Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

Nhìn mặt công nhân, Oskar có thể đọc thấy phần nào nỗi khổ sở của ghetto. Bởi ở đây người ta không có thời gian để nghỉ lấy hơi, không có chỗ để ổn định, để hình thành thói quen, hay xác lập nếp sống gia đình. Nhiều người lẩn tránh và tìm thấy một dạng an ủi trong việc nghi ngờ tất cả - từ người ở chung phòng đến viên cảnh sát OD ngoài phố. Nhưng ngay cả người tỉnh táo nhất cũng chẳng biết có thể tin ai. “Mỗi người,” nghệ sĩ trẻ Josef Bau viết về một ngôi nhà trong ghetto, “đều có thế giới bí mật và nghi vấn của riêng mình.” Trẻ con im bặt khi nghe tiếng cầu thang cót két. Người lớn tỉnh dậy từ ác mộng bị lưu đày và cướp đoạt để nhận ra mình đã bị lưu đày và cướp đoạt, trong một căn phòng chen chúc của Podgórze - những sự kiện trong mơ, mùi vị của nỗi sợ trong mơ, đã tìm thấy sự tiếp nối trong nỗi sợ của hiện thực. Những tin đồn ghê gớm đeo đuổi họ vào phòng, trên phố, tới nhà máy. Spira có danh sách mới dài gấp đôi, gấp ba lần trước. Tất cả trẻ con sẽ bị đưa đến Tarnow để bắn, đến Stutthof để dìm chết, đến Breslau để tẩy não, để làm mất gốc, để phẫu thuật. Anh còn bố mẹ già không? Những người trên năm mươi sẽ bị đưa đến mỏ muối ở Wieliczka. Để làm việc à? Không. Để nhốt vào những hầm muối bỏ hoang.

Những tin đồn này, phần lớn đến tai Oskar, xuất phát từ bản năng của loài người là ngăn chặn cái ác bằng cách nói thành lời - đón đầu Số phận bằng cách cho thấy trí tưởng tượng của ta chẳng kém gì ngươi. Nhưng tháng Sáu ấy, những mộng mị và rì rầm khủng khiếp nhất đã có hình hài, và tin đồn hoang đường nhất đã thành hiện thực.

Phía Nam ghetto, bên kia phố Rekawka, là một quả đồi cây phủ. Có một sự riêng tư, như những bức tranh công thành thời Trung cổ, trong việc từ đây có thể nhìn vượt bức tường phía Nam vào ghetto. Khi cưỡi ngựa lên triền đồi, bản đồ ghetto sẽ mở ra trước mắt, và dọc đường đi ta có thể thấy những gì xảy ra ở đường phố bên dưới.

Schindler nhận thấy lợi thế này khi cưỡi ngựa lên đây với Ingrid vào mùa xuân. Giờ đây, choáng váng trước cảnh tượng tại ga Prokocim, ông quyết định lên đây lần nữa. Buổi sáng sau khi giải cứu Bankier, ông thuê ngựa từ tàu của Công viên Bednarskiego. Trông họ thật hoàn mỹ, ông và Ingrid, với áo jacket đuôi dài, quần kỵ sĩ và đôi ủng bóng loáng. Hai người Sudeten tóc vàng ở cao vời vợi, cách xa cái tổ kiến hỗn loạn tên gọi ghetto.

Họ xuyên rừng cây lên đồi và phi nước đại một quãng trên đồng cỏ. Từ trên lưng ngựa lúc này họ có thể thấy phố Wegierska, những đám đông tập hợp ở góc bệnh viện và, gần hơn, một đội SS dắt chó nghiệp vụ, sục vào từng nhà, các gia đình túa ra phố, mặc vội áo khoác bất kể trời nóng, với tâm lý sẽ vắng mặt dài ngày. Ingrid và Oskar gò cương ngựa vào dưới bóng cây và theo dõi cảnh tượng ấy, bắt đầu để ý thấy từng chi tiết của bức tranh. Cảnh sát OD trang bị dùi cui đang phối hợp với SS. Một số có vẻ nhiệt tình, bởi sau vài phút đứng trên đồi quan sát Oskar đã thấy ba phụ nữ lừng khừng ăn dùi cui vào vai. Ban đầu trong ông bốc lên một cơn giận ngây thơ, SS đang dùng Do Thái để trị Do Thái. Tuy nhiên về sau có thể thấy rằng một số cảnh sát OD sử dụng dùi cui để tránh cho nạn nhân khỏi những điều tệ hại hơn. Dù gì đi nữa, OD đã có luật mới: nếu anh không lùa được nhà khác ra đường, chính nhà anh sẽ phải trả giá.

Schindler cũng nhận thấy trên phố Wegierska đang hình thành hai hàng người. Một hàng đứng yên, nhưng hàng còn lại, mỗi khi dài thêm, từng khúc lại được cắt ra, giải đến góc phố Józefińska, và đi khuất tầm mắt. Không khó giải thích việc tập hợp và di chuyển này, bởi Schindler và Ingrid, vây quanh là rặng thông và từ trên cao nhìn xuống ghetto, chỉ cách nơi đang diễn ra Aktion độ hai ba dãy nhà.

Sau khi bị lùa ra khỏi nhà, các gia đình bị tách vào hai hàng bất kể quan hệ huyết thống. Những cô con gái mới lớn có giấy tờ hợp lệ đi vào hàng cố định, từ đây họ gọi với sang những bà mẹ đứng tuổi ở hàng bên kia. Một công nhân ca đêm, mặt hãy còn đờ đẫn vì mất giấc, bị chỉ vào một hàng, còn vợ con sang hàng kia. Ngay trên phố, anh ta tranh cãi với một viên OD. Kệ mẹ Blauschein! Tôi muốn đi cùng Eva và đứa nhỏ.

Một lính SS mang súng can thiệp. Đứng cạnh đám đông Ghettomenschen[1] bợt bạt, một sinh vật như gã, trong bộ quân mục mùa hè mới là, nhìn cực kỳ no đủ và tươi mới. Từ trên đồi, ta có thể thấy dầu bóng trên khẩu súng lục trong tay gã. Gã đánh vào mang tai người chồng và cộc cằn hét vào mặt anh ta. Schindler, mặc dù không nghe thấy, biết chắc đó là những lời mình đã từng nghe, ngoài ga Prokocim. Chẳng ảnh hưởng gì đến tao sất. Muốn sang với con đĩ Do Thái của mày à, sang đi! Người đàn ông được dẫn sang hàng kia. Schindler thấy anh ta lết lên ôm vợ, và, lợi dụng cử chỉ phu thê nghĩa nặng ấy, một phụ nữ khác đã lủi vào nhà mà không bị SS Sonderkommando phát hiện.

Oskar và Ingrid quay ngựa, băng qua một đại lộ bỏ hoang, rồi sau vài mét, leo lên một phiến đá vôi bằng phẳng nhìn thẳng xuống Krakusa. Nhìn ở cự ly gần hơn, phố này không nhốn nháo như Wegierska. Một hàng người, phụ nữ và trẻ em, không dài lắm, đang bị dẫn về phố Piwna. Một lính gác đi trước, một tên khác theo sau. Dòng người toát ra một sự bất cân xứng: quá nhiều trẻ em so với khả năng sinh nở của vài người phụ nữ trong hàng. Tha thẩn ở cuối hàng là một em bé, không rõ trai hay gái, mặc áo và đội mũ màu đỏ tươi. Sự hiện diện này sở dĩ thu hút sự chú ý của Schindler vì nó đưa ra một tuyên ngôn, như người công nhân ca đêm ưa tranh cãi trên phố Wegierska. Tuyên ngôn ấy, tất nhiên, liên quan đến niềm đam mê màu đỏ.

Schindler tham khảo Ingrid. Nhất định là một bé gái, Ingrid đáp. Con gái mê mẩn màu sắc, đặc biệt là những màu như thế.

Trong khi họ quan sát, người lính Waffen SS ở cuối hàng thỉnh thoảng lại lấy tay chỉnh lại cái nút đỏ xộc xệch này. Anh ta không nặng tay - có lẽ ở nhà cũng có em gái. Giả thử được cấp trên yêu cầu làm gì đó để nguôi bớt lòng lân mẫn của những thường dân chứng kiến, chắc anh cũng chẳng thể làm tốt hơn. Thành thử nỗi âu lo đạo đức của hai kỵ sĩ trong công viên Bednarskiego chợt lắng xuống một cách khó hiểu trong giây lát. Nhưng chẳng được bao lâu. Vì phía sau đoàn phụ nữ và trẻ em đang rời đi, kết thúc bằng em bé áo đỏ như một dấu chấm ngoằn ngoèo, từng toán SS có chó đi kèm đang tiến về phía Bắc, triển khai ở cả hai bên đường.

Chúng càn quét qua những căn hộ hôi hám; như để báo hiệu sự gấp rút của chúng, một chiếc va li phi qua cửa sổ tầng hai và xổ tung ra trên vỉa hè. Và, chạy trước bầy chó, những đàn ông đàn bà trẻ em đã trốn vào gác xép hoặc tủ tường, tủ áo không ngăn kéo và thoát khỏi đợt lục soát đầu tiên, đổ xô ra đường, la thét và hổn hển vì khiếp sợ đàn chó Dobermann. Tất cả như bị tua nhanh khiến hai khán giả trên đồi khó theo dõi. Những người chạy ra bị bắn ngay giữa lề đường, ngã nhào trên rãnh nước, máu chảy ồng ộc xuống cống. Có hai mẹ con, cậu bé độ tám tuổi, hoặc mười nhưng hơi còi, nấp dưới bậu cửa sổ ở phía Tây phố Krakusa. Oskar sợ thay cho họ, một nỗi sợ vô phương kiềm chế, một cơn kinh hãi trong huyết quản khiến bắp đùi ông lỏng ra trên yên và suýt khiến ông ngã ngựa. Ông nhìn sang Ingrid và thấy hai tay cô xoắn chặt trên dây cương. Bên tai ông là tiếng cô cảm thán và cầu khẩn.

Ông quay phắt về hướng Krakusa tìm em bé áo đỏ. Chúng hành động cách chỗ em chỉ nửa dãy nhà; chúng không thèm đợi cho hàng người của em đi khuất sang phố Józefiźska. Có lẽ ban đầu Schindler chưa lý giải được tính nhất quán giữa điều này và những vụ sát nhân trên vỉa hè. Nhưng, nó vẫn cho thấy, theo một cách không ai chối bỏ được, mục đích đáng sợ của chúng. Giữa lúc em bé áo đỏ dừng chân trong hàng và quay đầu nhìn lại, chúng bắn vào cổ người mẹ, và một tên, khi cậu bé thút thít tuột xuống bức tường, giẫm ủng lên đầu cậu cho khỏi cựa quậy, áp nòng súng vào sau gáy - đúng bài bản của SS - và bóp cò.

Oskar lại đưa mắt tìm cô bé áo đỏ. Em đã dừng lại, đã quay đầu, và đã thấy chiếc ủng hạ xuống. Khoảng cách giữa em và người áp chót trong hàng đã nới rộng. Và người lính SS lại như một người anh chỉnh đốn em gái, đẩy em lại vào hàng. Herr Schindler không hiểu vì sao anh ta không đánh em bằng báng súng, bởi ở đầu kia phố Krakusa, lòng nhân từ đã bị hủy bỏ.

Cuối cùng Schindler tuột xuống ngựa, vấp ngã, và thấy mình đang quỳ dưới đất, ôm một gốc thông. Ông cảm thấy phải đè nén cơn buồn nôn muốn mửa bữa sáng thịnh soạn ra, bởi vì ông ngờ rằng tất cả những gì cơ thể giảo hoạt của mình đang làm là dọn chỗ để tiêu hóa thảm cảnh trên phố Krakusa.

Việc chúng không hổ thẹn, những kẻ cũng do mẹ sinh ra và phải viết thư về nhà (chúng viết gì trong thư nhỉ?), không phải là khía cạnh tồi tệ nhất mà Oskar phải chứng kiến. Ông biết rằng không ai hổ thẹn, bởi người lính cuối hàng không thấy cần phải ngăn em bé chứng kiến sự việc. Điều tồi tệ nhất là, không ai hổ thẹn, tức là có sự phê chuẩn chính thức. Sẽ chẳng ai còn có thể lẩn tránh bằng cách núp sau ba chữ văn hóa Đức, hay sau những tuyên ngôn được giới lãnh đạo nói ra để miễn cho các cá nhân vô danh việc ra khỏi vườn nhà hay nhìn qua cửa sổ và chứng kiến hiện thực trên vỉa hè. Trên phố Krakusa, Oskar đã nhìn thấy chính phủ Đức đưa ra một tuyên ngôn chính sách không thể bị bác bỏ như một sai lầm nhất thời. Những người lính SS, Oskar dám chắc, đã thực thi mệnh lệnh của lãnh đạo, bởi nếu không thì người đồng đội ở cuối hàng sẽ chẳng để một đứa trẻ chứng kiến.

Tới cuối ngày, khi đã hấp thụ một lượng brandy, Oskar mới thấu hiểu ý nghĩa của tuyên ngôn ấy. Chúng cho phép nhân chứng, những nhân chứng như em bé áo đỏ, bởi chúng tin rằng mọi nhân chứng đều sẽ tiêu vong.

*

Ở góc Plac Zgody (Quảng trường Hòa bình) là hiệu thuốc của Tadeus Pankiewicz. Đây là một dược phòng kiểu cũ. Những bình sứ ghi danh pháp Latin của các dược phẩm cổ truyền, và mấy trăm ngăn kéo nhỏ xinh, nhẵn bóng, giấu kín sự phức tạp của kho tàng dược liệu khỏi cư dân Podgórze. Dược sư Pankiewicz ngụ ngay tầng trên, được chính quyền cho phép và theo yêu cầu của các bác sĩ của ghetto. Ông là người Ba Lan duy nhất được ở lại trong ghetto. Ông là người trầm lặng, mới ngoài bốn mươi, và đam mê tri thức. Họa sĩ ấn tượng người Ba Lan Abraham Neumann, nhà soạn nhạc Mordechai Gebirtig, nhà khoa học kiêm triết gia tiến sĩ Rappaport, và Leon Steinberg nhà nghiên cứu triết học đều năng lui tới chỗ Pankiewicz. Ngôi nhà còn là cơ sở giao liên, hộp thư liên lạc giữa Lực lượng Vũ trang Do Thái (ZOB) và du kích Quân đội Nhân dân Ba Lan. Dolek Liebeskind trẻ tuổi, Shimon và Gusta Dranger, các lãnh đạo của ZOB Cracow, thỉnh thoảng cũng đến đây, nhưng bí mật. Họ không muốn làm Tadeus Pankiewicz bị liên lụy bởi hoạt động của mình, vốn - khác với chính sách hợp tác của Judenrat - hàm chứa sự phản kháng quyết liệt và không khoan nhượng.

Những ngày đầu tháng Sáu, quảng trường trước hiệu thuốc Pankiewicz trở thành bãi tập kết. “Ngoài sức tưởng tượng,” sau này mỗi lần nhắc tới Quảng trường Hòa bình Pankiewicz lại nói vậy. Trên bãi cỏ giữa quảng trường, mọi người được phân loại lần nữa và được lệnh để hành lý lại - Không, không, hành lý sẽ gửi đến sau! Ở bức tường trống phía Tây, những ai phản kháng hoặc bị phát hiện có giấy tờ Aryan giả mạo sẽ bị xử bắn mà không cần giải thích hay nêu lý do gì cho những người ở giữa sân. Tiếng sấm rền vang của súng trường phá vỡ mọi đối thoại và hy vọng. Thế nhưng bất chấp tiếng kêu gào than khóc của người thân các nạn nhân, một số người - bị sốc hoặc đang tập trung một cách tuyệt vọng vào cuộc sống - hình như không nhận thấy đống xác. Sau mỗi lần xe tải đến và xác được từng nhóm đàn ông Do Thái chất lên xe, những ai còn lại giữa quảng trường ngay lập tức nói về tương lai. Và Pankiewicz sẽ nghe thấy câu nói ông đã nghe suốt cả ngày từ các hạ sĩ quan SS, “Xin đảm bảo với bà, thưa bà, người Do Thái các vị sẽ được lao động. Chúng tôi làm sao phung phí các vị được?” Cơn khao khát đến điên dại muốn được tin sẽ trần trụi hiện lên trên mặt những phụ nữ ấy. Và các binh sĩ SS, mới quay lại từ những cuộc hành quyết ở bức tường, lại ung dung đi giữa đám đông và hướng dẫn mọi người cách ghi tên lên hành lý.

Đứng ở Bednarskiego, Oskar Schindler không nhìn được vào Plac Zgody. Nhưng cả Pankiewicz bên quảng trường, lẫn Schindler trên đồi, đều chưa bao giờ chứng kiến những thảm cảnh vô cảm đến thế. Như Oskar, ông lên cơn buồn nôn, tai ông lùng bùng những ảo thanh, như vừa bị đánh vào đầu. Quá đỗi hoang mang trước sự ồn ào và man rợ ấy, ông không biết rằng trong số những người chết tại quảng trường có bạn ông Gebirtig, tác giả bài hát nổi tiếng “Đô thành rực cháy”, và Neumann người nghệ sĩ ôn hòa. Các bác sĩ bắt đầu đổ vào hiệu thuốc, hổn hển vì vừa chạy hai dãy phố từ bệnh viện đến. Họ cần băng cứu thương - họ vừa kéo những người bị thương từ ngoài đường vào. Một bác sĩ vào hỏi thuốc kích nôn. Đang có hơn chục người nôn ọe hoặc hôn mê vì nuốt xyanua. Một kỹ sư người quen của Pankiewicz đã lén bỏ thuốc vào mồm khi vợ không để ý.

Bác sĩ trẻ Idek Schindel, làm việc tại bệnh viện ghetto ở góc phố Wegierska, được một phụ nữ hớt hải bảo rằng lính Đức đang bắt trẻ con. Bà thấy lũ trẻ bị xếp hàng trên phố Krakusa, trong đó có Genia. Buổi sáng, Schindel gửi Genia cho hàng xóm - anh là người trông nom cô bé ở ghetto; bố mẹ em vẫn trốn ở quê, đang tìm cách lẻn vào ghetto, mảnh đất, đến hôm nay, vẫn ít hiểm nguy hơn. Sáng hôm ấy Genia, vốn luôn là một phụ nữ độc lập, đã tha thẩn từ nhà bác hàng xóm về chỗ em đang sống với chú Idek. Em bị bắt ở đây. Chính từ đó mà Oskar Schindler, từ công viên, đã bị sự xuất hiện vắng mẹ của em trong hàng người trên phố Krakusa thu hút.

Cởi chiếc áo phẫu thuật, bác sĩ Schindel chạy vội ra quảng trường và thấy em gần như ngay lập tức, ngồi trên bãi cỏ, tỏ vẻ điềm tĩnh giữa bức tường lính gác. Bác sĩ Schindel biết rõ tính giả tạo của màn trình diễn ấy, sau nhiều đêm tỉnh giấc để vỗ yên những cơn ác mộng của em.

Anh đi men rìa quảng trường và cô bé thấy anh. Đừng gọi, anh muốn nói; để chú tìm cách. Anh không muốn gây chú ý, vì cái kết có thể sẽ tồi tệ cho cả hai. Nhưng anh chẳng cần lo, bởi đã thấy mắt cô bé lịm đi và tỏ ra xa lạ. Anh đứng lặng, sững sờ vì sự giảo hoạt vừa đáng phục vừa đáng thương của em. Ở tuổi lên ba em thừa biết không nên cất tiếng gọi chú để thỏa lòng trong chốc lát. Em biết sẽ chẳng thể cứu vãn được nếu thu hút sự chú ý của SS vào chú Idek.

Idek đang chuẩn bị nội dung để trình bày với viên Oberscharführer cao lớn đứng bên bức tường hành quyết. Tốt nhất không nên tiếp cận sĩ quan chỉ huy một cách quá khúm núm, hoặc thông qua thuộc cấp. Quay nhìn cô bé lần nữa, anh cảm giác như mắt em chớp chớp, và rồi, với vẻ bình thản đáng khâm phục của một con bạc chuyên nghiệp, em bước qua giữa hai lính SS đứng gần nhất, và ra ngoài hàng rào lính gác. Em di chuyển chậm chạp đến đau tim, một cảnh tượng tất nhiên làm chú em kích động đến nỗi về sau mỗi khi nhắm mắt anh vẫn thường thấy hình ảnh em giữa một rừng bốt SS cổ cao lấp loáng. Khắp Plac Zgody không ai thấy em. Em duy trì cái nhịp bước nửa vấp váp, nửa nghi thức của kẻ chơi bài tháu cáy ấy tới tận góc hiệu thuốc của Pankiewicz, rồi đi tiếp sang mặt khuất của con phố. Bác sĩ Schindel phải rất kiềm chế để không hoan hô. Dù màn trình diễn xứng đáng có khán giả, điều ấy sẽ làm hỏng nó.

Anh sợ rằng mình không thể đi theo em ngay mà không làm lộ màn kịch của em. Cố nén sự bốc đồng thường nhật, anh tự thuyết phục mình rằng cái bản năng bất bại đã giúp cô bé thoát khỏi Plac Zgody sẽ giúp em tìm thấy nơi ẩn náu. Anh theo đường khác quay về bệnh viện để cho em thời gian.

Genia quay về căn phòng của hai chú cháu trên phố Krakusa. Con phố không một bóng người, hoặc, nếu có ai còn sót lại, nhờ khôn lanh hoặc tường giả, thì họ cũng không ra mặt. Em vào nhà, trốn dưới gầm giường. Trên đường về nhà, từ góc phố, Idek thấy SS đi rà soát lần chót, và gõ cửa. Nhưng Genia không trả lời. Đến khi anh về em cũng không thưa. Chẳng qua là anh biết chỗ tìm, khoảng trống giữa rèm với cửa sổ kéo, và thấy, lấp loáng trong cái âm u của căn phòng, đôi giày đỏ của em ẩn dưới viền tấm ga giường.

Lúc này, dĩ nhiên, Schindler đã trả ngựa về chuồng. Ông không có mặt trên đồi để chứng kiến thắng lợi nhỏ bé nhưng vinh quang của Genia áo đỏ, trở về nơi SS bắt được em lúc trước. Ông về đóng cửa ngồi lì trong văn phòng ở DEF, thấy việc chia sẻ tin dữ cho những công nhân ca ngày quá khó khăn. Mãi về sau, bằng thái độ rất không đặc trưng cho một Herr Schindler vui tính, vị khách ưa thích tại những bữa tiệc của Cracow, kẻ tiêu tiền như nước của Zablocie, bằng thái độ của - sau lớp vỏ ngoài lãng tử - một quan tòa không khoan nhượng, Oskar nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của ngày này. “Kể từ hôm nay,” ông tuyên bố, “không một kẻ biết nghĩ nào có thể không thấy những gì sẽ đến. Giờ đây, tôi quyết tâm làm tất cả những gì có thể để đánh bại chế độ này.”

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Đức, nghĩa là người trong ghetto.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.