, nhẹ nhàng hỏi tuổi con gái bà và đấm bà vì nói dối. Những ai gục ngã khi kiểm tra sẽ bị lôi đi khi nửa tỉnh nửa mê và quẳng vào hàng rào điện ở rìa trại nữ. Chúng lôi Regina được nửa đường thì bà hồi tỉnh, cầu xin chúng đừng nướng sống bà, hãy cho bà về chỗ. Chúng thả bà ra, và khi bà len lén bò về hàng, cô con gái mảnh mai, nín thinh vẫn đứng đó, đông cứng trên đống đá.
Những cuộc kiểm tra kiểu ấy xảy ra bất kỳ lúc nào. Có đêm họ bị gọi ra đứng giữa bùn trong khi lán bị lục soát. Bà Dresner, từng được một cậu trai OD nay đã mất tích cứu mạng, bước ra với cô thiếu nữ cao lớn Danka. Họ đứng đó trong vũng lầy kỳ quái của Auschwitz, giống như thứ bùn lừng lẫy của Flanders, sẽ không đóng băng khi tất cả đã đóng băng - đường sá, mái nhà, khách bộ hành[2].
Cả Danka và bà Dresner đã rời Płaszów trong trang phục mùa hè, và cũng là tất cả những gì họ có. Danka chỉ có sơ mi, áo khoác mỏng và chiếc váy nâu sẫm. Do buổi tối bắt đầu tuyết sớm, bà Dresner xui cô bé xé một dải chăn để quấn dưới váy. Khi lục soát ngôi lán, SS phát hiện ra tấm chăn rách.
Viên sĩ quan đứng trước toán phụ nữ của Schindler cho gọi Alteste của lán - một phụ nữ Hà Lan đến tận hôm qua họ vẫn chưa biết mặt - và tuyên bố bà ta sẽ bị xử bắn cùng với bất cứ tù nhân nào bị phát hiện có mảnh chăn trong váy.
Bà Dresner thì thầm với Danka. “Cởi ra để mẹ tuồn lại vào trong lán” Ý tưởng này quả có khả thi. Lán cao ngang mặt sân và không có bậc cấp. Người đứng cuối hàng có thể chuồn vào qua cửa chính. Cũng như từng nghe lời mẹ trốn vào hốc tường ở phố Dabrowski, Cracow, lần này Danka lại vâng theo, tụt trong váy ra mảnh vải từ chiếc chăn nghèo nhất châu Âu. Thật ra, khi bà Dresner vào lán, viên sĩ quan SS đi xuống và hời hợt tách một phụ nữ trạc tuổi bà khỏi hàng - có lẽ là bà Sternberg - và cho giải bà đến một chỗ khác tồi tệ hơn trong trại, một nơi không tồn tại mộng tưởng về Moravia.
Có lẽ những người còn lại trong hàng không để bản thân ý thức được hành động nhặt cỏ giản đơn này nghĩa là gì. Bản chất của nó là một tuyên bố rằng không một nhóm nào dù dưới danh nghĩa “tù nhân công nghiệp” được an toàn tại Auschwitz. Không tiếng gọi “Schindlerfrauen!”[3] nào miễn trừ cho họ được mãi. Không ít nhóm “tù nhân công nghiệp” khác đã tiêu ma ở Auschwitz. Năm ngoái, Cục W của tướng Pohl gửi một số tàu chở lao động Do Thái lành nghề từ Berlin đến đây. I. G. Farben đang cần nhân lực và Cục W cho phép họ lấy công nhân từ các chuyến tàu ấy. Cục W chỉ đạo cho Commandant Höss đổ tù nhân xuống nhà máy của I. G. Farben, chứ không phải gần lò thiêu ở Auschwitz-Birkenau. Trong 1.750 tù nhân toàn nam của chuyến đầu tiên, 1.000 người bị xông hơi ngạt ngay lập tức. Còn trong 4.000 người trên bốn chuyến tiếp đó, 2.500 bị đưa ngay tới “nhà tắm”. Nếu lãnh đạo Auschwitz không buồn nương tay với I. G. Farben lẫn Cục W, thì chẳng có lý gì chúng lại nâng niu đám lao động nữ của một anh làm nổi người Đức.
Trú trong lán như nhóm phụ nữ của Schindler cũng chẳng khác gì sống ngoài trời. Cửa sổ không có kính và chỉ càng làm những luồng khí lạnh từ Nga phả sang thêm phần rét buốt. Phần lớn bị kiết lỵ. Tê liệt vì co thắt, họ cố lết ra thùng vệ sinh bằng sắt ngoài bãi bùn. Một tù nhân nhận trông thùng phân để được thêm bát xúp. Một tối, Mila Pfefferberg lảo đảo đi ra khi bị con kiết lỵ giày vò, và người trực - không phải người xấu, một phụ nữ Mila biết từ bé - nhất quyết rằng cô chưa được đi, mà phải đợi một người nữa, rồi cùng mang thùng đi đổ. Mila lý luận, nhưng không lay chuyển nổi bà ta. Bị sao đói chiếu mệnh, việc canh thùng đã thành một dạng nghề, có luật lệ đàng hoàng. Người phụ nữ ấy vin vào chiếc thùng để tin rằng cuộc sống vẫn còn trật tự, vệ sinh, tỉnh táo.
Cô gái tiếp theo xuất hiện, hổn hển, gập người, kiệt quệ. Nhưng cô vẫn còn trẻ và, vào thời bình ở Łódź, cũng biết người canh thùng là một thiếu phụ khả kính. Vậy là các cô vâng lời, khiêng cái thùng đi ba trăm mét trong bùn. Cô vừa khiêng vừa hỏi Mila, “Giờ này Schindler ở đâu nhỉ?”
Trong lán không phải ai cũng hỏi câu này, hoặc hỏi một cách quyết liệt và mỉa mai như thế. Một cô gái Emalia tên Lusia, một góa phụ hai mươi hai tuổi, nhắc đi nhắc lại, “Rồi mọi người xem, tất cả sẽ ổn thôi. Rồi chúng mình sẽ đến một nơi ấm áp và có xúp của Schindler trong bụng.” Cô cũng không biết vì sao mình cứ nhắc đi nhắc lại dự báo ấy. Ở Emalia cô đâu phải mẫu người hay dự báo. Cô làm việc, ăn xúp, và ngủ. Cô chưa bao giờ tiên đoán những chuyện lớn lao. Đối với cô mỗi ngày qua chỉ cần sống sót là đủ. Giờ cô đang ốm, và chẳng có lý do gì mà tiên tri. Cái lạnh và đói vắt kiệt cô, những ám ảnh ghê gớm từ cơn đói hành hạ cô. Vậy mà cô đã làm chính mình ngạc nhiên khi nhắc lại những lời hứa của Oskar.
Về sau, khi họ chuyển đến lán khác gần lò thiêu hơn và không biết sắp tới mình sẽ được đi tắm hay vào phòng hơi ngạt, Lusia tiếp tục truyền bá thông điệp lạc quan ấy. Dù đợt thủy triều của trại tập trung đã đánh dạt họ đến chốn tận cùng thế giới, đến địa cực, đến hố thẳm này, tuyệt vọng vẫn không phải là tác phong của những Schindlerfrauen. Người ta vẫn sẽ thấy họ rủ rỉ về công thức nấu ăn hoặc mơ màng về căn bếp thời tiền chiến.
*
Khi nhóm tù nam đến nơi, Brinnlitz mới chỉ trơ vỏ. Chưa có giường, rơm được rải trên sàn. Nhưng trong nhà vẫn ấm, nhờ hơi ấm từ các nồi hơi. Ngày đầu tiên chưa có đầu bếp. Củ cải xếp thành từng bao trên sàn của nơi sau này sẽ là nhà bếp, và họ ngấu nghiến ăn sống luôn. Về sau họ sẽ nấu súp, nướng bánh mì, và kỹ sư Finder bắt đầu phân bổ công việc. Nhưng hồi đầu, trừ phi có SS giám thị, mọi việc đều chậm chạp. Thật bí hiểm khi một nhóm tù nhân ý thức được Herr Direktor không còn là đối tác phục vụ bất kỳ nỗ lực chiến tranh nào nữa. Nhịp độ lao động của Brinnlitz trở nên rất tiết chế. Do sản xuất không còn là mối quan tâm của Oskar, làm việc chậm chạp trở thành cách báo thù và tuyên ngôn của các tù nhân.
Cảm giác được kiềm chế sức lao động thật ngây ngất. Khắp châu Âu nô lệ phải vắt kiệt khẩu phần 600 calo một ngày, hy vọng gây ấn tượng với đốc công và trì hoãn con đường đến trại tử thần. Nhưng tại đây, Brinnlitz, lại tồn tại thứ tự do say lòng người là được xúc đất cầm chừng mà vẫn sống sót.
Những ngày đầu việc hình thành chính sách trong vô thức này còn chưa rõ nét. Có quá nhiều người vẫn thấp thỏm ngóng vợ con. Dolek Horowitz có vợ lẫn con gái ở Auschwitz. Vợ của hai anh em Rosner cũng vậy. Pfefferberg biết rõ cú sốc một nơi đồ sộ và đáng sợ như Auschwitz sẽ gây ra cho Mila. Jacob Sternberg và con trai lo lắng về Clara Sternberg. Pfefferberg nhớ, cánh đàn ông vây quanh Schindler ở sân nhà máy và lần nữa hỏi ông nhóm tù nữ đang ở đâu.
“Tôi sẽ cứu họ ra” Schindler gầm gừ. Ông không giải thích cụ thể. Ông không công khai phỏng đoán có lẽ SS ở Auschwitz cần được hối lộ. Ông không nói mình đã gửi danh sách tù nữ cho đại tá Erich Lange, hay ông và Lange đều dự định đưa họ đến Brinnlitz theo đúng danh sách. Không gì cả. Chỉ vỏn vẹn “Tôi sẽ cứu họ ra.”
*
Đơn vị SS đồn trú tại Brinnlitz đem đến cho Oskar vài tia hy vọng. Họ là quân dự bị trung niên, được điều động thay lính SS trẻ ra tiền tuyến. Những kẻ bệnh hoạn ở đây không nhiều như Płaszów, và Oskar luôn vỗ yên họ bằng các đặc sản từ nhà bếp - thực phẩm thông thường, nhưng dồi dào. Một lần thăm trại lính, ông tua lại diễn văn quen thuộc, về những kỹ năng đặc biệt của tù nhân của ông, về tầm quan trọng của hoạt động sản xuất ông đang thực hiện. Đạn chống tăng, và vỏ một loại tên lửa còn trong diện bí mật. Ông yêu cầu trại lính không xâm phạm khu vực nhà máy, ảnh hưởng đến tinh thần công nhân.
Ông đọc được sự hưởng ứng trong mắt họ. Thị trấn yên bình này hợp ý họ. Họ có thể mường tượng ra mình sẽ sống sót qua thời tao loạn ấy. Họ không muốn điên cuồng sục sạo khắp nhà máy như một Goeth hay một Hujar. Họ không muốn bị Herr Direktor phàn nàn.
Tuy nhiên, chỉ huy của họ còn chưa đến. Y đang trên đường đến từ địa bàn cũ, trại lao động Budzyn, nơi cho đến trước khi quân Nga áp sát vẫn đang sản xuất các bộ phận cho máy bay ném bom Heinkel. Oskar biết y sẽ trẻ hơn, sắc sảo hơn, soi mói hơn. Y chắc sẽ không sẵn sàng chấp nhận việc không được vào trong trại.
Giữa cảnh đổ xi măng láng sàn, khoét mái nhà cho vừa những cỗ máy Hilo đồ sộ, mơn trớn tụi hạ sĩ quan, trong tâm trạng bồn chồn khi lần nữa phải an phận cuộc sống gia đình với Emilie, Oskar bị bắt lần thứ ba.
Gestapo xuất hiện vào giờ cơm trưa. Oskar không có ở văn phòng, lái xe đi Brno lo công chuyện từ sáng. Một chiếc xe tải vừa từ Cracow đến, chất đầy xa xỉ phẩm của Herr Direktor - thuốc lá, từng thùng vodka, cognac, sâm banh. Về sau một số khẳng định đó là của Goeth, và Oskar nhận lời chuyển chúng đến Moravia để đổi lấy việc gã ủng hộ ông dọn về Brinnlitz. Do Goeth đã vào tù được một tháng và không còn quyền hành nữa, số của cải trên xe có thể xem như của Oskar.
Nhóm phụ trách dỡ hàng nghĩ vậy và đâm lo khi thấy Gestapo xuất hiện giữa sân. Với danh nghĩa thợ máy, họ được phép lái xe xuống con suối dưới chân đồi, tại đây họ dìm từng thùng rượu xuống nước. Hai trăm nghìn điếu thuốc lá trên xe được giấu theo cách dễ thu hồi hơn: trong vỏ chiếc máy biến thế lớn ở trạm điện.
Việc trên xe nhiều thuốc lá và rượu như vậy là điều đáng lưu ý: nó cho thấy Oskar, vốn có máu con buôn, đã định kiếm ăn từ chợ đen.
Họ đưa xe về ga ra đúng lúc còi báo hiệu ăn trưa. Mọi khi Herr Direktor vẫn ngồi ăn cùng tù nhân, và đám thợ máy hy vọng hôm nay cũng thế, họ sẽ có thể báo cáo với ông điều vừa xảy ra với chuyến xe đắt giá này.
Không lâu sau ông quả đã từ Brno trở về, nhưng bị một nhân viên Gestapo giơ tay chặn lại ở cổng trong. Y ra lệnh cho Oskar xuống xe ngay lập tức.
“Đây là nhà máy của tôi,” một công nhân thấy Oskar gầm gừ đáp trả. “Nếu các anh muốn nói chuyện, xin mời lên xe. Hoặc theo tôi lên văn phòng.”
Ông lái xe vào sân, hai gã Gestapo rảo bước ốp hai bên. Lên văn phòng, chúng truy vấn quan hệ của ông với Goeth và những đồ phi pháp của gã. Tôi có giữ ở đây mấy chiếc va li của Herr Goeth, ông đáp. Ông ấy nhờ tôi giữ hộ đến khi được thả.
Hai gã Gestapo đòi xem, và Oskar đưa chúng lên nhà. Ông trịnh trọng và lạnh nhạt giới thiệu Frau Schindler với đại diện của Cục 5. Ông mang va li ra cho chúng xem. Bên trong toàn quần áo dân sự của Goeth, và quân phục từ thời Amon còn là một hạ sĩ quan SS thanh mảnh. Sau khi khám xét mà không thu được gì, chúng bèn bắt ông. Emilie lập tức xù lông. Các ông không có quyền bắt chồng tôi, bà nói, trừ phi có lý do rõ ràng. Giới chức Berlin sẽ không vui khi biết việc này đâu, bà nói.
Oskar khuyên bà yên lặng. Nhưng mình phải gọi cho Klonowska bạn tôi, ông dặn, và hủy giúp tôi các cuộc hẹn.
Emilie hiểu ý ông. Klonowska sẽ lại xuất chiêu bằng điện thoại lần nữa, gọi Martin Plathe ở Breslau, gọi thuộc cấp của tướng Schindler, các loại tai to mặt lớn. Một gã còng tay Oskar lại. Chúng đưa ông lên xe, chở ông ra ga Zwittau, rồi giải ông bằng tàu về Cracow.
Có cảm giác vụ bắt giữ này làm ông run sợ hơn hai lần trước. Không có viên đại tá SS thất tình nào làm bạn nhậu chung xà lim với ông cả. Tuy nhiên, Oskar về sau có ghi lại vài chi tiết. Khi người của Cục 5 áp giải ông trên hành lang thiết kế kiểu tân cổ điển của ga trung tâm Cracow, một người tên Huth lại gần họ. Anh ta từng là kỹ sư xây dựng của Płaszów. Bình thường anh ta rất khúm núm với Amon, nhưng lại có tiếng là nhân hậu một cách thầm kín. Nhiều khi chỉ là tình cờ, nhưng cho thấy Huth có thể đã liên hệ với Klonowska. Huth nhất định đòi bắt bàn tay bị còng của Oskar. Một tên ở Cục 5 phản đối. “Chú mày định đi khắp nơi bắt tay tù nhân à,” gã hoạnh họe Huth. Viên kỹ sư lập tức làm một tràng ca ngợi Oskar. Đây là Herr Direktor Schindler, người rất được trọng vọng ở Cracow, một nhà công nghiệp tầm cỡ. “Tôi không bao giờ hình dung ra ông ấy là tù nhân,” Huth nói.
Dù cuộc gặp này có ý nghĩa gì, Oskar vẫn bị đưa lên xe và chở qua thành phố thân quen đến phố Pomorska lần nữa. Chúng đưa ông vào một phòng cùng loại với lần trước ông bị bắt, có giường, có ghế và bồn rửa mặt, nhưng cửa sổ có song sắt. Ông thấy bất an, dù bề ngoài ông có vẻ bình thản của một chú gấu. Năm 1942, khi bọn chúng bắt ông sau sinh nhật thứ ba mươi tư, những lời đồn về chuyện Pomorska có phòng tra tấn tuy đáng sợ nhưng mơ hồ. Sự mơ hồ ấy giờ không còn nữa. Ông biết Cục 5 sẵn sàng tra tấn ông nếu chúng rất muốn bắt thóp Amon.
Tối hôm đó Herr Huth đến thăm, mang theo bữa tối và một chai vang. Huth đã nói chuyện với Klonowska. Oskar sau này chưa từng nói rõ có phải Klonowska đã bố trí cuộc gặp gỡ tình cờ ngoài ga không. Dù gì đi nữa, Huth cho biết, Klonowska đang vận động các bạn bè cũ của Oskar.
Hôm sau, ông bị một tiểu ban mười hai điều tra viên SS hỏi cung, trong đó có một thẩm phán của Tòa SS. Oskar phủ nhận việc hối lộ để viên Commandant, theo bản cung của Amon, “nương tay cho bọn Do Thái”. Có thể tôi đã cho ông ta vay tiền, có thời điểm Oskar thừa nhận. Ông cho ông ta vay làm gì? chúng hỏi. Tôi kinh doanh một ngành quan trọng phục vụ chiến tranh, Oskar đáp, chơi lại điệu cũ. Tôi có lực lượng lao động lành nghề. Nếu có xáo trộn, cả tôi, Tổng cục Quân giới, lẫn công cuộc chiến tranh, sẽ tổn thất. Nếu phát hiện trong số tù nhân Płaszów, có một thợ cơ khí giá trị, tất nhiên tôi sẽ hỏi xin Herr Commandant. Tôi muốn ngay, và không muốn thủ tục phiền hà. Ưu tiên của tôi là sản xuất, là giá trị của nó với cá nhân tôi và với Tổng cục Quân giới. Xét sự ủng hộ của Herr Commandant trong lĩnh vực này, có thể tôi đã cho ông ta vay tiền.
Lời bào chữa phần nào đã phản bội chủ tiệc cũ của ông. Nhưng Oskar chẳng ngần ngại gì. Mắt ông sáng long lanh đầy thành khẩn, giọng ông nhỏ nhẹ, lời ông đầy ẩn ý. Oskar không cần nhiều lời để tiết lộ cho các điều tra viên biết Amon đã bóp nặn ông. Nhưng chúng không thỏa mãn. Ông bị trả về buồng giam.
Việc thẩm vấn tiếp diễn sang ngày thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư. Chúng không tra tấn ông, nhưng rất sắt đá. Cuối cùng, ông phải chối bỏ mọi quan hệ bạn bè với Amon. Chuyện này chẳng khó khăn gì: ông vốn đã ghét gã tận xương tủy. “Tôi không phải loại xăng pha nhớt,” ông gầm gừ với đám người của Cục 5, viện tới những tin đồn nghe được về Goeth và mấy tay cần vụ trẻ.
Bản thân Amon không bao giờ hình dung nổi Oskar lại căm ghét gã và sẵn sàng hỗ trợ Cục 5 điều tra gã. Amon luôn bị hoang tưởng về tình bạn. Khi đa cảm, gã coi cả Mietek Pemper lẫn Helen Hirsch là những người hầu yêu chủ. Cơ quan điều tra có lẽ không cho gã biết Oskar đang ở Pomorska, và chỉ im lặng nghe Amon thúc giục, “Các ông cứ hỏi Schindler bạn tôi. Y sẽ bảo chứng cho tôi.”
Điều giúp ích cho Oskar nhất khi bị điều tra là trong thực tế ông rất ít quan hệ làm ăn với Amon. Tuy đôi khi ông có tư vấn và giới thiệu đối tác cho Amon, ông không bao giờ làm ăn chung, cũng không tự hào một złoty tiền ăn chặn khẩu phần của tù nhân, tiền bán nhẫn từ xưởng kim hoàn, bán quần áo từ xưởng may và đồ nội thất từ xưởng bọc nệm ghế. Phần khác là bởi những lời nói dối của ông có sức dụ hoặc cả cảnh sát, còn khi nói thật thì ông tuyệt đối thuyết phục. Ông chẳng hề tỏ ra hàm ơn vì có người tin mình. Ví dụ khi người của Cục 5 tạm chấp nhận việc 80.000 RM là một khoản “vay” do bị bóp nặn, Oskar bèn hỏi vậy rốt cuộc số tiền có được trả lại cho ông, Herr Direktor Schindler, nhà công nghiệp tuyệt đối trong sạch, chăng?
Nhân tố thứ ba thuận lợi cho Oskar là kết quả xác minh lý lịch. Đại tá Erich Lange, khi được Cục 5 gọi điện, nhấn mạnh tầm quan trọng của Schindler với công cuộc chiến tranh. Sussmuth, từ Troppau, cho biết nhà máy của Oskar tham gia việc sản xuất “vũ khí bí mật”. Điều này, về sau ta sẽ thấy, không phải là giả. Nhưng với cách nói thẳng thừng ấy, nó gây hiểu nhầm và có sức nặng bóp méo hiện thực. Vì chính Führer đã hứa hẹn về “vũ khí bí mật”. Khái niệm ấy có sức thuyết phục và nay đã mở rộng phạm vi bảo vệ của nó đến Oskar. Trước một cụm từ như “vũ khí bí mật” thì mọi biểu ngữ phản đối của cư dân Zwittau chẳng nghĩa lý gì.
Nhưng ngục tù xem ra luôn không mấy tốt đẹp, kể cả với Oskar. Ngày thứ tư, một điều tra viên xuất hiện song không phải để thẩm vấn mà để nhổ bọt vào ông. Vệt nước bọt loang trên ve áo Oskar. Y chửi bới Oskar, gọi ông là đồ mê Do Thái, phang gái Do Thái. Sự kiện ấy hoàn toàn xa rời tính pháp lý lạ lùng của các lần thẩm vấn trước. Nhưng Oskar không dám chắc đó là ngẫu nhiên, và không phản ánh động cơ thực sự sau việc giam giữ ông.
Được một tuần, Oskar nhắn tin qua Huth và Klonowska cho Oberführer Scherner. Áp lực của Cục 5 rất lớn và ông sợ mình không bảo vệ tay cựu trùm cảnh sát được lâu hơn nữa. Scherner rời công việc chống bạo loạn (sẽ sớm lấy mạng y) và tới xà lim gặp Oskar chỉ trong một ngày. Họ làm thế này thật bậy quá, Scherner nói. Còn Amon thì sao? Oskar hỏi, tưởng rằng Scherner sẽ bảo vụ đấy cũng bậy quá. Hắn bị như thế là đáng, Scherner đáp. Có vẻ tất cả đều ruồng bỏ Amon. Đừng lo, Scherner nói trước khi chia tay, chúng tôi sẽ cứu cậu ra.
Sáng ngày thứ tám, chúng thả Oskar ra. Ông đi ngay không chậm trễ, và không đòi phương tiện như lần trước. Được phóng thích ra vỉa hè lạnh giá là tốt rồi.
Ông bắt xe điện đi dọc thành phố rồi đi bộ về nhà máy cũ ở Zablocie. Vài người Ba Lan trông coi nhà máy vẫn ở đó, và từ văn phòng trên gác ông gọi về Brinnlitz báo cho Emilie biết mình đã ra tù.
Moshe Bejski, thợ vẽ tại Brinnliz, nhớ lại không khí hoang mang khi Oskar vắng mặt - những đồn đoán, những câu hỏi về bản chất sự việc. Nhưng Stern, Maurice Finder, Adam Garde và nhiều người khác đã xin ý kiến Emilie về lương thực, về bố trí công việc, về giường tầng. Họ là những người đầu tiên biết được Emilie không chỉ là một khách qua đường. Bà không hạnh phúc, và bất hạnh của bà càng sâu sắc khi Cục 5 bắt giữ Oskar. Số phận thật ác nghiệt khi để SS làm gián đoạn cuộc đoàn viên của họ khi nó chưa thực sự bắt đầu. Nhưng Stern và mọi người thấy rõ bà không có mặt ở đây, ngụ trong căn hộ nhỏ dưới tầng trệt chỉ vì đạo tòng phu. Ở bà có sự tận tụy về tư tưởng. Trên tường căn hộ treo bức tranh Jesus phanh ngực với trái tim rực lửa. Stern gặp hình ảnh ấy ở nhiều gia đình Ba Lan theo Công giáo. Nhưng hai căn hộ Cracow của Oskar đều không có kiểu thần họa ấy. Bức họa Chúa phơi tim trong căn bếp Ba Lan không phải bao giờ cũng đưa lại cảm giác bình yên. Tuy nhiên, tại căn hộ này, nó hiện diện như lời hứa của một cá nhân. Của Emilie.
Đầu tháng Mười một, chồng bà quay về bằng tàu hỏa. Râu ông chưa cạo, toàn thân khét mùi tù tội. Ông kinh ngạc khi biết nhóm phụ nữ vẫn còn ở Auschwitz-Birkenau.
*
Ở hành tinh Auschwitz, nơi tốp phụ nữ của Schindler đi lại trong rón rén và khiếp sợ, như mọi khách du hành không gian, Rudolf Höss ngự trị trên ngai thần tạo lập, xây dựng và phán xét. Độc giả cuốn Lựa chọn của Sophie của William Styron biết tới y trong vai ông chủ của Sophie - một kiểu chủ nhân rất khác Amon với Helen Hirsch; một nhân vật khách quan, lịch thiệp, tỉnh táo, nhưng vẫn là vị linh mục kiên tâm của giáo phận ăn thịt người này. Dù vào thập niên 1920, y từng sát hại một thầy giáo vùng Ruhr can tội chỉ điểm một thành viên Quốc xã và phải đi tù, y chưa từng tự tay hạ sát tù nhân Auschwitz nào. Y coi mình là một kỹ thuật gia. Là kẻ ủng hộ Zyklon B, những viên hydro xyanua giải phóng khí độc khi tiếp xúc với không khí, y bước vào cuộc đối đầu cá nhân và khoa học lâu dài với Kriminalkommissar[4] Christian Wirth, kẻ nắm quyền phán xét tại trại Bełżec và đứng đầu trường phái cacbon monoxit. Nhân viên hóa chất SS, Kurt Gerstein, từng chứng kiến một ngày tồi tệ ở Bełżec, khi phương pháp của Kommissar Wirth mất tới ba tiếng để kết liễu một toán đàn ông Do Thái bị nhồi vào buồng hơi ngạt. Việc Höss chọn ủng hộ công nghệ hiệu quả hơn phần nào thể hiện ở sự phát triển không ngừng của Auschwitz và suy tàn của Bełżec.
Đến năm 1943, khi Rudolf Höss rời Auschwitz để tạm giữ chức Cục phó Cục D của Oranienburg, nơi đây không còn là một trại diệt chủng thông thường. Nó thậm chí còn hơn cả một kỳ quan về khâu tổ chức. Nó là hiện tượng. Vũ trụ lương tri không hẳn đã mục nát tại đây. Nó đã bị nghịch đảo, như một hố đen, dưới sức ép của mọi tà ác trên đời - nơi mọi bộ tộc và lịch sử bị hút vào và tan biến, và ngôn ngữ bị lộn trái. Các buồng dưới lòng đất được gọi là “phòng sát trùng”, buồng trên mặt đất là “nhà tắm”, còn Oberscharführer Moll, kẻ có nhiệm vụ ra lệnh nhét những tinh thể màu xanh vào mái “phòng” và tường “nhà tắm”, vẫn thường quát các phụ tá, “Nào, cho chúng cái gì để nhấm nháp đi.”
Höss trở về Auschwitz vào tháng Năm năm 1944 và quản lý toàn bộ trại vào thời điểm các phụ nữ của Schindler trú trong một lần ở Birkenau, cách chỗ Oberscharführer Moll bốc đồng chẳng bao xa. Những truyền kỳ về Schindler khẳng định Oskar phải đánh vật với chính Höss để đòi lại ba trăm phụ nữ. Chắc chắn Oskar đã gọi điện, và có quan hệ với Höss. Nhưng ông còn phải giao dịch với Sturmbannführer Fritz Hartjenstein, Commandant ở Auschwitz II, tức là Auschwitz-Birkenau, và với Untersturmführer Franz Hössler, viên sĩ quan trẻ phụ trách khu tù nữ của thành phố đồ sộ ấy.
Điều chắc chắn là Oskar cử một cô gái trẻ đem một va li đầy rượu, thịt nguội, và kim cương tới giao dịch với các quan chức này. Một số nói sau đó Oskar đích thân theo sau cô gái, cùng với một cộng sự là sĩ quan máu mặt ở SA. (Sturmabteilung, Quân đoàn Bão táp), Standartenführer Peltze, người sau này Oskar tiết lộ với bạn bè là điệp viên Anh. Số khác khẳng định Oskar tránh không xuất hiện ở Auschwitz vì lý do chiến thuật mà đến thẳng Oranienburg lẫn Tổng cục Quân giới ở Berlin hòng gây áp lực lên Höss và đồng bọn qua kênh ấy.
Còn đây là câu chuyện mà Stern sẽ kể lại nhiều năm sau trong một bài phát biểu ở Tel Aviv. Sau khi Oskar ra tù, Stern tìm đến và - “dưới áp lực của một số đồng chí” - cầu xin Oskar giải quyết dứt điểm nhóm phụ nữ đang mắc kẹt tại Auschwitz. Khi họ đang bàn bạc thì một thư ký của Oskar bước vào nhưng Stern không nói là ai. Schindler ngắm nghía cô gái, đoạn chỉ chiếc nhẫn kim cương lớn đeo trên tay. Ông hỏi cô có thích viên đá quý khá hoành tráng ấy không. Theo Stern, cô gái rất phấn khích. Stern trích lời Oskar, “Cầm theo danh sách tù nữ; chọn rượu và đồ ăn ngon nhất dưới bếp của tôi xếp đầy vào va li. Rồi lên đường đi Auschwitz. Cô biết là viên Commandant rất mê phụ nữ đẹp. Nếu thành công, viên kim cương sẽ là của cô. Và còn nữa.”
Tình cảnh ấy, diễn văn ấy chẳng kém gì sự tích trong kinh Cựu ước, khi một cô gái được hiến cho quân xâm lược vì lợi ích của bộ tộc. Đó cũng là tình cảnh Trung Âu điển hình, với những viên kim cương to, lấp lánh và đề xuất giao dịch xác thịt.
Theo Stern, cô gái đi thật. Sau hai ngày không thấy cô về, Schindler đích thân xuất mã - cùng nhân vật bí hiểm Peltze.
Theo truyền kỳ về Schindler, Oskar quả thật đã cử một tình nhân tới ngủ với viên Commandant - có thể là Höss, Hartjenstein, hoặc Hössler - rồi lưu kim cương lại trên gối. Trong khi một số, như Stern, khẳng định đó là “một trong các thư ký” của ông, người khác lại nêu cái tên Aufseher, một cô gái SS tóc vàng xinh đẹp, bạn gái Oskar và thuộc biên chế trại lính Brinnlitz. Nhưng có vẻ cô vẫn ở Auschwitz, cùng các Schindlerfrauen.
Theo Emilie Schindler, người nữ sứ giả ấy là một cô gái hăm hai hăm ba tuổi. Cô sinh trưởng ở Zwittau, cha cô với gia đình Schindler là chỗ bạn bè cũ. Cô vừa từ vùng Nga chiếm đóng quay về, tại đây cô làm thư ký trong chính quyền Đức. Cô là bạn thân với Emilie, và đã xung phong nhận nhiệm vụ này. Khó có khả năng Oskar yêu cầu một người bạn của gia đình đi hiến thân. Dẫu ông rất cường đạo trong chuyện này, nhưng khía cạnh này của câu chuyện chắc là truyền thuyết. Không rõ mức độ cuộc giao dịch của cô gái với sĩ quan Auschwitz đến đâu. Chỉ biết cô đã đến vương quốc đáng sợ ấy và mặc cả một cách can trường.
Sau này, Oskar cho biết, khi đích thân làm việc với các lãnh chúa của Đại Nghĩa địa Auschwitz, ông lại nhận được lời mời chào quen thuộc. Tốp tù nữ đã đến đây mấy tuần rồi, và không còn mấy giá trị lao động nữa. Sao ông không vứt quách ba trăm đứa ấy đi? Bọn tôi sẽ cắt cho ông ba trăm khác, từ đàn người vô tận này. Hồi 1942 một hạ sĩ quan SS ở ga Prokocim cũng đã gợi ý như vậy với Oskar. Cứ khư khư lấy mấy cái tên làm gì, Herr Direktor.
Và, cũng như ở Prokocim, Oskar lại dùng bài cũ. Đây là công nhân đạn dược lành nghề, không thể thay thế. Đích thân tôi đã huấn luyện họ nhiều năm. Kỹ năng của họ không thể thay thế trong một sớm một chiều. Tôi biết tên nào, là tôi cứ đòi tên ấy thôi.
Khoan đã, kẻ chào mời nói. Tôi thấy trong danh sách một con bé chín tuổi, con gái của Phila Rath. Và một con bé mười một, con gái của Regina Horowitz. Lẽ nào ông định bảo tôi rằng hai đứa bé lên chín và lên mười một là công nhân đạn dược lành nghề?
Chúng làm nhiệm vụ đánh bóng vỏ đạn 45 mm, Oskar nói. Chúng được chọn vì có ngón tay dài, luồn sâu vào lòng vỏ đạn, điều người lớn không làm được.
Những cuộc trao đổi kiểu này, để yểm trợ cho cô gái bạn của gia đình, được Oskar thực hiện trực tiếp hoặc qua điện thoại. Oskar sẽ truyền đạt lại kết quả đàm phán với những người thân cận trong nhóm tù nam, và từ họ thông tin sẽ được chuyển tới công nhân dưới xưởng. Tuyên bố của Oskar rằng ông cần trẻ em để đánh bóng lòng vỏ đạn chống tăng là hoàn toàn bốc phét. Nhưng đây không phải lần đầu ông sử dụng nó. Một đêm năm 1943, khi được gọi ra Appellplatz ở Płaszów, cô bé mồ côi Anita Lampel thấy Oskar đang tranh luận với một phụ nữ trung niên, Alteste ở trại tù nữ. Những gì bà ta nói cũng gần giống HössHössler ở Auschwitz về sau sẽ nói. “Ông không thể nói rằng ông cần một con bé mười bốn tại Emalia. Ông không thể nói rằng Commandant Goeth cho phép ông tuyển mộ một đứa bé mười bốn về Emalia.” (Tất nhiên, người Alteste này sợ rằng nếu danh sách tù chuyển tới Emalia đã bị sửa đổi, bà ta sẽ lãnh đủ. Đêm đó, Anita Lampel kinh ngạc lắng nghe Oskar, người chưa thấy bàn tay cô lần nào, khẳng định ông chọn cô vì giá trị sản xuất của những ngón tay thon dài ấy, và Herr Commandant đã chấp thuận.
Bây giờ Anita Lampel đang ở Auschwitz, nhưng cô đã lớn và không cần đến lá bùa ngón tay dài nữa. Bởi vậy nó được chuyển lại cho con gái bà Horowitz và bà Rath.
Đầu mối của Schindler đã đúng khi nói rằng nhóm phụ nữ đã mất gần hết giá trị lao động. Khi bị kiểm tra, những cô gái như Mila Pfefferberg, như Helen Hirsch và em gái không giấu được dáng lưng còng và vẻ già nua mà những cơn co thắt do kiết lỵ gây ra. Bà Dresner không thiết ăn nữa, kể cả món xúp phế phẩm. Danka không sao đẩy được hơi ấm nhạt nhẽo của nó xuống cổ họng bà. Như vậy nghĩa là bà sẽ sớm trở thành Mussulman. Đó là tiếng lóng ở trại, xuất phát từ ký ức của mọi người về những thước phim quay nạn đói ở các nước đạo Hồi, chỉ người đã vượt qua ranh giới phân định giữa người sống đói khát và người-đang-chờ-chết.
Clara Sternberg, ngoài bốn mươi, bị tách khỏi nhóm Schindler chuyển tới một nơi có thể gọi là lán Mussulman. Tại đây, sáng sáng, những phụ nữ chờ chết xếp hàng trước cửa để SS thanh lọc. Đôi khi chính Mengele ghé sát vào họ. Trong khoảng năm trăm người thuộc nhóm mới của Clara Sternberg, một trăm có thể bị lọc ra vào một sáng bất kỳ. Hôm nào ít thì năm mươi. Họ lấy đất sét Auschwitz để đánh má hồng; nếu cố được thì đứng cho thẳng lưng. Đứng yên mà nuốt nghẹn chứ đừng ho.
Sau một lần kiểm tra như vậy, Clara nhận thấy không còn ai để dự bị cho hôm sau nữa. Bà có chồng và con trai bé Brinnlitz, nhưng giờ đây họ còn xa vời hơn kênh rạch trên Sao Hỏa. Bà không hình dung nổi Brinnlitz hay chồng con ở đó nữa. Bà dật dờ đi trong trại nữ để tìm hàng rào điện. Khi mới đến đi đâu bà cũng gặp. Giờ khi cần lại chẳng thấy đâu. Mỗi ngã rẽ dẫn bà tới một nẻo đường lầy lội khác, làm bà chán nản với cảnh tượng những căn lán tồi tàn như nhau. Gặp một người quen ở Płaszów, một phụ nữ Cracow như mình, bà lao tới. “Hàng rào điện ở đâu?” Clara hỏi. Trong cơn cùng quẫn, câu hỏi ấy với bà hoàn toàn hợp lẽ, và Clara không nghi ngờ gì việc người bạn cũ, nếu còn chút tình chị em, sẽ chỉ dẫn cho mình. Câu trả lời của người phụ nữ ấy điên khùng không kém, nhưng lại hàm chứa một góc nhìn tĩnh tại, cân bằng, một tinh thần tỉnh táo đầy méo mó.
“Đừng tự sát bằng hằng hàng rào, Clara,” bà ta khuyên. “Làm vậy chị sẽ không bao giờ biết điều gì xảy ra với mình đâu.”
Đó luôn là câu trả lời hiệu nghiệm nhất cho người tự tử. Chị sẽ không bao giờ biết cốt truyện kết thúc ra sao. Clara chẳng hào hứng gì cho lắm với cốt truyện. Nhưng vì lẽ gì đó câu trả lời đã có tác dụng. Bà quay đi. Khi trở về lán, lòng bà còn rối bời hơn cả lúc đi tìm hàng rào. Nhưng với câu trả lời ấy, người bạn Cracow, bằng cách nào đó, đã loại tự tử khỏi danh sách lựa chọn của bà.
Một điều tồi tệ đã xảy ra tại Brinnlitz. Oskar, lữ khách xứ Moravia, đi vắng. Ông đi buôn đồ bếp, kim cương, rượu, xì gà khắp tỉnh. Một số thương vụ có ý nghĩa quan trọng. Biberstein đã nhắc đến tủ thuốc và thiết bị y tế trang bị cho phòng khám ở Brinnlitz. Những thứ này bình thường làm gì có. Có lẽ Oskar đã phải mua thuốc từ kho của Wehrmacht, hoặc từ hiệu thuốc của một trong những bệnh viện lớn tại Brno.
Dù vì lý do gì thì ông cũng không có nhà khi thanh tra từ Gröss-Rosen đến thị sát dưới xưởng cùng Untersturmführer Josef Liepold, viên Commandant mới, kẻ luôn vui mừng khi có cơ hội xâm nhập vào nhà máy. Viên thanh tra thực hiện chỉ thị từ Oranienburg là rà soát các trại phụ của Gröss-Rosen để bắt trẻ con cho thí nghiệm y khoa của bác sĩ Josef Mengele tại Auschwitz. Olek Rosner lẫn cậu em họ Richard Horowitz, nghĩ rằng ở đây mình không việc gì phải ẩn nấp, bị phát hiện đang chạy quanh xưởng, đuổi nhau trên cầu thang, và nô đùa giữa đám máy xe sợi bỏ không. Cùng chung số phận là con trai bác sĩ Leon Gross, người điều trị bệnh tiểu đường mới phát của Amon, hỗ trợ bác sĩ Blancke trong Chiến dịch Sức khỏe, và còn phải trả lời về nhiều tội ác khác. Viên thanh tra nhận xét với Untersturmführer Liepold rằng đây rõ ràng không phải công nhân đạn dược quan trọng. Liepold - thấp, đậm người, không điên như Amon - nhưng vẫn là một sĩ quan SS tin vào chế độ, chẳng buồn bảo vệ lũ nhóc.
Tiếp đó, tới lượt cậu bé chín tuổi của Roman Ginter bị phát hiện. Ginter biết Oskar từ thời ghetto mới ra đời, là người cung cấp sắt vụn của DEF cho xưởng kim khí tại Płaszów làm nguyên liệu. Nhưng Untersturmführer Liepold và viên thanh tra không thấy mối quan hệ đặc biệt nào. Cậu bé nhà Ginter bị giải ra cổng với những đứa trẻ khác. Con trai Frances Spira, mười tuổi rưỡi, nhưng cao lớn và trên danh sách ghi là mười bốn, đang trèo thang lau cửa kính. Cậu may mắn thoát nạn.
Chỉ thị ra lệnh bắt cả bố mẹ lũ trẻ, có lẽ để phòng ngừa nguy cơ phụ huynh vì cùng quẫn sẽ gây bạo động. Do vậy cả Rosner nghệ sĩ violin, Horowitz và Roman Ginter đều bị bắt. Bác sĩ Leon Gross từ phòng khám chạy xuống để trình bày, mặt mũi đỏ gay. Ông ta hy vọng chứng tỏ cho viên thanh tra từ Gröss-Rosen thấy mình là mẫu tù nhân rất có trách nhiệm, người bạn của chế độ. Nỗ lực ấy hoàn toàn vô ích. Một viên Unterscharführer mang súng tiểu liên được giao nhiệm vụ áp giải cả nhóm đi Auschwitz.
Đoàn cha và con ấy đi tàu khách từ Zwittau đến Katowice, Thượng Silesia. Henry Rosner ngỡ hành khách sẽ tỏ ra thù địch. Trái lại, một phụ nữ táo tợn tới chỗ họ, cho Olek và các bạn đầu mẩu bánh mì và một quả táo, đồng thời nhìn thẳng mặt viên trung sĩ với vẻ khiêu khích. Tuy nhiên, viên Unterscharführer chỉ giữ thái độ lịch sự, gật đầu chào. Khi tàu dừng ở Usti, anh ta để họ lại cho phụ tá canh giữ rồi bỏ tiền túi mua bánh bích quy và cà phê mang về. Anh ta bắt chuyện với Rosner và Horowitz. Càng nói họ càng thấy anh không thuộc về cùng một lực lượng cảnh sát với Amon, Hujar, John và đồng bọn. “Tôi sẽ đưa mọi người đến Auschwitz,” anh ta tiết lộ, “rồi nhận một nhóm phụ nữ đưa về Brinnlitz.”
Trớ trêu thay, những người đàn ông đầu tiên ở Brinnlitz biết tin chị em sắp được thả khỏi Auschwitz lại là Rosner và Horowitz, bản thân đang trên đường tới đó.
Cả hai ngây ngất. Họ bảo các con: chú này sắp đưa mẹ các con về Brinnlitz. Rosner nhờ viên Unterscharführer chuyển hộ thư cho Manci, còn Horowitz xin được viết cho Regina. Cả hai dùng giấy viên Unterscharführer cho họ, thứ giấy anh vẫn viết cho vợ mình. Rosner gửi Manci một địa chỉ ở Podgórze để hẹn ngày đoàn tụ nếu cả hai sống sót.
Khi cả hai viết xong, viên sĩ quan SS bỏ thư vào túi áo. Cậu ở đâu mấy năm qua? Rosner tự hỏi. Ban đầu cậu có cuồng tín không? Có hò reo khi lũ ác thần cưỡi diều hâu gào lên, “Do Thái là nỗi bất hạnh của chúng ta!” không?
Thêm một quãng, Olek vùi mặt vào tay Henry và bắt đầu khóc. Đầu tiên cậu không chịu nói tại sao. Sau cùng cậu thú nhận mình ân hận vì đã khiến Henry bị bắt theo đi Auschwitz. “Chỉ vì con mà bố phải chết,” cậu nói. Henry có thể nói dối để vỗ yên Olek, nhưng anh biết sẽ chẳng ăn thua. Lũ trẻ đều biết tới phòng ngơi ngạt. Chúng dằn dỗi nếu người lớn định lừa chúng.
Viên Unterscharführer cúi xuống. Hẳn anh ta chưa nghe được câu chuyện, nhưng mắt anh đẫm lệ. Olek dường như ngỡ ngàng vì cảnh tượng ấy - theo cách trẻ con sững sờ trước con thú đạp xe ở rạp xiếc. Cậu ngẩn người nhìn viên sĩ quan. Điều đáng kinh ngạc là những giọt lệ ấy nhìn như nước mắt người cha, nước mắt bạn tù. “Chú biết điều gì sắp đến,” viên Unterscharführer bảo. “Chúng tôi đã bại trận. Cháu sẽ được xăm số. Cháu sẽ sống sót.”
Henry cảm giác, không phải anh đang hứa với cậu bé, mà với chính mình, tự trang bị một lời đảm bảo - để có lẽ năm năm sau, khi hồi tưởng lại chuyến tàu này - anh có thể dùng để trấn an bản thân mình.
*
Buổi chiều đi tìm hàng rào điện, Clara Sternberg nghe tiếng gọi tên, tiếng cười của chị em từ lán Schindlerfrauen. Từ căn lán lầy lội, bà bò ra và thấy các phụ nữ của Schindler xếp hàng bên kia hàng rào trong trại nữ. Một số chỉ mặc độc sơ mi quần đùi. Tất cả đều da bọc xương, chẳng có cơ hội nào. Nhưng họ rúc rích như một lũ gái non. Đến nữ nhân viên SS tóc vàng cũng lộ vẻ phấn khởi, bởi nếu họ được giải phóng khỏi Auschwitz thì cô ta cũng vậy. “Schindlergruppe,” cô ta thông báo, “các cô sẽ đi tắm rồi lên tàu.” Có vẻ cô ta cũng cảm nhận được tính chất đặc biệt của sự kiện này.
Tù nhân tận số từ các lán chung quanh đờ đẫn nhìn họ reo mừng qua rào thép gai. Đoàn phụ nữ ấy, họ buộc tất cả phải nhìn. Vì đột nhiên họ quá bất tương xứng với phần còn lại của thành phố này. Tất nhiên, nó chẳng ý nghĩa gì. Chỉ là một sự kiện bất thường, không ảnh hưởng tới cuộc sống của đa số; không đảo ngược nổi thực tại hay khiến không khí mù mịt khói ở đây quang đãng hơn.
Nhưng với Clara Sternberg, cảnh tượng ấy thật không tài nào chịu nổi. Và với bà Krumholz sáu mươi tuổi đang chờ chết ở lán người già, cũng vậy. Bà bắt đầu cự cãi với viên Kapo Hà Lan ở cửa lán. Tôi sẽ nhập bọn với họ, bà nói. Người kia tuôn ra một tràng lý luận. Sau cùng, bà ta nói, bà ở đây thì hơn. Nếu đi, bà sẽ chết trên toa gia súc. Ngoài ra tôi phải giải thích vì sao bà vắng mặt. Bà cứ bảo, bà Krumholz đáp, tôi có tên trong danh sách của Schindler. Họ đã thu xếp cả rồi. Các con số sẽ khớp. Không ai thắc mắc gì đâu.
Họ cãi nhau năm phút, nói đến gia đình, tìm hiểu gốc gác của nhau, có lẽ mong tìm ra điểm yếu nằm ngoài logic ngặt nghèo của cuộc tranh luận. Té ra người phụ nữ Hà Lan cũng có họ Kumholz. Họ bắt đầu bàn về tung tích người thân. Chồng tôi ở Sachsenhausen, chắc thế, bà Krumholz Hà Lan nói. Bà Krumholz Cracow thì bảo, chồng và con trai lớn của tôi cũng đi rồi. Có lẽ là Mauthausen. Tôi lẽ ra sẽ đến trại Schindler ở Moravia. Nhóm phụ nữ bên kia hàng rào sắp đi đấy. Họ không đi đâu sất, bà Krumholz Hà Lan nói, bởi chỉ có một chỗ để đi thôi. Bà Krumholz Cracow nói, Nhưng họ nghĩ mình sẽ được đi. Xin chị! Vì nếu các Schindlerfrauen ảo tưởng, bà Kumholz từ Cracow muốn được ảo tưởng cùng với họ. Người nữ Kapo thông cảm với bà, và rốt cuộc mở cửa cho bà đi, muốn ra sao thì ra.
Giữa bà Krumholz, bà Sternberg và nhóm phụ nữ của Schindler chỉ còn một hàng rào. Đây không phải hàng rào vòng ngoài, dẫn điện. Tuy vậy nó vẫn theo đúng quy chuẩn của Cục D, gồm ít nhất mười tám sợi, càng lên cao càng dày. Ở dưới thưa hơn, mỗi sợi song song cách nhau độ mười lăm xăng ti mét. Nhưng giữa mỗi cụm sợi song song lại có khoảng trống gần ba mươi xăng ti mét. Hôm ấy, theo lời nhân chứng và bản thân họ, cả bà Krumholz lẫn bà Sternberg, bằng cách nào đó, đã xé toang hàng rào đến với nhóm phụ nữ của Schindler, để gia nhập bất kỳ giấc mơ giải thoát giữa ban ngày nào họ đang tận hưởng. Cố lách qua khoảng cách chắc chỉ hai mươi hai phân, căng dây ra, xé toạc quần áo và để gai cào rách thịt, họ tự mình trở lại danh sách của Schindler. Chẳng ai ngăn họ vì không ai tin vào điều đó. Với những phụ nữ khác ở Auschwitz kiểu gì thì ví dụ này cũng không liên quan tới họ. Với những kẻ đào tẩu khác, vượt qua hàng rào này chỉ dẫn ta đến hàng rào khác, rồi hàng rào khác nữa, rồi đến lớp rào ngoại vi dẫn điện. Trong khi với Sternberg và Krumholz, chỉ có một lớp rào ấy thôi. Quần áo họ mang theo từ ghetto và giữ gìn cẩn thận ở Plaszów lầy lội nay đã ở lại trên rào. Trần truồng và rướm máu, họ nhập vào hàng phụ nữ của Schindler.
Bà Rachela Korn, nằm liệt trong lán cứu thương ở tuổi bốn tư, cũng được con gái lôi qua cửa sổ, đỡ đứng thẳng trong hàng. Với bà và hai người kia, hôm nay là sinh nhật. Mọi người trong hàng như đang chúc mừng họ.
Trong nhà tắm, họ bị cạo nhẫn. Các nữ thợ cạo Latvia lia một đường lùa chấy chạy dọc đầu họ, cạo lông nách và lông mu họ. Tắm xong, họ bị xua trần truồng đến lán hậu cần, ở đây họ được phát quần áo của người chết. Thấy nhau trọc lốc và quần áo tạm bợ, họ phá lên cười - sự hồn nhiên của tuổi trẻ. Cảnh cô gái nhỏ nhắn Mila Pfefferberg, chỉ còn ba mươi lăm cân, mặc y phục của một phụ nữ béo tốt khiến họ cười rũ ra. Dở sống dở chết, y phục rách rưới đánh số bằng sơn, họ uốn éo, làm mẫu, đóng kịch, và rúc rích như một bầy nữ sinh.
“Schindler định làm gì với lũ gái già này?” Clara Sternberg nghe một nữ nhân viên SS hỏi đồng nghiệp.
“Bố ai biết được,” người kia đáp. “Hắn thích thì cho hắn mở nhà dưỡng lão.”
Dù chuẩn bị tinh thần thế nào, đoàn tàu vẫn là một trải nghiệm kinh khủng. Cả khi trời lạnh, vẫn có cảm giác ngột ngạt đến từ sự tăm tối. Hễ lên xe, lũ trẻ lập tức dồn về bất kỳ khe hở nào có ánh sáng. Sáng hôm ấy Niusia Horowitz làm như vậy - áp sát vào thành toa, nơi có một tấm ván xộc xệch. Nhìn qua kẽ hở, em thấy hàng rào của trại nam bên kia đường tàu. Em thấy một dúm trẻ con đứng dòm và vẫy đoàn tàu. Trong động tác của chúng, có gì đó bền bỉ một cách rất riêng tư. Em cảm thấy kỳ lạ vì một đứa giống hệt cậu em lên sáu của mình, đang an toàn ở chỗ Schindler. Còn thằng bé bên cạnh thì giống đứa em họ Olek Rosner như đúc. Rồi em hiểu ra. Chính là Richard. Chính là Olek.
Em quay sang tìm mẹ và kéo bà ra. Regina nhìn, cũng trải qua quá trình nhận diện tàn nhẫn ấy, và bắt đầu kêu gào. Cửa toa đã đóng; họ bị lèn chặt trong bóng tối, và mỗi cử động, mỗi hơi hướm hy vọng hoặc hoảng sợ, đều dễ lây lan. Ai nấy bắt đầu kêu khóc. Manci Rosner, đứng gần chị dâu, nhẹ nhàng đẩy Regina dịch sang, nhìn, thấy con trai đang vẫy, và cũng bắt đầu gào khóc.
Cửa lại mở ra và một hạ sĩ quan vạm vỡ hỏi làm gì mà ồn thế. Không ai có động cơ gì để bước lên, trừ Manci và Regina vật lộn chen lên trước. “Con tôi đang ở ngoài kia,” họ đồng thanh. “Con trai tôi,” Manci nói. “Tôi muốn cho nó biết tôi còn sống.”
Người nọ ra lệnh cho họ xuống tàu. Khi xuống rồi, họ mới bắt đầu tự hỏi mục đích của anh ta là gì. “Tên chị?” anh ta hỏi Regina.
Bà trả lời và thấy anh ta vòng tay ra sau, lục tìm dưới thắt lưng da. Bà ngỡ bàn tay sẽ rút ra một khẩu súng. Nhưng hóa ra đấy là thư của chồng bà. Anh ta có một bức thư tương tự từ Henry Rosner. Anh ta kể vắn tắt chuyến đi từ Brinnlitz, với chồng họ. Manci gợi ý anh ta cho phép họ chui xuống gầm xe, giữa đường ray, để đi tiểu. Khi tàu dừng lâu, đôi khi họ vẫn được phép làm vậy. Anh ta bằng lòng.
Vừa chui xuống gầm tàu, Manci liền phát ra tiếng huýt chói tai của nhà Rosner cô vẫn dùng trên Appellplatz ở Płaszów để gọi Henry và Olek. Olek nghe thấy, và bắt đầu vẫy. Em nắm đầu Richard, quay về hướng hai bà mẹ, đang lấp ló giữa bánh xe của đoàn tàu.
Sau khi vẫy rối rít, Olek giơ tay lên cao và kéo áo xuống khoe một hình xăm ngoằn ngoèo như vết dãn tĩnh mạch trên bắp tay. Và tất nhiên hai bà mẹ vẫy, gật đầu, và hoan hô; cậu bé Richard cũng giơ hình xăm lên, để được hoan hô. Mẹ, nhìn này, lũ trẻ tay áo xắn cao như muốn nói, chúng con vào biên chế rồi.
Nhưng giữa những bánh xe hai bà mẹ đang kinh hoảng. “Chúng bị sao thế?” họ hỏi nhau. “Lạy Chúa, chúng làm gì ở đây?” Họ hiểu rằng trong thư sẽ giải thích rõ ràng hơn. Cả hai xé thư ra đọc, cất đi, rồi tiếp tục vẫy.
Tiếp đó, Olek xòe tay ra khoe mấy củ khoai tây bé xíu. “Đó,” cậu hét và Manci nghe rõ từng lời. “Mẹ không phải lo con bị đói nữa nhé.”
“Bố đâu?” Manci hỏi.
“Bố đi làm,” Olek nói. “Bố sẽ về sớm thôi. Khoai này con để dành cho bố.”
“Chúa ơi,” Manci than thở với chị dâu. Một tí thức ăn như thế. Cậu bé Richard thật thà hơn. “Mamushka, Mamushka, Mamushka,” cậu kêu, “con đói quá!”
Nhưng cậu cũng giơ lên mấy củ khoai. Khoai cho Dolek, cậu bảo. Dolek và Rosner đang làm việc ở mỏ đá.
Henry Rosner về đầu tiên. Anh đứng sát rào, giơ cánh tay trần lên, “Hình xăm đây rồi,” anh hân hoan gọi lớn. Tuy vậy Manci vẫn thấy anh cùng lúc vừa run, vừa toát mồ hôi vừa lạnh. Cuộc sống ở Płaszów chẳng dễ dàng gì, nhưng anh còn được ngủ bù dưới xưởng sơn sau những giờ chơi Lehar trên biệt thự. Ở đây, ban nhạc thỉnh thoảng vẫn diễn tấu cho dòng người tiến về “nhà tắm”, nhưng họ không chơi thứ nhạc của Rosner.
Khi Dolek quay về, Richard dẫn bố tới hàng rào. Ông thấy hai gương mặt xinh đẹp nhưng thất thần ló ra dưới gầm tàu. Điều ông lẫn Henry sợ nhất là họ đòi ở lại. Họ không thể ở cùng các con trong trại nam. Họ đang có hoàn cảnh khả quan nhất tại Auschwitz - ngồi dưới gầm một đoàn tàu chắc chắn sẽ lăn bánh trước khi trời tối. Ý niệm đoàn viên ở chốn này chỉ là ảo tưởng, nhưng hai người đàn ông ở hàng rào Birkenau vẫn sợ vợ họ sẵn sàng chết vì điều đó. Vì vậy Dolek và Henry trò chuyện với vẻ hồ hởi giả tạo - như hai ông bố thời bình định đưa con đi biển Baltic cho vợ được thảnh thơi đi chơi Carlsbad. “Trông nom Niusia nhé,” Dolek nhắc đi nhắc lại, cốt để Regina nhớ rằng họ còn một đứa con nữa, trong toa xe ngay trên đầu bà.
Cuối cùng tiếng còi ân huệ vang lên từ trại nam. Giờ bốn bố con phải rời hàng rào. Manci và Regina thẫn thờ leo lên tàu và cửa toa đóng lại. Họ lặng thinh. Chẳng còn gì làm họ ngạc nhiên được nữa.
Tàu lăn bánh vào buổi chiều. Chị em lại đoán già đoán non như thường lệ. Mila tin rằng nếu đích đến không phải là trại của Schindler, phân nửa số hành khách bị lên trên tàu khó lòng sống được một tuần nữa. Cô tự biết mình cũng chỉ còn tính bằng ngày. Cô bé Lusia bị tinh hồng nhiệt. Bà Dresner, được Danka săn sóc song vẫn lả dần vì kiết lỵ, cũng đang chết mòn.
Nhưng ở toa của Niusia Horowitz, họ thấy núi non và rặng thông qua kẽ vách. Hồi trẻ, một số đã đến chơi vùng này, và nhìn thấy những ngọn đồi khó quên ấy, dù từ những toa tàu hôi thối, cũng khơi dậy trong họ một cảm xúc đầy phi lý về kỳ nghỉ. Họ lay những người bần thần ngồi trong vũng xú uế. “Sắp đến rồi,” họ hứa. Nhưng đến đâu? Một lần mừng hụt nữa sẽ kết liễu tất cả.
Buổi sáng lạnh giá ngày thứ hai, họ được lệnh xuống tàu. Tiếng đầu máy xì xì vẳng lại từ đâu đó trong sương. Băng đóng thành những hàm râu lem luốc quanh phần dưới đoàn tàu, và không khí rét cắt da. Nhưng không phải thứ không khí chua gắt, nặng nề của Auschwitz. Đây là một đoạn tàu tránh nào đó. Họ bước đi, ngón chân tê cóng, ai nấy đều lên cơn ho. Không bao lâu, họ trông thấy một cánh cổng lớn và, phía sau, một công trình có nhiều ống khói trông như anh em với những ống khói họ đã bỏ lại phía sau ở Auschwitz. Một nhóm SS đứng chờ trước cổng, xoa tay vào nhau vì rét. Tốp lính SS và dãy ống khói - tất cả như thể hồi tiếp theo của bộ phim kinh dị ấy. Cô gái đi cạnh Mila bắt đầu sùi sụt. “Chúng đem mình tới tận đây để rồi vẫn tống tiễn mình lên ống khói.”
“Không,” Mila đáp, “chúng không thừa thời gian thế đâu. Nếu muốn, chúng đã làm vậy từ Auschwitz.”
Tinh thần lạc quan ấy, dẫu vậy, cũng giống như của cô bé Lusia - Mila cũng không hiểu nó ở đâu ra.
Gần đến cổng, họ nhận ra Herr Schindler đứng giữa nhóm SS. Ban đầu, họ nhận ra ông qua vóc dáng đồ sộ khó quên. Tiếp đến, họ nhận ra gương mặt ông dưới chiếc mũ Tyrol dạo này ông hay đội để ăn mừng việc được hồi hương. Một viên sĩ quan SS thấp, da sậm đứng cạnh Oskar. Đấy là Commandant của Brinnlitz, Untersturmführer Liepold. Oskar đã biết - và chị em sẽ sớm biết rằng Liepold, khác với cả trại lính trung niên của y, vẫn chưa mất niềm tin vào dự án mang tên “Giải pháp Tối hậu”[5]. Mặc dù y đường đường là phó thủ của Sturmbannführer Hassebroeck, là đại biểu cho quyền lực ở đây, Oskar lại là người bước lên khi đoàn người đứng lại. Họ nhìn ông chăm chú. Một kỳ nhân giữa sương mù. Chỉ vài người nhoẻn cười. Mila, giống những phụ nữ khác trong hàng sáng hôm đó, vẫn nhớ đấy là một khoảnh khắc của niềm biết ơn thuần khiết nhất, thành kính nhất, và không nói nổi thành lời. Nhiều năm sau, một người trong số họ, khi đứng trước ống kính truyền hình Đức và nhớ về buổi sáng ấy, sẽ gắng diễn tả lại điều đó. “Ông là cha, ông là mẹ, ông là niềm tin duy nhất của chúng tôi. Chưa bao giờ ông làm chúng tôi thất vọng.”
Và Oskar lên tiếng. Đây lại là một bài diễn văn táo bạo, đầy những hứa hẹn choáng ngợp nữa của ông. “Tôi biết mọi người sắp đến,” ông nói. “Zwittau đã gọi điện báo cho chúng tôi. Trong nhà đã có xúp và bánh mì đợi sẵn.” Và, nhẹ nhàng nhưng với vẻ quả quyết của bậc giáo chủ, ông nói: “Không phải lo gì nữa. Có tôi ở đây rồi.”
Đó là một tuyên ngôn khiến viên Untersturmführer bất lực. Oskar phớt lờ thái độ giận dữ từ Liepold. Khi Herr Direktor dẫn đoàn tù nhân vào sân nhà máy, Liepold chẳng thể làm gì để xâm nhập thành lũy vững chãi ấy.
Nhóm tù nam biết tin. Họ tụ tập trên ban công ngóng xuống. Sternberg và con trai tìm Clara Sternberg. Ông Feigenbaum với Lutek Feigenbaum kiếm Nocha Feigenbaum và cô con gái mảnh mai. Juda Dresner và Janek, ông Jereth, giáo sĩ Levartov, Ginter, Garde, cả Marcel Goldberg, đều căng mắt tìm bóng dáng những phụ nữ của mình. Mundek Korn không chỉ trông mẹ và em, mà cả Lusia cô gái lạc quan, người cậu thầm cảm mến. Bau chìm trong một nỗi bi thương mà có lẽ anh chẳng bao giờ hoàn toàn thoát khỏi. Lầu đầu tiên, anh biết chắc rằng mẹ và vợ mình sẽ không tới Brinnlitz. Song Wulkan người thợ kim hoàn, khi thấy Chaja Wulkan dưới sân nhà máy, lại kinh ngạc nhận ra, có những cá nhân đã can thiệp và mang tới sự giải cứu bất ngờ.
Pfefferberg vẫy Mila bằng gói đồ anh vẫn giữ đợi ngày cô đến - một cuộn len trộm từ một trong những kiện hàng Hoffman bỏ lại, và chiếc kim đan anh làm ở xưởng hàn. Cậu con trai mười tuổi của Frances Spira cũng từ ban công ngóng xuống. Cậu bé phải đút nắm tay vào miệng để khỏi kêu lên, vì dưới sân đầy SS.
Đoàn tù nữ lảo đảo bước vào khoảnh sân lát đá trong trang phục Auschwitz tả tơi. Đầu họ cạo trọc. Một số ốm yếu, hốc hác đến nỗi khó nhận ra. Nhưng cuộc hội ngộ ấy vẫn thật phi thường. Sẽ chẳng ai ngạc nhiên khi về sau biết rằng, khắp châu Âu tang thương chẳng đâu có cuộc đoàn tụ nào như thế. Và rằng Auschwitz chưa có và sẽ không có cuộc giải cứu nào như vậy.
Sau đó họ được dẫn đến một khu riêng. Chưa có giường tầng, mới chỉ có nệm rơm dưới sàn. Từ chiếc âu DEF to, một nữ nhân viên SS múc cho họ thứ xúp Oskar vừa nói đến ngoài cổng. Xúp đặc. Và ngồn ngộn dinh dưỡng. Trong mùi thơm ấy là dấu hiệu bề ngoài chứa đựng giá trị của những lời hứa không tưởng kia. “Không còn gì phải lo lắng nữa.”
Nhưng họ chưa được tiếp xúc với chồng con. Khu tù nữ tạm thời bị cách ly. Cả đến Oskar, được đội ngũ y tế tư vấn, cũng phải dè chừng những gì họ có thể đem về từ Auschwitz.
Tuy nhiên, chế độ cách ly vẫn còn ba chỗ thủng. Một là viên gạch hổng ở bên trên giường của Moshe Bejski. Những đêm sắp tới, anh em sẽ thay phiên quỳ trên đệm của Bejski và nhắn gửi sang bên kia bức tường. Tương tự, dưới nhà máy có một lỗ thoáng thông sang khu vệ sinh nữ. Pfefferberg quây thùng xung quanh, làm thành một khoang đủ một người ngồi và nói vọng sang. Cuối cùng, mỗi sáng sớm và sẩm tối, họ lại tụ tập bên hàng rào ngăn cách ban công khu tù nam và tù nữ. Nhà Jereth gặp nhau ở đây: ông lão Jereth, người góp gỗ xây những lán đầu tiên ở Emalia; vợ ông, dạo ấy cần vào ghetto để lánh nạn Aktion. Các bạn tù vẫn hay đùa về cuộc đối thoại giữa hai vợ chồng. “Hôm nay ruột mình đã vận hành chưa?” ông Jereth trịnh trọng hỏi vợ, người vừa trở về từ khu lán chìm trong kiết lỵ của Birkenau.
Về nguyên tắc, không ai muốn vào bệnh xá. Ở Płaszów, đó là một chốn hiểm nguy, nơi anh có thể bị bác sĩ Blancke điều trị bằng một liều xăng tiêm tĩnh mạch. Kể cả ở Brinnlitz, bệnh xá vẫn luôn có nguy cơ bị kiểm tra đột xuất, giống như vụ đã bắt mất lũ trẻ. Theo quy định của Oranienburg, bệnh xá của trại lao động không được có bệnh nhân nặng. Nơi này không phải là nhà thương làm phúc, mà để sơ cứu lao động. Nhưng dù muốn hay không bệnh xá ở Brinnlitz vẫn đầy phụ nữ. Cô thiếu nữ Janka Feigenbaum được đưa vào đây. Em bị ung thư và kiểu gì cũng chết, dù được ở chỗ tử tế nhất. Nhưng chí ít em cũng đến được nơi tử tế nhất còn lại cho em. Bà Dresner cũng được đưa vào đây, cùng hàng chục người khác không nuốt trôi hoặc giữ nổi thức ăn trong bụng. Lusia lạc quan và hai cô gái khác bị tinh hồng nhiệt và không được nhập viện. Họ được cho nằm dưới hầm, giữa cái ấm áp của những nồi hơi. Trong cơn mê sảng, Lusia vẫn ý thức được cái ấm cúng phi thường của phòng bệnh dưới hầm ấy.
Emilie làm việc thầm lặng như một nữ tu trong bệnh xá. Những người khỏe mạnh, tham gia tháo dỡ máy móc của Hoffman chuyển xuống nhà kho ở cuối đường, hầu như không để ý thấy bà. Sau này một người còn bảo bà chỉ là một người vợ lặng lẽ và phục tùng. Bởi ở Brinnlitz, những người khỏe mạnh đều bị mê hoặc bởi sự hào nhoáng từ Oskar, bởi ma thuật niềm tin có tên Brinnlitz. Những phụ nữ còn đứng vững cũng bị thu hút bởi viên giám đốc uy quyền, tài phép và toàn tri.
Như Manci Rosner chẳng hạn. Khi Brinnlitz hoạt động được một thời gian, có lần Oskar xuống chỗ cô trực đêm, đưa cho cô cây vĩ cầm của Henry. Bằng cách nào đó, khi đến gặp Hassebroeck ở Gröss-Rosen, ông có thời gian tạt vào kho và tìm được cây đàn. Ông tốn 100 RM chuộc lại nó. Khi trao nó cho cô, ông nở nụ cười như hứa hẹn sự trở về tối hậu của người nghệ sĩ để sánh duyên với cây đàn. “Đàn cũ,” ông thì thầm. “Nhưng - tạm thời - giai điệu mới.”
Sẽ khó cho Manci, khi đứng trước Oskar và cây vĩ cầm kỳ diệu, để thấy bóng dáng người vợ thầm lặng phía sau Herr Direktor. Nhưng với người hấp hối, Emilie hiện diện rõ ràng hơn. Bà cho họ ăn cháo lõi lúa mì[6], có Chúa mới biết bà moi ở đâu ra, đích thân bà nấu và mang xuống bệnh xá. Bác sĩ Biberstein nghĩ bà Dresner đã hết thuốc chữa. Emilie bón cháo cho bà bảy ngày liên tục, và bệnh lý lui dần. Trường hợp của bà Dresner có lẽ đã xác thực dự báo của Mila Pfefferberg, rằng nếu Oskar không kịp cứu họ khỏi Birkenau, phần lớn sẽ khó sống nổi một tuần nữa.
Emilie còn chăm sóc Janka Feigenbaum, cô gái mười chín bị ung thư xương. Lutek Feigenbaum, anh cô, làm việc dưới xưởng, thi thoảng vẫn thấy Emilie xuất hiện từ căn hộ tầng trệt, mang cặp lồng xúp bà tự nấu tới cho Janka đang chết mòn. “Bà ấy bị Oskar lấn át,” Lutek nói. “Ai cũng vậy. Nhưng bà vẫn là người độc lập.”
Khi Feigenbaum bị vỡ kính, bà lo sửa cho cậu. Đơn kính của cậu nằm ở một phòng khám nhãn khoa nào đó trên Cracow, đã ở đấy từ trước khi ghetto ra đời. Nhân có người đi Cracow, Emilie nhờ họ tìm đơn và đem về cặp kính đã sửa. Đối với chàng trai Feigenbaum, điều này vượt xa một cử chỉ nhân ái thông thường, nhất là trong một chế độ thật sự mong muốn anh bị cận, và âm mưu tước đi cặp kính của người Do Thái khắp châu Âu.
Chuyện Oskar tặng kính cho tù nhân thì nhiều. Người ta tự hỏi, liệu có cử chỉ nhân ái nào kiểu ấy của Emilie lại không bị hấp thụ vào truyền thuyết về Oskar, cái cách hành vi của những anh hùng nhỏ bé hơn bị gộp chung vào hình tượng Arthur hay Robin Hood.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Đức: Nhóm của Schindler.
[2] Có lẽ tác giả muốn ám chỉ những trận đánh ở vùng Flanders trong Thế chiến I, diễn ra trong tình trạng ngập ngụa bùn lầy.
[3] Tiếng Đức: Nữ (lao động) của Schindler.
[4] Chánh thanh tra hình sự. Trước khi chuyển sang phụ trách việc đầu độc tù nhân, Wirth là Chánh thanh tra của Cảnh sát hình sự Stuttgart.
[5] Tiếng Đức: die Endlösung der Judenfrage (giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái), cụm từ “chính thống” của phát xít Đức để chỉ kế hoạch diệt chủng Do Thái.
[6] Nguyên văn: selinona, là phần lõi còn lại của hạt lúa mì sau khi xay.