Chính vào lúc Oskar Schindler đang ngồi tàu hàng trở về từ Budapest, nơi ông dự đoán ghetto sẽ sớm phải đóng cửa, một Untersturmführer SS là Amon Goeth cũng đang trên đường từ Lublin đến để thực thi việc giải thể này, và tiếp quản hệ quả của nó là Trại Lao động Cưỡng bức (Zwangsarbeitslager) tại Płaszów. Goeth trẻ hơn Schindler độ tám tháng, và điểm tương đồng giữa hai người không chỉ dừng lại ở năm sinh. Cũng như Oskar, gã sinh ra trong một gia đình Công giáo nhưng đã thôi đi nhà thờ từ 1938, khi cuộc hôn nhân đầu tiên đổ vỡ. Cũng như Oskar, gã tốt nghiệp trung học hệ Realgymnasium[1] - chuyên kỹ thuật, vật lý, toán. Gã, do vậy, là người thực tế, không phải nhà tư tưởng, nhưng tự xem mình là triết gia.
Là người Vienna, gã gia nhập Quốc xã từ sớm, năm 1930. Khi Cộng hòa Áo quan ngại và ra lệnh cấm đảng này năm 1933, gã đã là thành viên SS, lực lượng an ninh của đảng. Sau thời gian rút vào bí mật, gã tái xuất ở Vienna sau sự kiện Anschluss[2] năm 1938, trong bộ đồng phục hạ sĩ quan SS. Đến 1940, gã được thăng hàm Oberscharführer và năm 1941 có vinh dự đứng vào hàng ngũ sĩ quan, điều cực khó đạt được trong SS nếu so với Wehrmacht. Sau khóa đào tạo về chiến thuật bộ binh, gã được giao chỉ huy Sonderkommando trong các Aktion ở ghetto đông đúc của Lublin và, nhờ màn trình diễn ở đây, có vinh dự, được giao giải thể Cracow.
Điểm chung giữa Untersturmführer Amon Goeth, người khi ấy đang ngồi chuyến tàu đặc biệt từ Lublin tới Cracow để chỉ huy lực lượng Sonderkommando dày dạn kinh nghiệm, với Oskar không dừng lại ở năm sinh, tôn giáo và nết mê rượu. Gã có khuôn mặt sáng sủa, dễ coi, hơi dài hơn mặt Schindler. Tay gã, tuy to và cơ bắp, nhưng ngón lại thon dài. Gã rất thương bọn trẻ, những đứa con từ cuộc hôn nhân thứ hai, mà vì đi lính xa nhà, ba năm nay gã không gặp mặt. Như để bù đắp, đôi khi gã quan tâm săn sóc con các sĩ quan khác. Gã đã có thể là một người tình đa cảm, nhưng dù giống Oskar ở nhu cầu tình dục như hổ báo, khẩu vị gã phá cách hơn, đôi khi có cả đồng đội trong SS, còn thường là bạo hành phụ nữ. Cả hai người vợ cũ đều có thể xác nhận một khi ngọn lửa đam mê buổi đầu đã tắt, gã sẽ trở nên vũ phu. Gã tự coi mình là người nhạy cảm, và nếp nhà gã chứng minh điều đó. Cha và ông gã là nhà in và đóng sách về quân sự và lịch sử kinh tế, và bản thân gã khi khai giấy tờ vẫn ghi mình là Literat: con người chủ nghĩa. Và dù ở thời điểm này, gã sẽ nói mình mong đợi được chỉ huy chiến dịch giải thể - rằng đó là cơ hội lớn trong đời binh nghiệp, đem đến cơ hội thăng tiến - kỳ thực gã cho rằng việc tham gia những Chiến dịch Đặc biệt đã ảnh hưởng tới dòng năng lượng thần kinh của mình. Gã bị chứng mất ngủ hành hạ đã hai năm, và nếu được theo ý mình, thì gã sẽ thức tới ba bốn giờ rồi ngủ nướng vào buổi sáng. Gã đã thành bợm nhậu và tin rằng tửu lượng của mình bây giờ vượt xa thời trẻ. Giống như Oskar, gã chẳng bao giờ váng đầu sau cơn say dù rất đáng bị. Gã cảm ơn hai quả thận cần cù của mình vì ân huệ đó.
Mệnh lệnh giao phó cho gã nhiệm vụ tiêu diệt ghetto và làm chúa trại Płaszów đề ngày 12 tháng Hai năm 1943. Gã hy vọng sau khi tham khảo với các hạ sĩ quan cốt cán, với Wilhelm Kunde, chỉ huy đội lính gác SS của ghetto, và với Willi Haase, cấp phó của Scherner, có thể triển khai thanh trừng trong vòng một tháng kể từ ngày nhận lệnh.
Commandant Goeth đến ga Trung tâm trong sự tiếp đón của đích thân Kunde và viên sĩ quan SS trẻ tuổi, cao lớn Horst Pilarzik, người tạm thời đang phụ trách các trại lao động Prokocim và Wieliczka. Họ nhồi lên băng sau chiếc Mercesdes, rồi đi thị sát một vòng quanh ghetto và địa điểm xây trại mới. Trời rét buốt, và tuyết bắt đầu rơi khi họ qua sông Vistula. Untersturmführer Goeth lấy làm ưng bụng vì một tợp rượu từ bình schnapp Pilarzik đem theo. Họ đi qua cánh cổng nhái kiểu Đông phương và xuôi đường tàu điện tại Lwówska, con phố xẻ ghetto làm hai nửa băng giá. Tay Kunde lanh lợi, trước khi nhập ngũ là nhân viên sở thuế và thành thạo kỹ năng báo cáo cấp trên, phác họa ngắn gọn về ghetto. Phần bên trái là Ghetto B, gã nói. Cư dân ở đây, độ hai ngàn người, đã sống sót từ các Aktion trước, hoặc là lao động trong các ngành. Nhưng gần đây loại thẻ căn cước mới đã được lưu hành với ký hiệu viết tắt phù hợp - W cho người phục vụ quân đội, Z cho nhân viên dân sự, và R cho lao động các ngành nghề thiết yếu. Cư dân Ghetto B không được nhận thẻ mới này, và sẽ bị đưa đi Sonderbehandlung (Đối xử Đặc biệt). Muốn thanh lọc ghetto, nên bắt đầu từ khu này, dù lựa chọn chiến thuật nào hoàn toàn là do Herr Commandant quyết định.
Nửa lớn hơn của ghetto nằm bên phải và có khoảng mười ngàn cư dân. Đây tất nhiên sẽ là nguồn lao động nòng cốt cho các nhà máy ở trại Płaszów. Dự kiến các doanh nhân và quản lý người Đức - Bosch, Madritsch, Beckmann, lẫn tay thương gia gốc Sudetenland Oskar Schindler - sẽ muốn chuyển toàn bộ hoặc một phần hoạt động từ thành phố ra đây. Ngoài ra, có một nhà máy sản xuất cáp cách địa điểm dự kiến của trại khoảng tám trăm mét, và công nhân sẽ được áp giải đến đó hằng ngày.
Không biết Herr Commandant, Kunde hỏi, có muốn đi thêm vài cây nữa đến cuối đường và thị sát luôn địa điểm dựng trại không?
Có chứ, Amon đáp, như thế hay đấy.
Họ rẽ khỏi đường cao tốc khi tới sân nhà máy cáp, nơi tuyết phủ kín những cuộn cáp khổng lồ, đánh dấu điểm khởi đầu của phố Jerozolimska. Amon Goeth bắt gặp vài nhóm phụ nữ quấn khăn đang gò lưng kéo từng mảng lều - một bức vách, một đoạn mái - qua đường cao tốc, đi lên Jerozolimska từ hướng ga Cracow-Płaszów. Những phụ nữ này là ở trại Prokocim, Pilarzik giải thích. Khi Płaszów hoàn thành, tất nhiên Prokocim sẽ giải thể, và những lao động nữ này sẽ thuộc quyền quản lý của Herr Commandant.
Goeth ước lượng khoảng cách bọn họ phải vận chuyển bộ khung nhà phải độ ba phần tư cây số. “Hoàn toàn lên dốc,” Kunde nói, nghiêng đầu sang vai trái rồi vai phải, như muốn nói, để trừng phạt thì thế là đạt yêu cầu, nhưng lại làm chậm tiến độ thi công.
Trại mới sẽ cần có đường ray xe lửa, Untersturmführer Goeth nói. Gã sẽ đặt vấn đề với Ostbahn.
Bên phải trên đường xe chạy là một giáo đường Do Thái, khu nhà tang lễ, và bức tường đã sập một nửa, phô ra hàng bia mộ như hàm răng dữ tợn trong cái miệng rộng ngoác của mùa đông. Cho đến lúc này, một phần khu trại vẫn là nghĩa trang Do Thái. “Khá quy mô,” Wilhelm Kunde nói. Herr Commandant buông ra một câu đùa sẽ thành cửa miệng trong thời gian gã ở Płaszów. “Thế thì bọn chúng đỡ phải chôn xa.”
Bên phải có một ngôi nhà thích hợp làm nơi ở tạm cho viên Commandant, và một tòa nhà lớn mới xây làm trung tâm quản trị. Nhà tang lễ, đã bị đánh thuốc nổ một phần, sẽ thành chuồng ngựa. Kunde nói từ đây họ có thể nhìn thấy hai mỏ đá nằm trong khuôn viên trại. Một ở chân thung lũng, một ở trên đồi phía sau giáo đường. Herr Commandant chắc cũng nhận thấy họ đang đặt đường ray cho xe goòng chở đá. Khi thời tiết khá lên, việc thi công đường ray sẽ tiếp tục.
Xe đi tiếp đến góc Đông Nam của khu trại dự kiến. Một con đường mòn tuyết phủ, nhưng xe vẫn đi được, dẫn họ đi dọc đường chân trời, kết thúc tại một công sự cũ của quân Áo, một gò đất tròn bao quanh một vùng lõm rộng và sâu. Với dân pháo binh thì đó là một điểm đồn trú quan trọng, có thể ngắm bắn trực diện xuống con đường từ Nga sang. Còn với Untersturmführer Goeth thì đây là nơi thích hợp cho các hình phạt có tính chất răn đe.
Từ đây, họ có thể quan sát toàn cảnh khu trại. Đây là một dải đất đồng quê, được điểm xuyết bởi nghĩa trang Do Thái, nằm kẹp giữa hai quả đồi. Dưới thời tiết này, nơi đây như hai trang của một cuốn sách gần như trống trơn, mở rộng và đặt nằm ngang trước mắt người quan sát từ trên cao điểm. Một tòa nhà nông thôn bằng đá xám chặn lối vào thung lũng, và phía sau, dọc triền đồi và giữa vài căn lán đã hoàn thành, là từng toán phụ nữ đang lao động, như những nhúm nốt nhạc đen sì, dưới ánh hàn quang tối tăm kỳ dị của đêm tuyết rơi. Xuất hiện từ những lối đi băng giá đằng Jerozolimska, họ hì hục tiến lên triền đồi trắng xóa dưới sự đốc thúc của lính gác Ukraine và hạ đặt từng phần khung nhà theo chỉ dẫn của những kỹ sư SS mặc thường phục và đội mũ phớt vành cong.
Tiến độ công việc là một điểm hạn chế, Untersturmführer Goeth nhận xét. Cư dân ghetto tất nhiên không thể chuyển về đây chừng nào lán chưa dựng xong, tháp canh và hàng rào chưa hoàn thành. Gã không có gì phàn nàn về tiến độ của các tù nhân trên đồi, gã thú thật. Kỳ thực gã ngấm ngầm ấn tượng vì trong một ngày rét buốt, đã muộn thế rồi mà các kỹ sư SS lẫn lĩnh gác Ukraine vẫn không để những tơ tưởng về bữa tối và chăn ấm nệm êm làm chậm tốc độ thi công.
Horst Pilarzik cam đoan rằng bề ngoài vậy thôi nhưng thật ra sắp hoàn thành rồi: đất đã san nền, móng đã đào xong bất chấp trời lạnh, và một số lượng lớn các cấu phần lắp sẵn đã được chuyển từ ga đến. Herr Untersturmführer có thể tham khảo các doanh nghiệp vào ngày mai - một cuộc họp đã được bố trí lúc mười giờ sáng. Các biện pháp thi công hiện đại kết hợp với nguồn cung lao động dồi dào đảm bảo rằng nơi này có thể được hoàn thiện gần như chỉ sau một đêm, nếu thời tiết cho phép.
Pilarzik ngỡ rằng Goeth có nguy cơ nhụt chí. Kỳ thực, Amon đang phấn khích. Từ những gì vừa thấy, gã có thể hình dung ra hình hài cuối cùng của nơi này. Gã cũng chẳng lo chuyện hàng rào. Hàng rào để làm yên lòng tù nhân là chính, giá trị ngăn ngừa chỉ là phụ. Bởi sau khi phương thức giải thể do SS xác lập được áp dụng cho ghetto Podgórze, tất cả sẽ xem khu lán ở Płaszów như một ân huệ. Cả những ai có giấy tờ Aryan cũng sẽ bò vào đây, tìm kiếm một chỗ ngủ chênh vênh trên thanh xà gỗ vẫn còn xanh, đóng đầy sương giá. Với đa số, rào thép gai chỉ là một đạo cụ cần thiết để họ tự trấn an rằng mình đang là tù nhân bất đắc dĩ.
*
Cuộc gặp các chủ nhà máy và Treuhänder sở tại diễn ra tại văn phòng của Julian Scherner ở trung tâm Cracow vào sáng sớm hôm sau, Amon Goeth xuất hiện với nụ cười thân ái, trong trang phục Waffen SS mới may, được thiết kế vừa vặn với khổ người đồ sộ của gã, khí thế áp đảo cả phòng. Gã tự tin có thể thuốc được các doanh nghiệp độc lập như Bosch và Madritsch và Schindler chuyển lao động Do Thái của họ vào sau rào thép gai. Bên cạnh đó, kết quả điều tra nghề nghiệp của ghetto cho thấy Płaszów sẽ là chỗ làm ăn được. Có thợ kim hoàn, thợ bọc ghế, thợ may, những nhân lực có thể được trưng dụng vào các áp phe đặc biệt theo chỉ đạo của Commandant, đáp ứng các đơn đặt hàng của SS, của Wehrmacht, của giới quan chức Đức giàu có. Sẽ có xưởng may của Madritsch, nhà máy tráng men của Schindler, nhà máy luyện kim (dự kiến), một nhà máy bàn chải, một cơ sở tái chế quân phục Wehrmacht cũ, hư hỏng, ố bẩn từ Mặt trận Nga, thêm một cơ sở tái chế quần áo Do Thái từ các ghetto cho các gia đình trúng bom ở quê nhà. Bằng kinh nghiệm hồi ở kho trang sức và lông thú của SS tại Lublin - chứng kiến thượng cấp làm ăn và bản thân được ăn chia đầy đủ - gã biết mình có thể chờ đợi một khoản hoa hồng từ mỗi doanh nghiệp nhà tù này. Gã đã đạt đến điểm may mắn trong sự nghiệp, khi chức trách và cơ hội làm giàu đồng nhất với nhau. Tay trùm SS mê tiệc tùng, Julian Scherner, trong bữa tối qua, đã chia sẻ với Amon rằng Płaszów sẽ là cơ hội tuyệt vời cho một sĩ quan trẻ - cho cả hai người họ - ra sao.
Scherner khai mạc cuộc họp. Y trịnh trọng trình bày về “lao động tập trung”, như thể đó là một quy tắc kinh tế vừa được giới quan chức SS thai nghén. Quý vị sẽ có nguồn nhân lực tại chỗ, Scherner nói. Công tác duy tu bảo dưỡng hoàn toàn miễn phí, và cũng không mất tiền thuê đất. Chiều nay mời quý vị đi khảo sát địa điểm ở Płaszów.
Viên Commandant mới được giới thiệu với quan khách. Gã bày tỏ niềm vui mừng được cộng tác với các doanh nhân đã nổi tiếng từ lâu với những đóng góp giá trị cho công cuộc chiến tranh.
Amon chỉ trên bản đồ vị trí của trại và khu vực dành riêng cho các nhà máy. Nó ở ngay cạnh trại tù nam; tù nhân nữ - gã nói, với nụ cười tự nhiên và khá dễ mến - sẽ phải đi xa hơn một chút, xuống đồi khoảng một hai trăm mét, để đến nhà máy. Gã cam đoan rằng nhiệm vụ chính của mình là đảm bảo trại hoạt động suôn sẻ, và không hề có ý định can thiệp vào chính sách hay thay đổi quyền tự quản hiện thời của mỗi nhà máy. Mệnh lệnh của gã, như Oberführer Scherner có thể xác nhận, đã nghiêm cấm, bằng rất nhiều câu chữ, mọi hình thức xâm phạm như vậy. Có điều, Oberfilhrer đây đã rất đúng khi chỉ ra lợi ích chung của việc chuyên sản xuất vào phạm vi trại. Các chủ nhà máy không phải trả tiền thuê đất, còn gã, Commandant ở đây, không phải bố trí lính gác áp giải tù nhân vào thành phố và ngược lại. Chắc quý vị cũng hiểu chặng đường dài cộng thêm sự thù địch của dân Ba Lan với một hàng người Do Thái sẽ bào mòn giá trị của công nhân.
Trong suốt bài phát biểu, Commandant Goeth thường xuyên liếc nhìn Madritsch và Schindler, hai người gã đặc biệt muốn thuyết phục. Gã biết có thể trông cậy vào sự tư vấn và am hiểu địa bàn của Bosch. Nhưng Herr Schindler có một xưởng sản xuất đạn dược, quy mô nhỏ và vẫn đang trong giai đoạn xây dựng. Tuy nhiên, nếu được chuyển vào, nó sẽ nâng tầm quan trọng của Płaszów lên đáng kể trong mắt Tổng cục Quân giới.
Herr Madritsch lắng nghe với một cái nhíu mày trầm tư, còn Herr Schindler quan sát diễn giả với nụ cười phục tùng nửa miệng. Bằng bản năng Commandant Goeth đã biết từ trước khi ngừng lời, rằng Madritsch sẽ biết điều dọn vào, còn Schindler sẽ từ chối. Từ hai quyết định riêng rẽ này, thật khó phán xét ai là người muốn bảo bọc lao động Do Thái của mình hơn - Madritsch, người muốn vào Płaszów với họ, hay Schindler, người muốn giữ họ lại Emalia với mình.
Oskar Schindler, vẫn mang vẻ mặt nhẫn nại và nhiệt tình, cùng cả nhóm đi thị sát khu trại. Płaszów nay đã thành hình - thời tiết khá lên cho phép họ lắp ráp các lán trại; đất tan băng cho phép đào hố xí và chôn cột. Một nhà thầu Ba Lan đã lắp đặt hàng cây số hàng rào ngoại vi. Những tháp canh đế rộng mọc lên theo đường chân trời tới tận Cracow, ở cửa thung lũng dưới đường Wieliczka, ở đầu kia của trại, và cả ở đây, trên ngọn đồi phía Đông nơi nhóm quan chức, dưới bóng của lô cốt thời Áo, quan sát tiến độ nhanh chóng của công trình mới này. Dạt về bên phải, Oskar nhận thấy, là những nữ tù đang chật vật trên những con đường ngập bùn tiến về phía đường sắt, nghiêng ngả khiêng theo những khối vật liệu nặng nề. Bên dưới, từ chỗ thấp nhất của thung lũng đến tít tận đầu bên kia, là dãy lán trại mới được san nền, do các tù nhân nam lắp đặt. Họ dựng và lắp và gõ búa với một vẻ nhiệt tình mà ở khoảng cách này nhìn như thể là tự nguyện.
Tại thửa đất đẹp đẽ, bằng phẳng nhất dưới chân đoàn khảo sát, một số nhà gỗ dài đã sẵn sàng đón các nhà xưởng. Họ có thể đổ bê tông nền nếu cần lắp đặt các máy móc siêu trọng. Việc vận chuyển toàn bộ máy móc sẽ do SS lo liệu. Phải thừa nhận là con đường dẫn vào đây chỉ hơn đường làng chút ít, nhưng SS đã đặt vấn đề với công ty Klug để xây dựng một phố trung tâm cho khu trại, và Ostbahn đã cam kết sẽ lắp đường ray đến cổng trại, và đến mỏ đá bên tay phải. Đá vôi từ mỏ và những tấm bia lấy từ nghĩa trang, theo lời Goeth là bị “dân Ba Lan phá hoại” sẽ được đập nhỏ để lát đường trong trại. Quý vị khỏi lo chuyện đường sá, Goeth nói, bởi gã dự kiến duy trì thường trực một đội thợ mạnh chuyên khai thác đá và lát đường.
Họ đã lát một đường ray nhỏ cho xe goòng chở đá, chạy từ mỏ qua Tòa nhà Quản trị và dãy nhà lớn bằng đá đang xây làm chỗ ở cho lính SS và Ukraine. Từng xe đá, mỗi xe nặng sáu tấn, do phụ nữ tải lên, khoảng ba mươi lăm, bốn mươi người một đội, kéo dây cáp gắn hai bên thành xe, nhằm bù lại cái gập ghềnh của đường ray. Những ai vấp ngã đều bị xéo lên, hoặc lăn ra ngoài, vì cỗ máy này có động lượng tự thân và không cá thể nào có thể cưỡng lại nó. Chứng kiến cảnh tượng âm độc đầy màu sắc Ai Cập cổ đại này, Oskar cảm thấy một cơn buồn nôn, cái cảm giác huyết mạch sôi lên như lần ông đứng trên đồi, nhìn xuống phố Krakusa. Goeth ngỡ rằng các doanh nhân này là một nhóm khán giả an toàn, rằng họ đều là chỗ tri âm với gã. Gã chẳng hề hổ thẹn trước cảnh lao động khổ sai tàn nhẫn bên dưới. Câu hỏi ở đây, cũng như ở phố Krakusa, là: Điều gì có thể làm SS, có thể làm Amon hổ thẹn?
Sự nhiệt tình của tốp thợ, cho dù trong mắt một người hiểu rõ nội tình như Oskar, vẫn có vẻ ngoài của những người chồng đang nỗ lực dựng nhà cho vợ. Nhưng mặc dù tin đồn chưa tới tai Oskar, sáng hôm đó Amon vừa thực thi một vụ hành quyết nhanh gọn trước mắt công nhân, nên giờ tất cả đã thấm nhuần tính chất công việc của mình. Sau cuộc họp đầu giờ sáng với các kỹ sư, Amon đi bộ dọc Jerozolimska, và rẽ vào dãy nhà của SS, nơi công việc nằm dưới sự giám sát của một hạ sĩ quan mẫn cán, sắp được đề bạt lên hàng ngũ sĩ quan, tên là Albert Hujar. Hujar tiến đến và báo cáo. Một phần móng vừa bị sập, y nói, mặt đỏ bừng. Cùng lúc đó, Amon để ý thấy một cô gái đi lại ở công trình đang xây dở, nói chuyện với các nhóm công nhân và chỉ đạo. Ai đấy? gã hỏi Hujar. Đấy à một nữ tù tên Diana Reiter, Hujar trả lời, một kiến trúc sư được phân công xây dựng khu nhà này. Cô ả khẳng định rằng móng đào như vậy là sai quy cách, và muốn bới hết đá và xi măng ở khu vực này lên làm lại từ đầu.
Từ sắc mặt Hujar, Goeth có thể nhìn ra y vừa tranh luận với cô gái một trận ra trò. Quả thực y đuối lý quá đã quát cô, “Mày đang xây trại lính chứ đéo phải khách sạn Europa, nhé!”
Amon nở nụ cười nửa miệng. Chúng ta sẽ không tranh luận với lũ này, gã nói, như thể một lời hứa. Gọi con bé ra đây.
Từ dáng đi của cô gái, Amon có thể nhận ra nét thanh lịch giả tạo mà bậc cha mẹ trung lưu đã vun đắp cho cô, phong thái Âu châu họ đã thẩm thấu vào cô, khi gửi cô - do xã hội Ba Lan trung thực không nhận cô vào trường đại học - đến Vienna hay Milan để cho cô nghề nghiệp, và một lớp sơn bảo vệ cường lực. Cô tiến lại gần gã như thể đẳng cấp của gã và cô sẽ gắn kết họ trong trận chiến chống lại lũ hạ sĩ quan ngu dốt và chuyên môn kém cỏi của tay kỹ sư SS giám sát công trình. Cô nào biết mình chính là kẻ gã ghét nhất - loại người tưởng rằng, bất chấp bộ quân phục SS của gã, bất chấp những công trình đang mọc lên ở đây, người ta không nhận ra chúng là Do Thái.
“Mi vừa có dịp tranh cãi với Oberscharführer Hujar,” Goeth nói, như một sự thực hiển nhiên. Cô quả quyết gật đầu. Herr Commandant sẽ hiểu, cái gật đầu ám chỉ, dù gã ngốc Hujar kia không thể. Phải đào lại toàn bộ móng, cô hăng hái giải trình. Tất nhiên, Amon biết rõ “bọn chúng”, chúng muốn kéo dài công việc, qua đó đảm bảo an toàn cho đội thợ trong thời gian thi công. Nếu không đào lại, cô nói, ít nhất phía Nam khu nhà sẽ bị lún. Thậm chí bị sập.
Cô tiếp tục lý luận, còn Amon gật gù và coi như cô nói dối. Nguyên tắc đầu tiên là không bao giờ tin lời một tên chuyên gia Do Thái. Bọn chúng được đúc cùng một khuôn với Marx, tác giả nhiều học thuyết nhằm vào sự bền vững của chính quyền, và với Freud, kẻ công kích sự lành mạnh của lý trí Aryan. Amon cảm thấy lập luận của cô gái đe dọa nhân phẩm của chính gã. Gã bèn gọi Hujar. Viên hạ sĩ quan thấp thỏm quay lại. Y nghĩ sếp sẽ bắt mình nghe lời cô gái. Cô cũng vậy. Bắn nó, Amon bảo Hujar. Tất nhiên, y phải mất một lúc để tiêu hóa mệnh lệnh ấy. Bắn đi, Amon nhắc lại.
Hujar nắm khuỷu tay cô gái và định dắt cô ra chỗ khuất.
Ở đây! Amon nói. Bắn ngay ở đây! Trước mặt ta, Amon nói.
Hujar là kẻ biết việc. Y nắm khuỷu tay cô gái, hơi đẩy cô ra đằng trước, rút khẩu Mauser trong bao, và bắn vào gáy cô.
Tiếng súng khiến tất cả những người có mặt sững sờ, có lẽ chỉ trừ những kẻ hành quyết và bản thân Diana Reiter đang hấp hối. Cô khuỵu xuống rồi ngước lên, một lần duy nhất. Như thế chưa đủ đâu, cô nói. Vẻ hiểu biết trong mắt cô khiến Amon vừa sợ hãi, vừa tự tin, vừa hưng phấn. Gã không hề biết và cũng sẽ không tin rằng những phản ứng ấy đều có tên gọi trong y học. Kỳ thực, gã tin rằng sự thăng hoa này là phần thưởng tất yếu sau một hành động thực thi công lý về chính trị, chủng tộc và đạo đức. Dù vậy, gã vẫn phải trả giá, vì tối đến cảm giác tràn đầy ấy sẽ phải nhường chỗ cho nỗi trống trải lớn đến nỗi gã, để không bị thổi bay đi như một cái vỏ trấu, phải gia cố kích thước và sự vững chãi của bản thân bằng đồ ăn, rượu và đàn bà.
Ngoại trừ những vấn đề này, việc xử bắn Diana Reiter, và bác bỏ bằng cấp Tây Âu của cô, có một giá trị thực tiễn: không có thợ xây lán và làm đường nào ở Płaszów còn ảo tưởng rằng mình cần thiết cho công việc - nếu Diana Reiter còn không thể tự cứu mình bằng chuyên môn của cô, thì cơ hội duy nhất cho người khác là lao động âm thầm và ngay lập tức. Bởi thế nên những phụ nữ khiêng khung nhà từ ga Cracow-Płaszów, những đội khai thác đá, nhóm đàn ông dựng lều, tất cả đều làm việc với vẻ hăng say phù hợp với bài học họ nhận được từ vụ sát hại cô gái.
Về phần Hujar và các đồng nghiệp, chúng biết rằng từ nay hành quyết tại chỗ sẽ là tác phong hợp pháp của Płaszów.
❀ ❀ ❀
[1] Ở các nước nói tiếng Đức và một số nước khác, trường gymnasium là loại trường phổ thông dành cho các học sinh định hướng học lên cao hơn ở bậc đại học. Ở Áo các trường gymnasium chia làm ba loại: Humanistisches Gymnasium. Neusprachliches Gymnasium và Realgymnasium; trong đó trường Realgymnasium tập trung vào các môn khoa học, hai loại còn lại tập trung vào khoa học xã hội và ngôn ngữ.
[2] Tiếng Đức, nghĩa là sáp nhập. Chỉ sự kiện Đức xâm lược và sáp nhập Áo năm 1938.