Ít nhất một tù nhân Emalia bị Goldberg gạch tên để lấy chỗ cho kẻ khác - họ hàng, những người Zionist, chuyên gia, hoặc người hối lộ - sẽ đem lòng oán trách Oskar.
Năm 1963, Hội Martin Buber nhận được bức thư tội nghiệp của một cư dân New York, một cựu tù Emalia. Người này nói, tại Emalia, Oskar đã hứa giải cứu họ. Đổi lại, họ đã lao động để làm giàu cho ông. Thế nhưng cuối cùng một số lại không có tên trong danh sách. Người này coi việc bị xóa tên là một sự phản bội với cá nhân mình và - với mọi phẫn nộ của người phải vào lò lửa để trả giá cho sự dối trá của kẻ khác - quy tội cho Oskar về tất cả những gì sau đó: về Gröss-Rosen, về vách núi kinh khiếp ở Mauthausen nơi tù nhân bị ném xuống, và cuối cùng là hành trình tử thần[1] khi kết thúc chiến tranh.
Điều lạ là, bức thư bừng bừng phẫn nộ chính đáng này lại thể hiện sinh động nhất hiện thực: cuộc sống trong danh sách là khả dĩ, còn ngoài danh sách thì không nói nổi thành lời. Nhưng có lẽ sẽ không công bằng nếu kết tội Oskar về việc Goldberg lấy mận thay đào. Trong thời kỳ hỗn loạn ấy, lãnh đạo trại sẽ ký bất kỳ danh sách nào Goldberg trình lên, miễn là nó không vượt quá xa con số 1.100 Oskar được chấp thuận. Bản thân Oskar chẳng thể giám sát Goldberg từng giờ. Ban ngày ông còn phải chạy vạy đám quan chức, tối đến lại phỉnh nịnh chúng.
Chẳng hạn, ông dự kiến nhận được giấy phép vận chuyển máy Hilo và ép kim loại từ bạn bè cũ tại văn phòng của tướng Schindler, nhưng có kẻ cố tình trì hoãn thủ tục, gây khó dễ có thể làm tiêu tan ý tưởng giải cứu 1.100 tù nhân của Oskar.
Một quan chức ở Tổng cục Quân giới cho rằng số máy móc sản xuất vũ khí của Oskar là do bộ phận mua sắm Berlin cung cấp, và theo phê duyệt từ bộ phận cấp phép, chỉ được sử dụng tại Ba Lan. Cả hai cơ quan này đều chưa được thông báo về đề xuất di chuyển đến Moravia. Đây là điều bắt buộc. Sẽ phải mất một tháng để nhận giấy phép của họ. Oskar làm gì có một tháng. Cuối tháng Mười Płaszów sẽ giải thể, tất cả tù nhân sẽ đến Gröss-Rosen hoặc Auschwitz. Cuối cùng, vấn đề được giải quyết bằng những món quà quen thuộc.
Ngoài những mối bận tâm ấy, Oskar còn lo lắng về việc SS điều tra Amon. Ông nửa chờ đợi mình bị bắt giữ hoặc - và cũng chẳng khác gì - bị thẩm vấn kỹ về quan hệ với viên Commandant cũ. Ông dự trù như thế là rất tỉnh, bởi một trong những giải thích của Amon cho khoản tiền 80.000 RM tại nhà gã là, “Oskar Schindler đưa tiền để tôi nới tay cho tù nhân Do Thái.” Do vậy Oskar phải giữ liên lạc với bạn bè trên phố Pomorska để nắm được hướng đi cuộc điều tra của Cục 5.
Cuối cùng, do trại mới ở Brinnlitz sẽ đặt dưới sự giám sát tối cao của KL Gröss-Rosen, ông đã chủ động làm quen với Commandant của nơi này, Sturmbannführer Hassebroeck. Dưới sự điều hành của Hassebroeck 100.000 người sẽ chết ở Gröss-Rosen, nhưng khi trao đổi với y qua điện thoại và lái xe xuống Hạ Silesia gặp y, Oskar cảm thấy y chỉ là mối lo sau chót của mình. Giờ đây Schindler đã quen với những tên sát nhân lịch lãm và nhận thấy Hassebroeck thậm chí còn biết ơn ông vì đã mở rộng đế chế Gröss-Rosen đến Moravia. Hassebroeck quả tình xem đây là một đế chế. Y quản lý một trăm lẻ ba trại nhỏ (Brinnlitz là trại một trăm lẻ tư và, với hơn một ngàn tù nhân cùng ngành nghề kỹ thuật cao, là một sự bổ sung đáng kể). Bảy mươi tám trại của y ở Ba Lan, mười sáu ở Czechoslovakia, và ba ở Đức. Amon chưa bao giờ có trong tay miếng pho mát nào lớn thế.
Với bằng ấy ve vãn, chạy chọt, và hồ sơ giấy tờ phải lo vào tuần cuối khi Płaszów sắp giải thể, Oskar nếu có quyền thì cũng chẳng có thời gian để giám sát Goldberg. Dù gì đi nữa, ký ức của tù nhân về khu trại những ngày cuối cùng đã nhớn nhác và hỗn loạn, còn ở trung tâm Goldbert - Trùm danh sách - vẫn kiên trì bám trụ để kiếm thêm.
Bác sĩ Idek Schindel tiếp cận Goldberg để lo cho mình và hai em trai vào Brinnlitz. Goldberg không trả lời, và mãi đến tối 15 tháng Mười Schindel mới biết, khi các tù nam bị lừa lên xe gia súc, rằng họ không có tên ở trại của Schindler. Nhưng họ vẫn đứng vào hàng của Schindler. Cảnh tượng giống như bức phù điêu răn đe về Ngày Phán Quyết - những người không có dấu hợp lệ định trà trộn vào hàng con chiên ngoan đạo, và bị thiên thần báo ứng - trường hợp này là Oberscharführer Müller - phát hiện. Gã cầm roi lại gần bác sĩ, dùng cán da tát ông vào má trái, má phải, lại trái, lại phải, và cười cợt hỏi, “Mày chui vào hàng này làm gì?”
Schindel phải ở lại với nhóm tù nhân tham gia giải thể Płaszów, và sau đó đi cùng toa với một đoàn tù nữ ốm đến Auschwitz. Họ bị nhốt vào một lán ở góc Birkenau chờ chết. Thế nhưng phần lớn, bị quản giáo bỏ mặc và thoát khỏi quy trình thông thường ở đây, sẽ sống sót. Sau đó Schindel bị chuyển đến Flossenburg và cùng hai em trải qua một hành trình tử thần. Ông sống sót, dù chỉ còn da bọc xương, nhưng cậu út sẽ bị bắn chết trên đường khi chỉ còn một ngày nữa là chiến tranh kết thúc. Đây là ví dụ cho việc bản danh sách, tuy không có chút gian trá nào từ phía Oskar, nhưng với đủ gian trá từ phía Goldberg, tiếp tục trêu ngươi những người sống sót như đã từng trêu người họ vào những ngày tháng Mười tuyệt vọng ấy.
Mỗi người đều có chuyện để kể về bản danh sách. Henry Rosner đứng trong hàng của Schindler, nhưng một hạ sĩ quan nhìn thấy cây vĩ cầm và, biết Amon sẽ đòi âm nhạc nếu gã được thả về, đuổi Rosner trở lại. Rosner bèn giấu cây đàn dưới áo và kẹp am đàn vào nách. Anh xếp hàng lần nữa và lên được toa của Schindler.
Rosner là một trong những người có được lời hứa của Oskar, và do đó luôn có tên trong danh sách. Nhà Jereth cũng vậy: ông Jereth chủ nhà máy vỏ hộp và bà Chaja Jereth, được mô tả một cách lạc quan và thiếu chính xác là Metallarbeiterin - thợ luyện kim. Nhà Perlman, gương mặt kỳ cựu của Emalia, cũng có tên, nhà Levartov cũng thế. Kỳ thực, mặc dù có Goldberg, Oskar vẫn có được phần lớn những người mà ông yêu cầu, dù có một số bất ngờ. Một người thế tục như Oskar hẳn sẽ không bất ngờ khi thấy Goldberg có mặt trong số cư dân Brinnlitz.
Nhưng còn những sự bổ sung đáng hoan nghênh hơn thế. Như Poldek Pfefferberg chẳng hạn. Vô tình bị bỏ sót, kế đó bị Goldberg từ chối vì thiếu kim cương, Poldek bắn tin rằng anh cần mua vodka - đổi bằng quần áo hoặc bánh mì. Khi kiếm được rượu, anh mang đến tòa nhà cần vụ ở đường Jerozolimska, nơi Schreiber có phiên trực, để xin gã gây sức ép với Goldberg đưa tên anh với Mila vào. “Schindler,” anh nói, “sẽ ghi tên chúng tôi ngay nếu ông ấy nhớ ra.” Poldek biết rõ anh đang mặc cả tính mạng của mình. “Được.” Schreiber nhận lời. “Hai người phải có tên trong đó.” Đây là một câu đố về nhân tính khi những kẻ như Schreiber giây phút ấy không tự hỏi, nếu người này và vợ đáng cứu, sao những người khác lại không?
Sẽ tới lúc nhà Pfefferberg thấy mình xếp bên hàng người của Schindler. Cũng như họ, với sự ngỡ ngàng, là Helen Hirsch và đứa em gái mà sự sinh tồn của cô luôn là nỗi ám ảnh của Helen.
*
Nhóm tù nam trong danh sách của Schindler lên tàu ở Płaszów vào hôm Chủ nhật 15 tháng Mười. Tròn một tuần sau mới tới lượt nhóm tù nữ. Tuy tám trăm người được tách riêng khi lên tàu, và được xếp vào các toa hàng dành riêng cho công nhân của Schindler, họ được ghép chung với các toa chở 1.300 tù khác, tất cả cùng chạy đến Gröss-Rosen. Có vẻ một số đã ít nhiều chuẩn bị tinh thần sẽ phải qua Gröss-Rosen trên đường tới trại của Schindler; nhưng nhiều người khác tin rằng họ sẽ đi thẳng đến nơi. Họ sẵn sàng chịu đựng một chuyến tàu chậm tới Moravia - họ chấp nhận thực tế là sẽ phải ngồi chờ tại các ga và các đoạn tàu tránh. Họ có thể phải đợi nửa ngày để nhường đường cho các đoàn tàu ưu tiên. Tuần trước đã có tuyết đầu mùa và trời sẽ lạnh. Mỗi người được phát có ba trăm gam bánh mì cho cả chuyến đi và mỗi toa chỉ có một xô nước. Khi có nhu cầu vệ sinh, hành khách sẽ phải đi vào góc toa, còn nếu chật quá thì sẽ phải tiểu tiện và đại tiện ngay tại chỗ. Nhưng sau cùng, bất chấp mọi khổ nhục, họ sẽ nhào xuống nhà máy của Schindler. Chủ nhật sau ba trăm tù nữ sẽ lên tàu với cùng tâm thế hân hoan ấy.
Mọi người thấy hành lý của Goldberg cũng gọn nhẹ như họ. Chắc hẳn y vẫn còn có quan hệ bên ngoài Płaszów để giữ hộ kim cương. Những người vẫn nuôi hy vọng nhờ vả y giúp ông bác, đứa em, bà chị thì nhường cho y chỗ để ngồi thoải mái. Còn lại mọi người ngồi xổm, cằm tì lên đầu gối. Dolek Horowitz bế Richard sáu tuổi trong tay. Henry Rosner lấy quần áo bện thành một cái ổ trên sàn cho cậu bé lên chín Olek.
Tàu đi mất ba ngày. Đôi khi ở đoạn tàu tránh, hơi thở của họ đóng băng trên vách. Không khí hiếm hoi, nhưng khi được một hơi đầy thì lại giá buốt và hôi thối. Sau cùng, tàu dừng lại lúc chạng vạng một ngày thu thảm đạm. Cửa mở và hành khách phải nhanh nhẹn nhảy xuống như doanh nhân có cuộc hẹn. Lính SS chạy xen giữa họ, quát tháo chỉ đường, và chửi rủa họ vì hôi thối. “Cởi hết đồ ra!” đám hạ sĩ quan gầm lên. “Cởi hết để diệt trùng!” Họ xếp đống quần áo lại và trần truồng bước vào trại. Đến sáu giờ tối, họ lõa lồ xếp hàng trên Appellplatz của điểm đến khắc nghiệt này. Tuyết phủ trên cây cối; mặt sân đóng băng. Không phải trại của Schindler. Mà là Gröss-Rosen. Những người hối lộ Goldberg hằm hằm nhìn y, dọa giết, trong khi lính SS mặc áo khoác đi lại và quật vào mông những ai run rẩy ra mặt.
Chúng bắt họ đứng ngoài Appellplatz suốt đêm vì chưa có lán. Giữa sáng hôm sau, họ mới được vào trong nhà. Khi nói về mười bảy tiếng phơi mình ngoài trời, và về cái lạnh khôn tả bóp nghẹt trái tim, những người sống sót không nhắc tới cái chết nào. Có lẽ cuộc sống dưới ách SS, thậm chí cả Emalia, đã tôi luyện họ cho một đêm như thế. Tuy ấm hơn mấy đêm trước trong tuần, nó vẫn đủ sức giết người. Một số dĩ nhiên còn mải mê với viễn cảnh Brinnlitz đến nỗi quên đi cái lạnh.
Sau này, Oskar còn gặp những người đã sống sót sau khi phơi mình dưới cái lạnh còn lâu hơn thế. Chắc chắn cụ Garde, cha của Adam Garde, đã sống qua đêm ấy, và hai cậu bé Olek Rosner và Richard Horowitz cũng vậy.
Mười một giờ sáng hôm sau, họ bị xua đi tắm. Poldek Pfefferberg, chen chúc cùng mọi người, xem xét cái vòi sen trên đầu với vẻ nghi ngờ, không hiểu nước hay hơi ngạt sắp phun xuống. Là nước; nhưng trước khi có nước, một đội thợ cạo Ukraine đã ào đến, cạo sạch tóc, lông mu, lông nách họ. Anh đứng thẳng, mắt nhìn ra trước trong khi lính Ukraine hành sự với lưỡi dao cạo chưa mài. “Cùn quá,” một tù nhân phàn nàn. “Không hề” tên lính nói và liếc một nhát vào chân người tù để chứng tỏ dao còn cắt tốt.
Tắm xong, họ được phát quần áo sọc của tù nhân và tự lại trong các lán. SS bắt họ ngồi thành hàng như phu chèo thuyền, người trước ngồi giữa hai chân người sau, chân xòe ra làm chỗ dựa cho người trước nữa. Bằng cách này, hai ngàn người bị nhồi vào ba lán. Kapo[2] cầm dùi cui ngồi trên ghế dựa vào tường canh gác họ. Họ bị nêm sít nhau - mỗi tấc sàn đều chật kín người - đến nỗi mỗi lần đi vệ sinh, kể cả được kapo cho phép, đồng nghĩa với việc giẫm lên đầu lên vai bạn tù và nhận về đủ lời chửi rủa.
Giữa một trong ba căn lán là cái bếp đun xúp củ cải và nướng bánh mì. Poldek sau khi đi vệ sinh về, nhận ra người canh bếp là một hạ sĩ quan Ba Lan anh biết từ đầu chiến tranh. Anh ta cho Poldek bánh mì và để anh ngủ lại bên bếp lửa. Còn lại mọi người vẫn phải ngủ qua đêm trong chuỗi xích người nêm chật cứng.
Hằng ngày, họ bị bắt ra đứng nghiêm và im lặng trên Appellplatz suốt mười tiếng. Tuy nhiên, tối đến, sau khẩu phần xúp loãng toẹt, họ được phép đi dạo quanh lán, được nói chuyện với nhau. Tiếng còi lúc chín giờ là tín hiệu bắt họ ngồi vào tư thế kỳ quái để ngủ qua đêm.
Sang ngày thứ hai, một sĩ quan SS đến Appellplatz để tìm viên thư ký đã lên danh sách của Schindler. Có vẻ Płaszów chưa gửi nó đến đây. Lẩy bẩy trong bộ áo tù vải thô, Goldberg bị dắt lên văn phòng để đánh lại bản danh sách theo trí nhớ. Cho tới cuối ngày y vẫn chưa làm xong và, khi trở về lán, lại ngập trong cơn lũ van xin lần chót để được vào danh sách. Tại đây, giữa cảnh nhá nhem buốt giá, bản danh sách tiếp tục trêu ngươi và hành hạ người ta, dù những gì nó làm được cho những ai có tên mới chỉ là đưa họ đến Gröss-Rosen. Pemper và mọi người áp tới Goldberg, bắt đầu ép y đưa tên bác sĩ Alexander Biberstein vào danh sách. Biberstein là anh em của Marek Biberstein, vị chủ tịch đầu tiên, lạc quan của Judenrat ở Cracow. Trước đó Goldberg đã bịp Biberstein rằng ông có tên. Đến khi lên tàu, viên bác sĩ mới biết mình không thuộc nhóm của Schindler. Tuy ở một nơi như Gröss-Rosen, Pemper vẫn đủ vững tin vào tương lai để đe dọa rằng sau chiến tranh Goldberg sẽ bị báo thù nếu tên Biberstein không được đưa vào.
Sang ngày thứ ba tám trăm người trong bản danh sách đã sửa chữa của Schindler được tách ra; đưa đến nhà tiệt trùng để tắm lần nữa; được ngồi nghỉ vài tiếng trước lán, vừa buôn chuyện vừa đoán già đoán non như dân làng rồi bị lùa ra chỗ tàu tránh. Sau khi lĩnh phần bánh mì ít ỏi, họ leo lên các toa gia súc. Trong nhóm lính gác áp tải, không ai thừa nhận biết họ đi đâu. Họ ngồi xổm trên sàn theo đội hình cũ. Tâm trí họ dồn vào tấm bản đồ Trung Âu, liên tục phán đoán về đường đi của mặt trời, xác định phương hướng bằng những tia sáng len vào lưới thông hơi trên nóc toa. Olek Rosner được nhấc lên lỗ thông hơi và cậu bé nói nhìn thấy rừng núi. Các chuyên gia hàng hải khẳng định nói chung tàu đang chạy về hướng Đông Nam. Mọi dấu hiệu đều cho thấy họ đang đi về Czech, nhưng không ai muốn nói ra.
Hành trình một trăm dặm này kéo dài gần hai ngày; khi cửa mở ra đã là sáng sớm ngày thứ hai. Họ đến ga Zwittau. Tất cả xuống tàu và được áp tải giữa một thị trấn vẫn chưa thức giấc, một xứ sở bị đóng băng ở cuối thập niên ba mươi. Kể cả dòng chữ trên tường - “CẤM DO THÁI BÉN MẢNG ĐẾN BRINNLITZ” - cũng toát ra một vẻ tiền chiến xa lạ với họ. Họ đến từ một thế giới hà khắc với họ đến từng hơi thở. Điều ấy khiến việc người dân Zwittau hà tiện với họ một chỗ nương thân trở nên ngây thơ một cách gần như dễ thương.
Đi vào vùng đồi quãng ba bốn dặm, qua một đoạn tàu tránh, họ tới ngôi làng công nghiệp Brinnlitz, và trông thấy, trong ánh ban mai mong manh, hình thù đồ sộ của khu nhà xưởng Hoffman được cải tạo thành Arbeitslager (Trại lao động) Brinnlitz, với tháp canh, rào thép gai, trại lính, ngoài cùng là cánh cổng dẫn vào nhà máy và nơi ở của tù nhân.
Khi họ bước qua cánh cổng ngoài, Oskar hiện ra từ sân nhà máy, đầu đội chiếc mũ phớt kiểu Tyrol.
❀ ❀ ❀
[1] Khi Thế chiến II sắp kết thúc, tù nhân ở gần tiền tuyến bị cưỡng bức di dời đến các trại trong nội địa Đức để xóa tang chứng về các trại tập trung và ngăn chặn việc hồi hương tù nhân chiến tranh. Rất nhiều người đã chết trong quá trình di chuyển đầy khắc nghiệt này.
[2] Tổ tự quản ở trại tập trung của Đức Quốc xã.