Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21

❊ ❊ ❊

Poldek Pfefferberg sống chung phòng ở tầng hai của một ngôi nhà từ thế kỷ 19 tại phố Józefińska. Cửa sổ phòng anh nhìn xuống bức tường ghetto ven sông Vistula, nơi những chiếc sà lan hết xuôi lại ngược, chẳng quan tâm tới ngày cuối cùng của ghetto, nơi tàu tuần tra của SS vè vè lượn qua như rong chơi. Tại đây, Pfefferberg và Mila, vợ anh, đợi Sonderkommando đến lùa họ ra đường. Mila là một cô gái bé nhỏ, nhút nhát, mới hai mươi hai, tị nạn từ Łódź đến. Họ lấy nhau từ những ngày đầu của ghetto. Gia đình Mila nhiều đời làm thầy thuốc, cha cô là bác sĩ phẫu thuật chết trẻ năm 1937. Mẹ cô là bác sĩ da liễu, và trong đợt Aktion ở ghetto Tarnow từ năm ngoái, đã chung số phận với Rosalia Blau ở bệnh viện truyền nhiễm, bị tiểu liên đốn gục khi đứng giữa bệnh nhân của mình.

Mila có một tuổi thơ hạnh phúc, dù ở nơi ngược đãi Do Thái như Łódź, và đã theo học ngành y ở Vienna một năm trước chiến tranh. Cô gặp Poldek khi dân Do Thái ở Łódź bị đưa đến Cracow năm 1939. Cô tình cờ được xếp chung căn hộ với chàng Poldek Pfefferberg sôi nổi.

Giờ đây, anh cũng như cô, là người cuối cùng sót lại trong gia đình. Mẹ anh, người trang trí căn hộ trên phố Straszewskiego cho Oskar, đã bị chở đến ghetto Tarnow cùng chồng. Từ đây, sau này anh mới biết, họ được đưa đến Bełżec và sát hại. Chị và anh rể Poldek, đều có giấy tờ Aryan, mất tích tại nhà tù Pawiak ở Warsaw. Anh và Mila chỉ còn có nhau. Tính nết hai người khác nhau một trời một vực: Poldek là gã trai đường phố, thủ lĩnh, nhà tổ chức; mẫu người, khi nhà đương cục xuất hiện và hỏi có chuyện quái gì thế này, sẽ bước lên trả lời. Mila thì trầm lặng, càng trầm lặng hơn sau cái kiếp nạn đã nuốt trọn gia đình cô. Giữa thời bình, cuộc phối ngẫu giữa họ sẽ là hoàn mỹ. Cô không chỉ thông minh mà còn sâu sắc; cô tĩnh lặng như tâm bão. Cô có khiếu châm biếm, vả Poldek Pfefferberg thường cần có cô để kiềm chế nết ba hoa của mình. Tuy nhiên, hôm nay, trong cái ngày không tưởng này, họ đang mâu thuẫn.

Dù sẵn lòng rời ghetto nếu có cơ hội, thậm chí thích thú với hình ảnh cô và Poldek làm du kích trong rừng, Mila sợ cống ngầm. Đã hơn một lần Poldek ra khỏi ghetto bằng đường này mặc dù thỉnh thoảng lại có cảnh sát phục ở đầu cống. Bạn và thầy giáo cũ của anh, bác sĩ H, gần đây cũng bảo lối thoát này có thể không bị canh gác trong ngày Sonderkommando tiến vào. Vấn đề là phải chờ tới sẩm tối. Từ cửa nhà bác sĩ H đến miệng cống chỉ có vài mét. Sau khi chui xuống là rẽ phải, đường cống sẽ dẫn ta đi dưới lòng những con phố Podgórze không thuộc ghetto ra một cửa xả trên bờ kè sông Vistula, gần kênh đào ở phố Zatorska. Hôm qua, bác sĩ H đã quyết định. Hai vợ chồng họ dự kiến thoát theo đường này, và mời vợ chồng Pfefferberg đồng hành. Thời điểm đó Poldek chưa dám nhận lời. Mila sợ, và cũng hợp lý, rằng SS có thể xả hơi ngạt vào cống hoặc vô hiệu hóa kế hoạch này nếu chúng xuất hiện sớm tại căn phòng của vợ chồng họ ở đầu kia phố Józefińska.

Ngày hôm đó trôi qua chậm và căng thẳng trên căn phòng áp mái, khi họ chờ xem phải chạy lối nào. Hàng xóm chắc cũng chung cảnh ngộ. Một số người, có lẽ không chịu nổi cảnh chờ đợi, đã xuống đường mang theo hành lý và va li đựng niềm hy vọng, vì xét cho cùng hỗn hợp âm thanh ấy rất phù hợp để dụ ta ra ngoài - mơ hồ vọng lại từ xa là tiếng ồn đầy bạo lực, còn ở đây, giữa cái tĩnh lặng của căn nhà, ta có thể nghe thấy tiếng gỗ lâu năm lạnh lùng kẽo kẹt, đếm từng giờ phút cuối cùng và tồi tệ nhất của đời khách trọ. Đến buổi trưa âm u, Poldek và Mila nhai bánh mì nâu, ba trăm gam mỗi người còn lại trong nhà. Âm thanh rập rình của Aktion lan sang góc đường Wegierska, cách đó một dãy phố dài, và rồi, đến giữa chiều, lại lắng đi. Không gian gần như tĩnh lặng. Ai đó tuyệt vọng xả nước cái toilet cứng đầu ở tầng một. Đến thời điểm này, gần như có cơ sở để tin rằng SS đã bỏ sót họ.

Thế nhưng, dù tăm tối, buổi chiều u ám cuối cùng trong đời họ tại số 2 Józefińska nhất định không kết thúc. Thật ra, theo Poldek, trời đã đủ nhá nhem để thử thoát theo đường cống trước khi sẩm tối. Giờ khi tình hình đã yên, anh muốn sang hội ý với bác sĩ H. Đừng đi, Mila nói. Nhưng anh vỗ về cô. Anh sẽ tránh đi đường lớn, sẽ sử dụng hệ thống lỗ thủng thông giữa các tòa nhà. Anh tìm đủ mọi cách để trấn an cô. Ngoài đường có vẻ đã vãn tuần tra. Anh sẽ tránh những nhân viên OD hay lính SS lác đác ở ngã tư, và trở lại sau năm phút. Em yêu, em yêu, anh bảo cô, anh phải nói chuyện với bác sĩ H.

Anh xuống cầu thang hậu, ra sân qua lỗ thủng trên tường, và không ló mặt ra phố tới khi đến Văn phòng Lao động. Tại đây anh mạo hiểm băng qua con đường rộng, chui vào những ngõ ngách chằng chịt của khu nhà hình tam giác đối diện, và thỉnh thoảng lại gặp một nhóm người đang hoang mang trao đổi tin đồn và cân nhắc các lối thoát dưới bếp, trong kho, ngoài sân, và giữa hành lang. Anh ló ra phố Krakusa ngay chỗ đối diện nhà bác sĩ H. Anh băng qua đường mà không bị tên lính tuần tra ở bờ Nam ghetto cách đó ba dãy nhà phát hiện. Đó là nơi Schindler lần đầu chứng kiến sự cực đoan trong chính sách chủng tộc của Đế chế.

Tòa nhà của bác sĩ H trống trơn, nhưng trong sân Poldek gặp một người đàn ông trung niên đờ đẫn, cho anh biết Sonderkommando đã càn tới đây và hai vợ chồng bác sĩ sau khi ẩn nấp đã trốn theo đường cống. Có lẽ nên thế, ông ta bảo. Chúng sẽ còn quay lại, bọn SS. Poldek gật đầu; từng sống sót qua nhiều Aktion, anh quá biết kiểu chiến thuật này.

Anh trở về theo lối cũ và lại băng qua đường an toàn. Nhưng căn hộ số 2 đã trống trơn, Mila biến mất cùng hành lý, các cửa mở toang, các phòng trống hoác. Không biết có phải họ đều trốn dưới bệnh viện không - vợ chồng bác sĩ H, và cả Mila. Có lẽ họ đã rủ cô đi vì thương cô bồn chồn, và vì dòng dõi nghề y của gia đình cô.

Poldek lại trở ra bằng lối chuồng ngựa, rồi theo đường khác đi đến sân bệnh viện. Ga giường dính máu phất phơ ở ban công tầng trên, như cờ của kẻ bại trận chẳng được ai đoái hoài. Giữa mảnh sân lát đá là một đống xác. Có những người đầu vỡ toác, chân tay gãy rục. Dĩ nhiên, đó không phải là những bệnh nhân nan y của bác sĩ B và H. Họ là những người bị tạm giữ tại đây lúc ban ngày trước khi hạ sát. Một số có lẽ bị giam trên tầng, bị bắn, rồi ngã lộn xuống sân.

Sau này, mỗi khi được hỏi về đống xác trong sân bệnh viện, Poldek sẽ luôn đưa ra con số sáu mươi đến bảy mươi, tuy anh không có thời gian để đếm ngọn kim tự tháp rối bời ấy. Cracow là một phố thị và Poldek, vốn là cậu bé giao du rộng, trước ở Podgórze, về sau ở nội thành, từng theo mẹ tới nhiều gia đình giàu sang trong thành phố, nhận ra từ đống xác những khuôn mặt quen: khách hàng cũ của mẹ; những người hỏi thăm cậu bé đi học ở trường Kosciuszko thế nào, nhận được những câu trả lời láu lỉnh, cho cậu bánh kẹo vì cậu xinh trai và đáng yêu. Giờ đây họ bị phơi thân và chất chồng trong ô nhục giữa mảnh sân đẫm máu ấy.

Không hiểu sao Pfefferberg không hề nghĩ đến việc tìm xác vợ và ông bà H ở đó. Anh nhận thức được vì sao số phận lại đặt anh ở đây. Anh có một niềm tin không lay chuyển vào tương lai tốt đẹp hơn, tương lai của những pháp đình công chính. Anh ý thức được vai trò nhân chứng của mình, cái cảm giác Schindler từng trải qua trên ngọn đồi nhìn xuống Rekawka.

Anh bỗng để ý đến một đám đông trên phố Wegierska, ở ngoài sân bệnh viện. Họ đi về phía cổng Rekawka với vẻ đờ đẫn nhưng không có vẻ suy nhược giống công nhân đi làm ca sáng thứ Hai, thậm chí không giống cổ động viên của đội bóng thua trận. Trong làn người này anh nhận ra hàng xóm trên phố Józefińska. Anh ra khỏi sân, mang theo, như một thứ vũ khí giấu trong tay áo, trọn vẹn ký ức của nơi này. Mila thế nào rồi? Có ai biết không? Cô ấy đi rồi, họ nói. Sonderkommando vừa càn qua. Cô ấy ra khỏi cổng rồi, đang trên đường đến đó. Đến Płaszów.

Tất nhiên anh và Mila đã dự phòng tình huống bế tắc như thế này. Nếu một trong hai người bị vào Płaszów, tốt hơn người kia nên cố gắng ở ngoài. Anh biết Mila có năng khiếu tránh gây chú ý, một kỹ năng hữu ích ở trong tù; nhưng cô cũng có thể bị khổ sở vì thiếu ăn trầm trọng. Anh sẽ tiếp tế cho cô từ ngoài. Anh tin chắc mình lo được việc này. Dù vậy, quyết định ấy chẳng hề dễ dàng - đám đông hoang mang kia, được SS canh gác sơ sài, đang đi từ cổng Nam đến khu nhà máy quây rào thép gai của Płaszów, là chỉ dấu về nơi được đa số, mà có lẽ họ đúng, xem là chốn dung thân lâu dài.

Ánh sáng lúc này, dù đã muộn, bỗng tỏ hơn, tựa hồ sắp có tuyết. Poldek băng qua đường trót lọt và tiến vào khu căn hộ trống trơn. Anh tự hỏi không biết nơi này có trống thật không, hay lại đầy người đang ẩn nấp một cách tinh quái hoặc ngây thơ - những người tin rằng dù SS có bắt họ đi đâu, thì cái đích cuối cùng vẫn là phòng hơi ngạt.

Poldek muốn tìm một nơi ẩn náu loại một. Anh theo ngõ sau đến bãi chứa gỗ trên phố Józefińska. Ở đây gỗ là hàng hiếm. Không có chồng gỗ nào đủ lớn để anh trốn. Chỗ khả dĩ nhất là sau hai cánh cổng sắt ở lối vào. Kích thước và màu đen của nó khá hứa hẹn cho màn đêm sắp xuống. Về sau, chính anh cũng không tin nổi mình lại hăm hở chọn nơi này đến thế.

Anh gò lưng núp sau bên cổng bị đẩy sát vào tường của nhà văn phòng bỏ hoang. Qua kẽ hở chỗ bản lề, anh quan sát được phố Józefińska, theo hướng ban nãy anh đến. Sau tấm thép lạnh băng ấy, anh chứng kiến lát cắt của màn đêm buốt giá, một màu xám lung linh, và kéo áo khoác che kín ngực. Một đôi vợ chồng hối hả hướng về phía cổng, vừa đi vừa tránh đồ đạc vung vãi trên đường, những chiếc va li được ghi tên viết hoa một cách vô nghĩa. KLEINFELD, dòng chữ tuyên bố dưới ánh sáng ban đêm. LEHRER, BAUME, WEINBERG, SMOLAR, STRUS, ROSENTHAL, BIRMAN, ZEITLIN. Những cái tên không biên nhận. “Từng đống đồ chất chồng ký ức,” nghệ sĩ trẻ Josef Bau từng miêu tả. “Bảo vật của tôi đâu?”

Bên kia bãi chiến trường ngổn ngang hành lý hy sinh này, anh nghe thấy tiếng chó sủa dữ dằn. Đầu phố Józefińska bỗng xuất hiện ba tên SS sải bước trên vỉa hè phía xa, một tên bị lôi xềnh xệch bởi một khối lông lá, mà sau đó Poldek nhận ra là hai con chó lớn. Lũ chó lôi người dắt vào số 41 Józefińska, nhưng hai tên còn lại đứng đợi ngoài vỉa hè. Poldek chỉ chú tâm vào lũ chó. Chúng như lai giữa Dalmatian với chó chăn cừu Đức. Pfefferberg vẫn nghĩ về Cracow như một thành phố thân thiện, và loại chó này nhìn thật ngoại lai, như thể chúng vừa đến từ một ghetto nào khác khắc nghiệt hơn. Bởi đến giờ phút cuối cùng này, giữa ngổn ngang hành lý, ẩn sau cánh cổng sắt, anh vẫn biết ơn thành phố này, và vẫn đinh ninh nỗi kinh hoàng tối hậu chỉ được thực thi ở những đô thị khác, ít thanh lịch hơn. Ngộ nhận cuối cùng của Poldek sụp đổ sau chưa đầy nửa phút. Điều tồi tệ nhất xảy ra ở chính Cracow. Qua khe cửa, anh nhìn thấy cảnh tượng chứng tỏ nếu có cực điểm của tà ác thì nó không phải ở Tarnow, Czestochowa, Lwów hay Warsaw như ta tưởng. Nó ở ngay phía Bắc phố Józefińska, cách anh một trăm hai mươi bước. Từ số 41, một phụ nữ ôm con kêu khóc chạy ra. Một con chó ngoạm chặt vạt váy và phần thịt ở hông bà. Tên lính SS làm nhiệm vụ cẩu nô tóm đứa trẻ rồi ném nó vào tường. Âm thanh ấy làm Pfefferberg phải nhắm mắt lại, và anh nghe tiếng súng vang lên, chấm dứt lời kêu gào phản kháng của người mẹ.

Cũng như anh luôn ước tính đống xác ở bệnh viện cỡ độ sáu, bảy mươi người, Pfefferberg sẽ luôn làm chứng rằng đứa trẻ chỉ độ hai, ba tuổi.

Có lẽ trước khi người đàn bà chết hẳn, và chắc chắn trước khi anh tự ý thức được mình đã di chuyển, như thể quyết định ấy xuất phát từ tuyến-can-trường nằm sau gáy, Pfefferberg rời bỏ cánh cổng buốt giá, vì nó không thể bảo vệ anh khỏi lũ chó, và thấy mình đứng giữa sân. Anh lập tức lấy tác phong quân đội học được từ thời đi lính Ba Lan. Anh bước ra khỏi sân chứa gỗ như người đang hành lễ, cúi xuống, bắt đầu dọn mở hành lý khỏi lòng đường và chất chúng thành đống ven bờ tường. Anh nghe thấy tiếng ba tên SS lại gần; cảm thấy hơi thở gầm ghè của lũ chó, và cả buổi tối chực đứt tung dưới sự căng thẳng của sợi dây xích chúng. Khi đoán chúng còn cách khoảng mươi bước, anh đứng thẳng lên và cho phép mình,trong vai tên Do Thái dễ bảo hơi có xuất thân Âu châu, nhận thấy chúng. Anh thấy ủng và quần chẽn chúng vấy đầy máu, nhưng chúng không hề hổ thẹn khi xuất hiện trước mặt người khác trong tình trạng ấy. Viên sĩ quan đi giữa cao hơn cả. Nhìn gã chẳng hề giống kẻ sát nhân; gương mặt có vẻ nhạy cảm và khuôn miệng có nét thanh tú.

Pfefferberg trong bộ quần áo tồi tàn liền dập gót theo kiểu Ba Lan và giơ tay chào viên sĩ quan cao lớn đi giữa. Vì không nắm được quân hàm SS nên anh không biết xưng hô ra sao. “Herr,” anh lắp bắp. “Herr Commandant!”

Đó là một từ được bộ não anh, dưới nguy cơ tuyệt mệnh, bắn ra như điện xẹt. Và từ ấy hóa ra chuẩn xác, bởi đó chính là Amon Goeth vào thời điểm sung mãn nhất của buổi chiều, hưng phấn trước thành quả, và sẵn sàng thực thi tức thời và theo bản năng quyền uy của gã, cũng như Poldek Pfefferberg sẵn sàng thực thi tức thời và theo bản năng thủ đoạn của mình.

“Herr Commandant, kính xin báo cáo rằng tôi được lệnh dọn tất cả những thứ này sang vệ đường để không cản trở giao thông.”

Lũ chó rướn cổ chực nhao vào anh. Chúng chờ đợi, căn cứ tiền sử huấn luyện tàn bạo và phong cách của Aktion hôm nay, được xông vào cổ tay và háng Pfefferberg. Tiếng gầm gừ của chúng không chỉ hoang dại, mà còn đầy vẻ tự tin đáng sợ vào hệ quả, vấn đề chỉ là tên lính SS bên trái Herr Commandant liệu có đủ sức ghì chúng lại không. Pfefferberg không mong đợi gì nhiều. Anh sẽ chẳng bất ngờ nếu bị chôn vùi dưới hàm răng chó và một lúc sau được giải thoát khỏi những thương tích của chúng gây ra bằng một viên đạn. Nếu người đàn bà nọ không thể thoát nạn dù cầu xin bằng tình mẫu tử, thì anh chẳng có bao nhiêu cơ hội với câu chuyện về đồ đạc, về dọn quang con đường, trong khi mọi lưu thông của con người bất luận thế nào đều đã bị tiêu diệt.

Nhưng viên Commandant lại thấy thú vị với Pfefferberg hơn bà mẹ. Đây là một gã Ghettomensch, đóng vai lính tráng báo cáo trước mặt ba sĩ quan SS, nếu là thật thì quá hèn mọn, nếu không thì gần như dễ thương. Tác phong của gã, trên hết, là sự phá cách đối với một nạn nhân. Trong tất cả những kẻ xấu số hôm nay, có mình gã thử dập gót chào. Do vậy Herr Commandant có cái quyền vương giả là tỏ ra thú vị một cách phi lý và bất ngờ. Đầu gã ngả ra; môi trên kéo lại. Đó là một cái cười toe toét, tự nhiên, và hai đồng đội của gã mỉm cười lắc đầu trước sự sảng khoái ấy.

Bằng chất giọng nam trung tuyệt hảo, Untersturmführer Goeth nói, “Tất cả đã thu xếp đâu vào đấy rồi. Nhóm cuối cùng sắp rời ghetto. Verschwinde!” Nghĩa là, Biến đi, cu binh bét Ba Lan dập gót!

Pfefferberg bắt đầu chạy, đầu không ngoảnh lại, và anh sẽ chẳng bất ngờ nếu bị hạ gục từ phía sau. Cứ thế, anh chạy tới góc phố Wegierska, ngoặt sang, qua sân bệnh viện, nơi anh vừa là nhân chứng vài giờ trước đó. Khi anh gần ra đến cổng thì trời sập tối, và từng ngõ phố thân quen cuối cùng của ghetto mờ đi. Tại Quảng trường Podgórze, đám tù nhân chính thức sau cùng đứng giữa hàng rào hờ hững của lính SS và Ukraine.

“Chắc tôi là người sống sót cuối cùng,” anh bảo những người trong nhóm.

*

Nếu không phải anh thì chắc là bác thợ kim hoàn Wulkan và vợ con. Vài tháng qua Wulkan làm việc tại nhà máy Tiến bộ và, biết điều sắp tới, đã tìm đến Treuhänder Unkelbach với một viên kim cương to, đã giấu hai năm trong lớp lót của áo khoác. “Herr Unkelbach,” ông ta bảo tay quản đốc. “Họ bắt tôi đi đâu tôi sẽ đi đấy, nhưng vợ tôi không chịu nổi những ồn ào thô bạo ấy đâu.” Wulkan, vợ và con trai sẽ chờ ở đồn cảnh sát OD dưới sự bảo vệ của một viên cảnh sát Do Thái họ quen, và có lẽ trong ngày Herr Unkelbach sẽ tới đưa họ vào Płaszów một cách bình yên.

Từ sáng họ đã ngồi một góc trong đồn cảnh sát, nhưng cuộc chờ đợi ấy cũng đáng sợ như họ ngồi ở bếp nhà mình, cậu bé hết sợ lại chán, còn bà vợ thì không ngừng lủng bủng. Hắn đâu? Cuối cùng hắn có đến không? Ôi cái bọn này, cái bọn này! Tới đầu giờ chiều, Unkelbach đến thật, vào Ordnungsdienst đi vệ sinh và uống cà phê. Từ phòng đợi ngó ra, Wulkan nhìn thấy một Treuhänder Unkelbach hoàn toàn xa lạ: một người mặc quân phục hạ sĩ quan SS, hút thuốc, sôi nổi trò chuyện với một tên SS khác; một tay tu từng ngụm lớn cà phê, rít từng hơi đầy khói thuốc, ngoạm từng miếng to bánh mì nâu, trong khi khẩu súng lục, vẫn nằm ở tay trái, như một con thú nằm nghỉ trên mặt quầy, từng vệt máu thẫm màu chạy dọc ngực áo y. Đôi mắt y gặp mắt Wulkan, nhưng không nhìn thấy ông. Wulkan biết ngay không phải Unkelbach nuốt lời mà đơn giản là y không nhớ. Y đang say, nhưng không phải vì rượu. Nếu Wulkan gọi y, câu trả lời chắc hẳn sẽ là một ánh mắt ngây dại, lạc thần. Và, rất có thể, tiếp nối bằng một điều tồi tệ hơn.

Wulkan bỏ cuộc, quay vào với vợ. Bà ta vẫn cằn nhằn, “Sao ông không nói chuyện với hắn? Nếu hắn còn đó thì để tôi.” Rồi bà ta thấy bóng tối trong mắt Wulkan, và lén nhìn qua mép cửa. Unkelbach đang chuẩn bị rời đi. Bà ta thấy bộ quân phục lạ lẫm, mặt trước vấy máu các tiểu thương và vợ. Bà ta khẽ rú lên và trở lại chỗ ngồi.

Như chồng mình, lúc này bà rơi vào tình trạng tuyệt vọng có cơ sở, và sự chờ đợi đâm dễ dàng hơn. Viên OD họ quen trả họ lại với niềm hy vọng và nỗi phấp phỏng quen thuộc. Anh ta bảo rằng tất cả OD, trừ đội cận vệ của Spira, sẽ phải rời ghetto trước sau giờ tối, theo đường Wieliczka đến Płaszów. Anh ta sẽ tìm cách đưa nhà Wulkan lên một xe trong đoàn.

Khi trời đã tối sau cảnh Pfefferberg chạy lên phố Wegierska, khi toán tù nhân cuối cùng đã tập kết tại cổng dẫn vào quảng trường Podgórze, khi vợ chồng bác sĩ H di chuyển về phía Đông, ẩn giữa một nhóm thanh niên Ba Lan say rượu om sòm, khi các toán Sonderkommando đang nghỉ ngơi hút thuốc để chuẩn bị lục soát các khu nhà lần chót, hai cỗ xe ngựa dừng lại trước cổng đồn cảnh sát. Nhóm OD giấu nhà Wulkan dưới thùng giấy tờ và bọc quần áo. Symche Spira và đồng bọn không xuất hiện, vẫn đang làm nhiệm vụ trên phố, uống cà phê với các hạ sĩ quan và ăn mừng vị thế bền vững của mình trong chế độ.

Nhưng trước khi đoàn xe ra khỏi cổng ghetto, nhà Wulkan, đang nằm bẹp dí dưới sàn, nghe thấy âm thanh gần như liên hồi của súng trường và súng lục từ dãy phố sau lưng. Thế nghĩa là Amon Goeth và Willi Haase, Albert Hujar, Horst Pilarzik và vài trăm tên khác đang sục vào tầng áp mái, trần giả, thùng dưới tầng hầm, và tìm thấy những người đã nuôi hy vọng trong câm lặng suốt ngày hôm đó.

Hơn bốn ngàn người như vậy đã bị phát hiện và hành quyết ngoài phố trong một đêm. Hai ngày sau đó, thi thể họ được ném lên xe tải mui trần, chở tới Płaszów và chôn thành hai nấm mồ tập thể trong cánh rừng trước khu trại mới.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.