Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 29

❊ ❊ ❊

Ngồi giữa văn phòng Amon, cửa sổ mở thông ra trời hè ngột ngạt, Oskar cảm thấy từ đầu cuộc gặp này là giả tạo. Có lẽ Madritsch và Bosch đều chung cảm giác ấy, vì ánh mắt họ liên tục rời khỏi Amon, đuổi theo những xe chở đá vôi ngoài cửa sổ và bất cứ xe cộ nào đi qua. Chỉ có Untersturmführer Leo John, giữ nhiệm vụ ghi chép, là thấy cần phải ngồi thẳng và cài khuy kín cổ.

Amon mô tả đây như một hội nghị an ninh. Dù tình hình mặt trận đã yên tĩnh, việc quân Nga tiến đến gần ngoại ô Warsaw đã kích thích hoạt động của quân du kích trên khắp vùng Đức thuộc và kích động tù nhân Do Thái âm mưu trốn trại. Đương nhiên chúng không biết rằng, Amon nói, thà ở yên sau rào thép gai còn hơn là nộp mình cho những phần tử thích giết Do Thái trong quân du kích Ba Lan. Dù sao đi nữa, tất cả đều phải đề phòng du kích tấn công từ ngoài vào và, đáng sợ hơn cả, là nguy cơ du kích câu kết với tù nhân.

Oskar cố hình dung ra cảnh du kích tràn vào Płaszów, thả cả tù nhân Ba Lan lẫn Do Thái ra, biến họ thành một đạo quân trong chớp mắt. Thật là nằm mơ giữa ban ngày, ai mà tin nổi? Vậy mà Amon đang ráng sức thuyết phục họ rằng gã tin. Màn kịch nhỏ này ắt phải có lý do. Oskar dám chắc như vậy.

Bosch nói, “Nếu du kích sắp tới, Amon, mong rằng không trúng phải hôm tôi được mời đến đây.”

“Amen, amen,” Schindler lẩm bẩm.

Kết thúc cuộc gặp, dù nó có mục đích gì, Oskar đưa Amon ra xe mình, đỗ ngoài tòa nhà quản trị. Ông mở cốp xe. Bên trong là một bộ yên ngựa chạm trổ tinh xảo, hoa văn đặc trưng của vùng núi Zakopane, phía Nam Cracow. Oskar vẫn thấy cần thiết phải chiều chuộng Amon bằng quà cáp, mặc dù giờ đây lệ phí lao động khổ sai của DEF không còn ở quanh chỗ Hauptsturmführer Goeth, mà được gửi thẳng đến đại diện khu vực Cracow của tổng hành dinh Oranienburg của tướng Pohl.

Oskar gợi ý chở cả Amon lẫn bộ yên ngựa về villa của viên Commandant.

Trong một ngày oi bức cỡ này, một số tù nhân đẩy xe tỏ ra ít nhiệt huyết hơn mức cần thiết. Nhưng bộ yên đã xoa dịu Amon. Đằng nào gã cũng không có quyền nhảy xuống xe bắn hạ người ta như trước. Chiếc xe chạy qua khu trại lính, đến đoạn tàu tránh, nơi một dãy toa xe gia súc đang đỗ. Từ màn sương lơ lửng trên các toa, hòa lẫn và phập phừng trong quầng nhiệt bức xạ lại từ phần mái, Oskar biết bên trong đầy người. Bất chấp tiếng ồn từ đầu máy, ông vẫn nghe thấy tiếng rên rỉ, xin nước từ trong vọng ra.

Oskar phanh lại và lắng nghe. Ông được phép làm vậy, nếu xét đến bộ yên đắt tiền trong cốp xe. Amon mỉm cười độ lượng trước ông bạn đa cảm. Một phần trong đó là tù nhân của Płaszów, còn lại là từ trại lao động ở Szebnie. Và tù Ba Lan, Do Thái từ Montelukich. Chúng đang tới Mauthausen, Amon nói, vẻ cười cợt. Có vậy mà đã kêu ca? Bọn này còn chưa biết kêu ca là gì đâu…

Nóc các toa xe rực lên vì nhiệt. Anh không phản đối chứ, Oskar nói, nếu tôi cho gọi đội cứu hỏa của anh?

Amon bật cười kiểu “Anh-tính-bày-trò-gì-nữa-đây?” Gã ngụ ý rằng sẽ chẳng cho ai khác gọi cứu hỏa, nhưng sẽ chiều lòng Oskar bởi Oskar là người rất thú, và vụ này sẽ thành một giai thoại hay ho cho bữa tối.

Nhưng khi Oskar bảo lính Ukraine đi gióng chuông gọi đội cứu hỏa Do Thái, Amon ngỡ ngàng. Gã biết Oskar thừa hiểu Mauthausen nghĩa là gì. Xịt nước vào xe tức là hứa hẹn với họ về một tương lai. Mà hứa hẹn như thế, dù theo thước đo của ai, há chẳng tàn nhẫn lắm ư? Thành thử cảm giác của Amon là khó tin pha trộn với thú vị một cách bao dung khi vòi cứu hỏa được kéo ra và từng dòng nước kêu xèo xèo trên nóc toa nóng rẫy. Neuschel cũng từ văn phòng chạy xuống để lắc đầu và mỉm cười khi thấy trong xe dậy lên tiếng rên rỉ và reo hò biết ơn. Grün, vệ sĩ của Amon, đứng tán dóc với Untersturmführer John, vỗ đùi và huýt sáo khi nước trút xuống. Kéo dài hết mức, vòi nước cũng chỉ đến được nửa đoàn tàu. Tiếp theo, Oskar gợi ý Amon cho mượn xe và dăm lính Ukraine đến Zablocie để lấy vòi cứu hỏa của DEF. Vòi chỗ tôi dài tới hai trăm mét, Oskar nói. Amon, vì lẽ gì đó, thấy vụ này chết cười. “Dĩ nhiên tôi sẽ cho phép,” Amon đáp. Gã sẵn lòng làm tất cả vì vở hài kịch cuộc đời.

Oskar viết tin nhắn để toán lính Ukraine đưa cho Bankier và Garde. Trong khi chờ đợi, Amon sẵn lòng hòa chung không khí hiện trường bằng cách cho phép mở cửa các toa, chuyển nước vào trong bằng xô và chuyển những xác chết với bộ mặt phù nề đỏ lựng ra. Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan SS vẫn đứng quanh, thấy sự việc thật ngộ nghĩnh. “Hắn nghĩ mình đang cứu chúng khỏi cái gì không biết?”

Khi vòi cỡ lớn của DEF đến nơi và các toa đã sũng nước, trò đùa chuyển sang một hướng mới. Oskar trong tin nhắn đã dặn Bankier tới căn hộ của mình và chuẩn bị một giỏ đầy rượu, thuốc lá, pho mát và xúc xích hảo hạng vv… Lúc này Oskar trao giỏ đồ cho viên hạ sĩ quan ở cuối đoàn tàu. Đó là một giao dịch công khai, làm viên sĩ quan hơi lúng túng trước món quà, vội vàng cất đi vì sợ bị ai đó tại KL[1] Płaszów tố cáo. Thế nhưng Oskar có vẻ được viên Commandant đặc biệt ưu ái đến nỗi viên hạ sĩ quan kính cẩn lắng nghe ông. “Khi dừng ở gần các ga,” Oskar hỏi, “anh sẽ mở cửa các toa ra nhé?”.

Nhiều năm sau, hai người sống sót từ đoàn tàu ấy, bác sĩ Rubinstein và Feldstein, tiết lộ với Oskar rằng viên hạ sĩ quan SS thường xuyên ra lệnh mở cửa và rót nước vào xô suốt hành trình tẻ nhạt đến Mauthausen. Tất nhiên, trong phần lớn chuyến đi, đó chỉ là một sự an ủi trước cái chết không hơn.

Khi Oskar đi dọc đoàn tàu, ban phát một lòng từ bi gần như vô nghĩa, vây quanh là tiếng cười của SS, có thể thấy rằng ông không còn liều lĩnh nữa, mà đã thành như bị ma nhập. Chính Amon cũng nhận thấy bạn mình đã bước lên một ngưỡng mới. Mấy trò điên rồ này, từ kéo vòi cứu hỏa đến tận toa cuối cùng, hay hối lộ một hạ sĩ quan trước mặt đông đảo binh sĩ SS - chỉ cần một thay đổi sắc thái nhỏ nhoi trong điệu cười của Scheidt hay John hay Hujar cũng đủ cấu thành một cáo buộc tập thể với Oskar, điều Gestapo không thể bỏ qua. Thế rồi Oskar sẽ phải vào Montelupich, và với những cáo buộc về chủng tộc trước đây tiếp theo có lẽ là Auschwitz. Thành thử Amon không khỏi kinh hãi khi thấy Oskar nhất quyết đối xử với những kẻ sắp chết như thể bà con nghèo của ông, đang đi toa hạng ba đến một cái đích thực thụ.

Độ hơn hai giờ, đầu máy kéo cả chuỗi toa gia súc thảm thương ấy ra đường chính, và tất cả vòi cứu hỏa có thể thu lại. Schindler đưa Amon và bộ yên trở về tư dinh. Amon nhận thấy Oskar vẫn trầm tư và, lần đầu tiên từ khi họ hợp tác với nhau, gã khuyên ông bạn về cách sống. Anh phải thoải mái đi, gã nói. Anh không thể đuổi theo mọi đoàn tàu rời khỏi nơi này được.

*

Adam Garde, kỹ sư và tù nhân ở Emalia, cũng nhận thấy dấu hiệu của chuyển biến này ở Oskar. Tối 20 tháng Bảy, một người lính SS tới lán của Garde và dựng anh dậy. Herr Direktor gọi xuống bốt gác và nói cần gặp kỹ sư Garde về việc chuyên môn ở văn phòng của ông.

Garde lên và thấy Oskar đang nghe đài, mặt đỏ bừng, trên bàn có chai rượu và hai cái ly. Dạo ấy, sau bàn có một tấm địa đồ châu Âu. Thời Đức đang bành trướng thì nó không có ở đây, nhưng Oskar xem ra đặc biệt quan tâm đến sự thu hẹp các Mặt trận của Đức. Tối nay, ông nghe đài Deutschlandsender chứ không phải BBC như mọi khi. Trên đài đang phát ra tiếng nhạc hào hứng, như khúc dạo đầu đã thành thông lệ trước mỗi tuyên bố quan trọng.

Oskar đang chăm chú lắng nghe. Khi Garde bước vào, ông đứng dậy lùa anh kỹ sư trẻ vào ghế. Ông rót cognac, đưa vội cho anh. “Có kẻ vừa ám sát Hitler,” Oskar nói. Tin có từ đầu giờ tối, và tiết lộ Hitler đã thoát chết. Chúng khẳng định y sẽ sớm phát biểu trước nhân dân Đức. Nhưng vẫn chưa thấy gì. Vài giờ đã qua mà chưa thấy y xuất hiện. Và chúng phát rất nhiều Beethoven, giống như lần Stalingrad thất thủ.

Oskar và Garde ngồi cùng nhau trong nhiều giờ. Một hành vi phản nghịch, một tên Do Thái và một người Đức, cùng nghe đài - suốt đêm, nếu cần - để xem Führer đã chết chưa. Adam Garde, dĩ nhiên, cũng chung nỗi khổ nín thở vì hy vọng. Anh thấy cử chỉ của Oskar đầy uể oải, như thể việc Lãnh tụ có thể đã chết khiến cơ bắp ông chùng xuống. Ông uống nhiệt tình và giục Garde cạn chén. Nếu thế thật, Oskar nói, thì dân Đức, những người Đức bình thường như ông, có thể bắt đầu chuộc tội. Tất cả chỉ bởi ai đó thân cận với Hitler đã có can đảm xóa sổ y khỏi mặt đất này. SS coi như xong, Oskar nói. Sáng mai là Himmler đã vào tù rồi.

Oskar nhả từng cụm khói. Ôi, Chúa ơi, ông nói, được thấy ngày tàn của chế độ này mới nhẹ nhõm làm sao!

Bản tin mười giờ tối chỉ nhắc lại thông báo cũ. Âm mưu ám sát Führer đã thất bại, và Führer sẽ phát biểu trong vài phút nữa. Một tiếng sau, khi không thấy giọng Hitler trên đài, Oskar tìm đến một ảo tưởng khá phổ biến với nhiều người Đức khi chiến tranh sắp kết thúc. “Loạn lạc qua rồi,” ông nói. “Thế giới đã tỉnh táo trở lại. Đức có thể liên minh với phương Tây để chống Nga.”

Ước nguyện của Garde khiêm tốn hơn. Trong tình huống xấu nhất, anh hy vọng sẽ có một ghetto như thời Franz Josef.

Họ càng uống, nhạc càng chơi, khả năng châu Âu đêm nay sẽ dâng cho họ cái chết thiết yếu để đầu óc nó trở lại lành mạnh càng rõ rệt. Họ lại là công dân của lục địa; không còn là tù nhân và Herr Direkton nữa. Radio vẫn lặp lại lời hứa phát đi thông điệp của Führer, và mỗi lần như thế Oskar càng cười dữ hơn.

Đã quá nửa đêm, và họ chẳng buồn chú ý tới lời hứa ấy nữa. Ở thành Cracow hậu-Führer này hơi thở của họ bỗng nhẹ hơn. Họ đoán đến sáng người ta sẽ nhảy múa khắp mọi quảng trường, mà chẳng gặp sự trừng phạt nào. Wehrmacht sẽ bắt giam Frank ở lâu đài Wawel và bao vây trụ sở SS trên phố Pomorska.

Gần một giờ sáng, diễn văn của Hitler được phát đi từ Rastenberg. Oskar quá đinh ninh mình sẽ chẳng bao giờ phải nghe lại giọng nói ấy đến nỗi những giây đầu ông không nhận ra, dù nó rất quen thuộc, ngỡ đấy là phát ngôn viên đảng Quốc xã tiếp tục trì hoãn tình hình. Nhưng Garde nghe từ chữ đầu tiên, và biết đó là giọng ai.

“Hỡi các đồng chí Đức,” giọng nói bắt đầu. “Tôi phát biểu hôm nay, một là để các đồng chí nghe giọng tôi, biết tôi vẫn bình an vô sự, hai là để các đồng chí được biết một tội ác vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Đức.”

Bài diễn văn kết thúc sau bốn phút, và có đề cập tới những kẻ phản loạn. “Lần này chúng ta sẽ thanh toán sòng phẳng với chúng theo truyền thống của những người Quốc xã.”

Adam Garde chưa bao giờ thực sự tin vào cái ảo tưởng mà Oskar cố nhồi vào đầu anh suốt tối. Bởi Hitler không chỉ là một con người: y là một thể chế với muôn vàn chân rết. Dù y có chết, không có gì đảm bảo rằng bản chất thể chế này sẽ thay đổi. Hơn nữa, tiêu vong trong vòng một buổi tối không phải là đặc điểm của một hiện tượng cỡ như Hitler.

Nhưng niềm tin của Oskar vào cái chết ấy suốt mấy giờ qua đã trót mãnh liệt đến nỗi, khi nó hóa thành mây khói, chính chàng thanh niên Garde phải vào vai người an ủi, trong khi Oskar than thở như một đào thương. “Mọi hình dung của chúng ta về cứu rỗi đều là vô nghĩa,” ông nói. Ông rót thêm một ly rồi đẩy chai rượu ra giữa bàn đoạn mở hộp thuốc. “Cầm rượu với ít thuốc rồi về nghỉ đi,” ông nói. “Chúng ta đành đợi thêm chút nữa đến ngày tự do vậy.”

Trong phút xáo trộn của cognac, tin ám sát và sự đảo chiều bất ngờ vào rạng sáng, Garde không thấy ngạc nhiên khi Oskar dùng chữ “chúng ta”, như thể họ có chung một nhu cầu, cùng là tù nhân, phải thụ động chờ ngày được giải phóng. Đến khi về giường Garde mới ngỡ ngàng khi thấy Herr Direktor nói năng như thế, như một người dễ nuôi ảo tưởng và dễ suy sụp. Mọi khi ông vẫn thực tế lắm mà.

*

Cuối hè năm ấy, phố Pomorska lẫn các trại quanh Cracow rộ lên tin đồn sắp bố trí lại tù nhân. Điều này làm Oskar ở Zablocie lo âu, trong khi tại Płaszów Amon nghe tin không chính thức rằng trại sắp bị giải thể.

Kỳ thực, cuộc họp an ninh chính là vì chuyện này, chứ không liên quan gì đến việc bảo vệ Płaszów khỏi du kích. Amon mời Madritsch, Oskar và Bosch tới và tổ chức cuộc họp để mượn màu son phấn vậy thôi. Sau đó gã sẽ có cớ lái xe vào Cracow ra mắt Wilhelm Koppe, trùm cảnh sát mới ở vùng Đức thuộc. Gã ngồi đối diện Koppe với vẻ ưu tư giả tạo, bẻ tay răng rắc như bị sức ép từ một Płaszów trong vòng vây hãm. Gã lặp lại câu chuyện đã kể cho Oskar và hai người kia - nhiều nhóm du kích sinh sôi trong trại, các tù nhân Zionist đã bắt liên lạc với những phần tử cực đoan thuộc Quân đội Nhân dân Ba Lan và Tổ chức Chiến binh Do Thái. Ngài Obergruppenführer chắc cũng hiểu, những liên lạc kiểu này rất khó triệt tiêu - chúng có thể tuồn vào trong một ổ bánh mì. Nhưng ngay khi có dấu hiệu bạo loạn đầu tiên, gã - Amon Goeth - với tư cách Commandant, phải được tiền trảm hậu tấu. Điều Amon muốn hỏi là, nếu gã bắn trước, báo cáo Oranienburg sau, liệu Obergruppenführer khả kính có ủng hộ gã không?

Không thành vấn đề, Koppe đáp. Y cũng đâu có ưa gì cánh quan chức. Những năm trước, hồi còn làm trùm cảnh sát Wartheland, y từng chỉ huy đội xe tải diệt chủng chở đám Untermenschen ra đồng, cho động cơ chạy hết ga, xả khí thải ngược vào thùng xe khóa kín. Đây cũng là một kiểu hành sự ngẫu hứng, không cho phép báo cáo chính xác. Dĩ nhiên, anh phải dựa vào nhận định của bản thân, y bảo Amon. Và nếu anh làm vậy, tôi sẽ ủng hộ anh.

Ngay ở cuộc họp, Oskar đã cảm thấy nỗi lo của Amon không phải là quân du kích. Nếu biết tin Płaszów sắp bị giải thể thì ông đã hiểu ngay thâm ý trong vở diễn của gã. Vì nỗi lo thực sự của Amon là Wilek Chilowicz, trùm cảnh sát Do Thái do gã bổ nhiệm. Amon thường sử dụng Chilowicz làm tay sai ngoài chợ đen. Chilowicz biết rõ Cracow, biết đầu ra cho bột mì, gạo và bơ mà viên Commandant ăn chặn từ nguồn cung thực phẩm của trại. Y biết những lái buôn quan tâm đến hàng thửa từ xưởng kim hoàn nơi những thợ tù[2] như Wulkan làm việc. Cả ổ nhà Chilowicz khiến gã lo âu: Marysia Chilowicz, được ân huệ ăn theo chồng; Mietek Finkelstein, bạn làm ăn của Chilowicz; chị gái y, bà Ferber, và chồng. Nếu Płaszów có tồn tại quý tộc thì đó chính là nhà Chilowicz. Họ có quyền uy với các tù nhân, nhưng thông tin của họ là con dao hai lưỡi - họ biết về Amon cũng rõ như về một tay thợ máy khốn khổ tại nhà máy của Madritsch. Khi Płaszów đóng cửa, nếu bị chuyển tới trại khác, Amon biết họ sẵn sàng đánh đổi thông tin về chuyện làm ăn phi pháp của gã ngay khi bị nguy hiểm. Không khéo ngay khi bắt đầu đói ăn.

Tất nhiên, Chilowicz cũng bồn chồn, và Amon có thể cảm nhận từ y nỗi hoài nghi rằng mình sẽ không được phép rời Płaszów. Amon lợi dụng ngay tâm lý ấy làm mồi nhử. Gã cho gọi Sowinski, viên trợ lý SS gốc gác từ vùng núi Tatras của Czechoslovakia, lên văn phòng. Sowinski sẽ tiếp cận Chilowicz và gợi ý giúp y bỏ trốn. Amon chắc rằng Chilowicz sẽ hăm hở cắn câu.

Sowinski buông câu rất đạt. Y bảo Chilowicz rằng y có thể đưa cả nhà họ trốn trại trên một chiếc xe tải lớn chạy củixăng. Ở chế độ chạy xăng có thể xếp sáu người vào lò đốt củi.

Chilowicz lập tức bị thu hút. Tất nhiên Sowinski cần liên hệ với bạn bè bên ngoài, để chuẩn bị sẵn xe. Sowinski sẽ đưa cả nhóm đến điểm hẹn bằng xe tải. Chilowicz sẵn sàng thanh toán bằng kim cương. Nhưng, Chilowicz nói, để bày tỏ lòng thành, Sowinski phải kiếm cho y vũ khí.

Sowinski báo cáo viên Commandant, và Amon đưa cho y một khẩu súng lục cỡ .38 đã mài cụt kim hỏa. Chilowicz dĩ nhiên không có cả nhu cầu lẫn cơ hội để bắn thử. Nhưng sau này Amon sẽ có thể cam đoan với cả Koppe và Oranienburg gã đã phát hiện ra tên tù này mang vũ khí.

Vào một Chủ nhật giữa tháng Tám, Sowinski hẹn cả nhà Chilowicz trong kho chứa vật liệu xây dựng, rồi giấu họ vào xe tải. Tiếp đó, y theo đường Jerozolimska lái ra cổng. Khi đã qua các thủ tục theo thông lệ, cỗ xe sẽ lăn bánh ra ngoại ô. Nấp trong lò, huyết quản năm kẻ đào tẩu phập phồng, sôi sục niềm hy vọng khôn kham là bỏ Amon lại sau.

Tuy nhiên, Amon, Amthor và Hujar, cùng tên lính Ukraine Ivan Scharujew đã chờ sẵn ở cổng. Chúng lục soát một cách nhẹ nhàng. Với nụ cười nửa miệng, nhóm SS thong thả tra xét thùng xe nhưng dành cái lò lại sau cùng. Chúng vờ kinh ngạc khi tìm ra nhà Chilowicz khốn khổ xếp lớp chật ních ở trong. Ngay khi Chilowicz bị lôi ra, Amon liền “phát hiện” thấy khẩu súng trái phép giấu trong ủng. Túi y nhét đầy kim cương, được hối lộ từ những tù nhân khốn cùng trong trại.

Đúng ngày nghỉ, tù nhân nghe tin Chilowicz bị kết án ngay ngoài cổng. Tin ấy làm tất cả kinh hãi và hoang mang không khác gì cái đêm năm ngoái khi Symche Spira và nhóm OD của y bị hành quyết. Không tù nhân nào luận giải nổi thế thì số phận của mình sẽ ra sao.

Nhà Chilowicz lần lượt bị xử tử bằng súng lục. Amon, da vàng ệch vì bệnh gan, và ở đỉnh cao của sự béo phì, khò khè như một ông bác già, kề súng vào cổ Chilowicz. Chúng trưng xác chết trên Appellplatz, treo lên ngực họ dòng chữ: KẺ NÀO PHẠM PHÁP, HÃY CHỜ ĐỢI CÁI CHẾT TƯƠNG TỰ.

Đó, dĩ nhiên, không phải là bài học đạo đức mà các tù nhân Płaszów rút ra từ cảnh ấy.

*

Amon dành cả buổi chiều soạn hai báo cáo dài, một gửi Koppe, một gửi Cục D của tướng Glücks, giải trình việc gã đã bảo toàn Płaszów khỏi một cuộc nội loạn ngay từ trứng nước, bằng cách xử tử những kẻ đầu sỏ sau khi bắt quả tang chúng đang đào tẩu khỏi trại. Mãi đến mười một giờ tối gã mới xong bản thảo. Frau Kochmann chậm chạp không thích hợp với công việc muộn như vậy, nên viên Commandant cho gọi Mietek Pemper từ lán lên. Ở phòng khách, Amon bình thản tuyên bố gã tin anh đã câu kết với Chilowicz âm mưu bỏ trốn. Pemper sững sờ không biết trả lời thế nào. Nhìn quanh quất tìm ý tưởng, anh thấy ống quần mình tuột chỉ. Quần áo như này làm sao tôi sống sót ngoài ấy được? anh hỏi.

Sự cân bằng của nỗi tuyệt vọng thành khẩn từ câu trả lời của anh làm Amon thỏa mãn. Gã nói anh ngồi xuống, chỉ dẫn anh cách bố cục và đánh số trang. Những đầu ngón tay hình chày của gã gõ lên giấy. “Ta muốn một thành phẩm hạng nhất.” Anh tự nhủ, Thế là xong - ta có thể chết ngay vì tội trốn trại, hoặc chết sau vì chứng kiến hành vi bao che sự thật này của Amon.

Khi Pemper rời tư dinh của Goeth với bản thảo trong tay, gã theo anh ra hiên, dặn với theo lần cuối. “Khi gõ danh sách những kẻ phản loạn,” Amon hòa nhã, “nhớ để trống một dòng trên chữ ký cho một cái tên nữa.”

Pemper gật đầu, kín kẽ như một thư ký chuyên nghiệp. Anh đứng lại chỉ nửa giây, cố vắt óc tìm một câu trả lời lanh lẹ với hy vọng đảo ngược quyết định của Amon về dòng bỏ trống. Đó là để cho anh. Mietek Pemper. Trong cái tĩnh lặng oi bức đầy oán hận của tối Chủ nhật trên phố Jerozolimska, óc anh chẳng nghĩ ra gì khả dĩ.

“Vâng, Herr Commandant,” Pemper đáp.

Khi lập cập đi trên con đường tới tòa nhà quản trị, Pemper chợt nhớ lá thư Amon giao anh đánh máy đầu hè. Đấy là thư gửi bố gã, chủ nhà xuất bản ở Vienna, chứa đựng sự quan tâm đầy hiếu đễ với căn bệnh dị ứng hành hạ ông cụ hồi mùa xuân. Gã hy vọng bệnh cụ đã dứt hẳn. Lý do khiến Pemper nhớ riêng thư ấy giữa vô vàn thư khác là vì nửa tiếng trước khi anh bị gọi lên đánh máy, viên Commandant vừa lôi một nhân viên sắp xếp hồ sơ ra ngoài xử tử. Đặt cạnh nhau, lá thư và vụ hành quyết cho Pemper thấy, với Amon, sát nhân với dị ứng là hai chuyện ngang nhau. Và nếu gã dặn tay nhân viên tốc ký dễ bảo để trống một dòng cho tên mình, thì tất nhiên anh ta sẽ làm vậy.

Pemper ngồi trước máy chữ hơn một tiếng đồng hồ, và rốt cuộc cũng để trống một dòng cho mình. Không làm vậy còn dễ đột tử hơn. Gần đây bạn bè Stern đồn nhau rằng Schindler đang tính chuyện di chuyển nhân công, một kế hoạch giải cứu nào đấy, nhưng đêm nay tin đồn từ Zablocie đâu còn nghĩa lý gì. Mietek gõ; Mietek bỏ trống ở mỗi báo cáo một dòng cho cái chết của mình. Và hết thảy ký ức về các bản sao tội ác của viên Commandant mà anh dày công ghi nhớ - tất cả đã bị chỗ trống mà anh để lại biến thành vô nghĩa.

Khi cả hai bản thảo đã hoàn hảo, anh trở lại biệt thự. Amon bắt anh đứng chờ bên ô cửa sổ kiểu Pháp trong khi gã đọc lại. Pemper tự hỏi liệu trên xác anh sẽ có mấy dòng chữ hùng hồn: “TIÊU ĐỜI BÈ LŨ DO THÁI BOLSHEVIK!”

Cuối cùng Amon xuất hiện ở cửa sổ. “Ngươi về ngủ được rồi,” gã nói.

“Herr Commandant?”

“Ta nói, ngươi về ngủ được rồi.”

Pemper rút lui. Chân anh đi không vững nữa. Sau những gì anh thấy, Amon không thể để anh sống. Nhưng có lẽ viên Commandant cho rằng giết anh sau sẽ thú hơn. Trước mắt, sống được một ngày cũng là sống.

Chỗ trống ấy, hóa ra, là cho một tù nhân lớn tuổi, vì khờ khạo giao dịch với những kẻ như John và Hujar, đã lộ chuyện mình có một mớ kim cương giấu đâu đó ngoài trại. Trong khi Mietek chìm vào giấc ngủ của kẻ được hoãn thi hành án, Amon gọi ông cụ lên, bắt khai chỗ giấu kim cương để đổi lấy tính mạng, được chỉ chỗ, và, tất nhiên, hạ sát ông ta rồi điền tên vào báo cáo gửi Koppe và Oranienburg - trong đó khiêm nhường tự nhận đã dập tắt bạo loạn khi vừa nhen nhóm.

❀ ❀ ❀

[1] KL (hoặc KZ) là chữ viết tắt của Konzentrationslager - Trại Tập trung.

[2] Nguyên văn: Intern, vừa có nghĩa là thợ học việc, vừa có nghĩa là tù nhân.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.