Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 35 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 38

❊ ❊ ❊

Trong vài giờ sau phát biểu của Oskar, lính SS đồn trú bắt đầu đào ngũ. Trong nhà máy, đội tự vệ được tuyển chọn từ nhóm tù Budzyn và một số phần tử khác trong trại đã được phát vũ khí do Oskar cung cấp. Họ hy vọng có thể tước vũ khí của SS, chứ không buộc phải giao chiến. Như Oskar đã lý giải, sẽ là không khôn ngoan nếu thu hút sự chú ý từ những đơn vị Quốc xã đang ôm hận rút lui. Nhưng trừ phi đạt được một điều hoang đường nào đó, một hòa ước chẳng hạn, cuối cùng họ vẫn sẽ phải dùng lựu đạn tập kích các tháp canh.

Tuy nhiên, trên thực tế, đội tự vệ chỉ phải trang trọng hóa việc giải giáp mà Oskar đã hình dung. Lính gác cổng chính gần như biết ơn khi được giao nộp vũ khí. Trên bậc cấp tối tăm dẫn vào trại lính, Poldek Pfefferberg và một tù nhân tên gọi Jusek Horn tước vũ khí của Commandant Motzek. Pfefferberg gí ngón tay vào lưng y, và Motzek, như mọi người đàn ông ngoài bốn mươi, tỉnh táo và có gia đình để về, cầu xin họ tha cho. Pfefferberg tước súng lục của y, còn Motzek, sau khi kêu khóc cầu cứu Herr Direktor trong thời gian tạm giam ngắn ngủi, được thả và đi bộ về nhà.

Uri và nhóm du kích phát hiện ra các tháp canh, mục tiêu mà có lẽ họ đã mất hàng giờ phán đoán và lên kế hoạch, đã bị bỏ không. Một số tù nhân, trang bị súng vừa tịch thu của lính Đức, được bố trí trên đó để ai đi qua sẽ tưởng tại đây trật tự cũ vẫn đang ngự trị.

Đến nửa đêm, trong trại chẳng còn bóng SS, nam cũng như nữ. Oskar gọi Bankier lên và giao cho ông chìa khóa một kho hàng. Đó là kho dự trữ của Hải quân, và đến trước khi quân Nga tấn công Silesia, vẫn nằm đâu đấy trong vùng Katowice. Có lẽ nó được sử dụng để tiếp tế cho tàu tuần tra trên sông và kênh đào, và Oskar biết tin Tổng cục Quân giới muốn tìm thuê địa điểm mới ở một khu vực ít bị đe dọa hơn. Oskar đã nhận được hợp đồng này - “với sự trợ giúp của một ít quà cáp,” sau này ông kể lại. Vậy là mười tám xe tải đầy áo khoác, quân phục, vải may đồ lót, sợi xe và len, nửa triệu cuộn sợi và nhiều loại giày, đã đi vào cổng Brinnlitz trước khi được dỡ xuống và nhập kho. Stern và nhiều người đều khẳng định, Oskar biết kho hàng vẫn nằm trong tay mình khi chiến tranh sắp kết thúc, và ông tính lấy chỗ vải vóc này cho tù nhân làm vốn. Trong tài liệu về sau, Oskar cũng xác nhận điều này. Ông đã nhắm hợp đồng kho vận này “với mục đích chuẩn bị sẵn quần áo cho công nhân Do Thái của tôi khi chiến tranh kết thúc. Các chuyên gia dệt may Do Thái ước tính giá trị kho vải vóc này lên tới hơn 150.000 đô la Mỹ (tỉ giá thời bình)”.

Ở Brinnlitz ông có người đủ khả năng thực hiện việc định giá này - ví dụ như Juda Dresner, từng kinh doanh vải vóc ở phố Stradom; Itzhak Stern, từng làm công cho một công ty vải bên kia đường.

Khi thực hiện nghi thức bàn giao chiếc chìa khóa đắt giá ấy cho Bankier, Oskar và Emilie đều mặc áo tù kẻ sọc. Cuộc đảo vận mà ông hằng nỗ lực đạt đến kể từ ngày đầu thành lập DEF nay đã hiển hiện trước mắt. Khi ông xuất hiện dưới sân để chia tay, ai nấy đều ngỡ đó chỉ là y phục cải trang được ông nhẹ nhàng mặc lên và cũng sẽ nhẹ nhàng trút bỏ một khi gặp quân Mỹ. Nhưng khoác lên bộ áo vải thô ấy lại là hành động mà Oskar chẳng bao giờ rũ bỏ được hoàn toàn. Ông sẽ, theo một nghĩa trọn vẹn nhất, mãi mãi bị cầm tù ở Brinnlitz và Emalia.

Có tám tù nhân tình nguyện tháp tùng Oskar và Emilie. Họ đều rất trẻ, nhưng gồm một đôi vợ chồng, Richard và Anka Rechen. Lớn tuổi nhất là một kỹ sư tên là Edek Reubinski, nhưng anh vẫn kém vợ chồng Schindler gần mười tuổi. Sau này, chính anh là người cung cấp chi tiết về cuộc viễn du kỳ dị của cả đoàn.

Emilie, Oskar và lái xe sẽ đi chiếc Mercedes. Những người còn lại sẽ theo sau trên chiếc xe tải chở đầy thực phẩm, thuốc lá và rượu để đổi chác. Oskar có vẻ sốt ruột muốn lên đường. Một trong hai mối đe dọa từ Nga, binh lính của Vlasov, đã không còn. Chúng đã rút đi trong mấy ngày qua. Nhưng mối kia, dự kiến sẽ đến Brinnlitz trước sáng hôm sau, thậm chí sớm hơn. Từ băng sau chiếc Mercedes, nơi họ đang yên vị trong bộ áo tù - nói thật là không giống tù nhân cho lắm, mà giống một đôi quý tộc đi dự dạ hội hóa trang hơn - Oskar vẫn gầm gừ căn dặn Stern, ra lệnh cho Bankier và Salpeter. Nhưng có thể thấy ông rất muốn đi. Thế nhưng khi tay lái xe, Dolek Grünhaut, toan khởi động, xe lại chết máy. Oskar xuống xe và tự mình xem xét dưới nắp capô. Ông tỏ ra hốt hoảng - khác hẳn con người vừa có bài phát biểu đầy uy quyền vài giờ trước. “Làm sao thế?” ông hỏi liên tục. Nhưng trong bóng tối Grünhaut khó mà nói được. Mất một lúc anh mới bắt được bệnh, vì lỗi nằm ngoài phán đoán của anh. Ai đó, lo sợ trước viễn cảnh Oskar ra đi, đã cắt dây diện.

Pfefferberg, có mặt trong đám đông tiễn biệt Herr Direktor, lao vội về xưởng hàn lấy đồ nghề và bắt tay vào sửa. Anh toát mồ hôi, tay chân lóng ngóng, vì sự gấp rút mà anh cảm thấy từ Oskar cũng làm anh cuống. Schindler không ngừng ngóng ra cổng như thể quân Nga sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào. Nỗi sợ ấy không phải là không có cơ sở - những người có mặt đều bị giằng xé trước cái kịch bản oái oăm ấy - mà Pfefferberg thì sửa quá khổ sở và quá lâu. Nhưng cuối cùng, cỗ máy cũng rung lên dưới vòng xoay chìa khóa run rẩy của Grünhaut.

Khi máy đã nổ, chiếc Mercedes xuất phát, xe tải theo sau. Ai nấy bồn chồn đến nỗi không kịp nói lời chia tay cho đàng hoàng, nhưng họ vẫn kịp trao cho Schindler và vợ một bức thư, có chữ ký của Hilfstein, Stern, và Salpeter, chứng thực công trạng của Oskar và Emilie. Đoàn xe lăn bánh ra khỏi cổng và, đến đoạn đường tàu tránh, rẽ trái về hướng Havlíčků Brod và về vùng đất an toàn hơn cho Oskar ở châu Âu. Cuộc viễn du phần nào mang màu hôn phối, bởi Oskar, người đã đến Brinnlitz với rất nhiều phụ nữ, nay lại ra đi cùng vợ. Stern và mọi người vẫn đứng lại ngoài sân. Sau rất nhiều hứa hẹn, họ đã được tự do. Giờ đây, họ phải gánh lấy sức nặng và sự bất trắc của thân phận ấy.

*

Thời gian đình chiến dài ba ngày, có những biến động và hiểm nguy riêng. Sau khi SS rút đi, đại diện duy nhất của cỗ máy sát nhân còn lưu lại ở Brinnlitz là một viên Kapo người Đức đã từ Gröss-Rosen đến đây cùng các tù nhân của Schindler. Hồi ở Gröss-Rosen y đã mắc nhiều nợ máu, khi tới Brinnlitz y cũng chuốc thêm nhiều kẻ thù. Một nhóm tù nam lôi y từ giường xuống xưởng rồi treo cổ y một cách hăm hở và không thương xót lên một trong những thanh xà mà Untersturmführer Liepold cách đây chưa lâu còn dùng để đe dọa tù nhân. Một số tù nhân cố can thiệp nhưng nhóm hành quyết đang say máu và không ai ngăn nổi.

Đây là sự kiện, vụ sát nhân đầu tiên dưới thời bình này, mà nhiều cư dân Brinnlitz sẽ mãi mãi lên án. Họ đã chứng kiến Amon treo cổ viên kỹ sư Krautwirt tội nghiệp trên Appellplatz tại Płaszów, và vụ treo cổ này, dù với lý do khác, cũng làm họ ghê tởm sâu xa không kém. Bởi Amon là Amon và vô phương cải hóa. Nhưng toán đao phủ này là anh em của họ.

Khi viên Kapo thôi co giật, họ để y lủng lẳng trên những cỗ máy câm lặng. Nhưng y làm họ hoang mang. Đáng lẽ khiến họ phấn khích, y lại gieo vào lòng họ nỗi hoài nghi. Sau cùng một số người không tham gia treo cổ hạ y xuống và hỏa thiêu. Điều này phản ảnh bản chất kỳ lạ của Brinnlitz khi thi thể duy nhất bị đưa vào lò luyện, theo chỉ thị là nơi hỏa thiêu tù nhân Do Thái, lại là xác một người Aryan.

Việc phân bổ hàng hóa trong kho của Hải quân diễn ra suốt ngày hôm sau. Họ chia những súc vải lớn thành từng đoạn nhỏ. Moshe Bejski kể, mỗi người được chia ba mét, một bộ đồ lót và vài cuộn bông. Ngay hôm đó, một số phụ nữ bắt tay vào may bộ quần áo họ sẽ mặc về nhà. Số khác giữ lại, để sau này đem đổi, ngõ hầu giúp họ mưu sinh trong những ngày rối ren sắp tới.

Mỗi người còn được một phần thuốc lá Eginski mà Oskar đã cháy nhà hôi được từ Brno, cùng một chai vodka từ kho của Salpeter. Chẳng mấy ai uống. Với họ nó quá giá trị, không ai nỡ uống.

Đêm thứ hai, sau khi trời tối, một phân đội Panzer xuất hiện trên đường từ hướng Zwittau. Lutek Feigenbaum, ôm súng nấp sau bụi cây gần cổng, chực bắn ngay khi cỗ xe tăng đầu tiên hiện ra trong tầm ngắm. Song cậu tự thấy thế là hấp tấp. Từng chiếc sầm sập đi qua. Tên pháo thủ trên một chiếc đi đoạn hậu, biết rằng hàng rào và tháp canh đồng nghĩa với khả năng bọn tội phạm Do Thái có thể đang ẩn nấp ở trong, xoay nòng pháo và bắn hai phát đạn vào trong trại. Viên thứ nhất nổ ở giữa sân, viên thứ hai trúng ban công khu nhà nữ.

Đó là một biểu hiện thù địch ngẫu nhiên, và không biết vì khôn ngoan hay bất ngờ mà không tù nhân có vũ trang nào đáp trả.

Khi chiếc tăng đi sau cùng vừa khuất bóng, đội tự vệ nghe thấy tiếng than khóc từ sân và khu tù nữ ở tầng trên. Một cô gái bị thương vì mảnh đạn. Bản thân cô chỉ bị choáng, nhưng cảnh cô bị thương đã giải phóng ở chị em mọi đau thương dồn nén suốt mấy năm qua. Trong khi phụ nữ khóc lóc, các bác sĩ Brinnlitz khám cho cô và kết luận vết thương không có gì nghiêm trọng.

*

Vài giờ đầu trên đường đào tẩu, đoàn Oskar nối đuôi một đoàn xe tải Wehrmacht. Nhờ bóng đêm, họ có thể làm vậy mà không bị ai gây khó dễ. Sau lưng họ, vọng lại tiếng quân Đức đặt mìn phá hủy các cơ sở, và thỉnh thoảng có âm thanh chát chúa từ một cuộc phục kích của du kích Czech từ xa vọng lại.

Có lẽ gần tới Havlíčkův Brod, họ đã tụt lại sau, vì họ bị một tốp du kích Czech chặn lại giữa đường. Oskar tiếp tục đóng vai tù nhân. “Tôi và các vị đây vừa trốn từ trại lao động ra. SS đã bỏ chạy, Herr Direktor cũng vậy. Chiếc ô tô này là của y.”

Du kích hỏi họ có vũ khí không. Reubinski từ xe tải xuống gia nhập cuộc đối thoại. Anh thú nhận mình có một khẩu súng trường. Được rồi, tốp du kích Czech nói, tốt nhất các anh có gì thì đưa cả đây. Nếu bị quân Nga chặn lại và phát hiện ra các anh có vũ khí, chưa chắc họ đã hiểu. Áo tù sẽ là bảo chứng cho các anh.

Ở thị trấn này, Đông Nam Prague và trên đường đi Áo, họ vẫn có khả năng bắt gặp những đơn vị còn ngoan cố. Du kích chỉ cho Oskar đến văn phòng Hội Chữ thập đỏ trên quảng trường thành phố. Tại đây họ có thể an toàn nghỉ qua đêm.

Nhưng khi đến nơi, nhân viên Hội Chữ thập đỏ khuyên họ rằng, trong tình hình bất ổn hiện tại nhà tù thị trấn có lẽ là an toàn nhất. Họ để xe lại trên quảng trường, trước mặt văn phòng Hội, còn Oskar, Emilie và tám bạn đồng hành xách mớ hành lý ít ỏi theo và ngủ trong những xà lim không khóa ở đồn cảnh sát.

Sáng hôm sau khi quay lại, họ thấy cả hai xe đã bị luộc. Lớp da bọc chiếc Mercedes bị xé toang, kim cương biến mất, xe tải bị tháo lốp, máy xe cũng bị cướp luôn. Dân Czech bình luận đầy minh triết. Thời buổi này mất mát là chuyện thường. Có lẽ họ còn nghi ngờ Oskar, da trắng và mắt xanh, là một sĩ quan SS đào vong.

Cả đoàn không còn phương tiện, nhưng có một chuyến tàu xuôi Nam về Kaplice và họ lên tàu, vẫn mặc áo tù. Reubinski kể, họ ngồi tàu đến tận rừng, rồi xuống lội bộ. Đâu đó ở vùng rừng biên giới ấy, mạn Bắc của Linz, họ có hy vọng gặp quân Mỹ.

Đang cuốc bộ trên một con đường chạy giữa rừng thì họ gặp hai lính Mỹ ngồi nhai kẹo cao su bên ụ súng máy. Một tù nhân bắt chuyện bằng tiếng Anh. “Chúng tôi có lệnh không cho ai đi qua,” một người nói.

“Nếu đi vòng qua rừng thì có sao không?” người tù hỏi tiếp.

Anh lính vẫn nhai. Cái dân tộc bỏm bẻm kỳ quái này!

“Chắc không.” rốt cuộc anh ta đáp.

Vậy là, họ vòng qua rừng và, khi quay lại đường cái sau nửa tiếng, gặp một đại đội bộ binh đang hành quân hàng hai về phía Bắc. Qua người tù biết tiếng Anh, họ nói chuyện với trinh sát của đơn vị. Viên sĩ quan chỉ huy chạy xe jeep đến, nhảy xuống, thẩm vấn họ. Họ nói thật với anh ta, rằng Oskar là Herr Direktor, còn họ là dân Do Thái. Họ tin mình đang ở nơi an toàn, bởi qua BBC họ biết trong quân Mỹ có nhiều lính gốc Đức và Do Thái. “Ở bên đây,” viên đại úy nói. Anh ta lẳng lặng lái đi, để họ lại trong sự giám sát có phần lúng túng của đám lính trẻ, những người mời họ hút thuốc, loại thuốc Virginia tỏa ra vẻ long lanh - như chiếc jeep, quân phục và trang bị của họ - của thứ vật chất đến từ một nền sản xuất quy mô, hào nhoáng, không hạn chế và không có thứ phẩm.

Dù Emilie và các tù nhân lo ngại Oskar có thể bị bắt giữ, ông ngồi trên thảm cỏ với vẻ vô ưu rõ rệt, hít thở không khí mùa xuân giữa khu rừng chót vót này. Ông có lá thư tiếng Hebrew, và New York, ông biết, xét về mặt chủng tộc, là một thành phố mà Hebrew không hề xa lạ. Nửa giờ trôi qua và một toán lính xuất hiện, tiến lại họ với vẻ thoải mái, không căng thẳng kiểu nhà binh. Cả tốp đều là dân Do Thái, có cả một giáo sĩ chiến trường. Họ tỏ ra rất cảm kích, ôm hôn cả nhóm, kể cả Emilie lẫn Oskar. Vì họ, tốp lính tiết lộ, là những người sống sót từ trại tập trung đầu tiên mà tiểu đoàn tìm được.

Kết thúc màn chào hỏi, Oskar trao cho họ lá thư giới thiệu tiếng Hebrew. Vị giáo sĩ đọc và bắt đầu khóc. Ông dịch nội dung cho những lính Mỹ khác. Màn hoan hô, bắt tay và ôm hôn tiếp tục. Đám lính trẻ tỏ ra thật cởi mở, thật ồn ào, thật trẻ thơ. Mặc dù mới xa cách Trung Âu một hai thế hệ, dấu ấn Mỹ quốc ở họ đã rõ ràng đến mức Schindler và các tù nhân nhìn họ với vẻ ngạc nhiên chẳng kém gì ngược lại.

Hệ quả là nhóm Schindler lưu lại ở biên giới Áo làm khách của chỉ huy trung đoàn và vị giáo sĩ hai ngày liền. Họ uống thứ cà phê tuyệt hảo mà tù nhân trong đoàn từ khi ghetto ra đời chưa được uống bao giờ. Họ ăn rất vương giả.

Sau hai ngày, vị giáo sĩ tặng họ một chiếc xe cứu thương tịch thu được, và họ dùng nó để lái đến thành phố bị tàn phá Linz ở vùng thượng Áo.

*

Sang ngày hòa bình thứ hai ở Brinnlitz, quân Nga vẫn chưa xuất hiện. Nhóm tự vệ lo ngại rằng họ sẽ phải lưu lại trại lâu hơn dự kiến. Họ nhớ rằng lần duy nhất SS tỏ ra khiếp sợ - không kể sự bồn chồn của Motzek và đồng bọn mấy ngày qua - ấy là khi có dịch sốt phát ban. Họ bèn treo biển cảnh báo phát ban khắp hàng rào.

Ba du kích Czech xuất hiện trước cổng vào buổi chiều và nói chuyện qua hàng rào với lính gác. Tất cả kết thúc rồi, họ nói. Các anh muốn ra lúc nào cũng được.

Bao giờ quân Nga đến đã, đội tự vệ đáp. Cho đến lúc đó, bọn tôi vẫn ở trong này.

Câu trả lời phần nào thể hiện tâm bệnh của tù nhân: nỗi nghi ngờ thường trực của họ sau một thời gian rằng thế giới ở ngoài hàng rào đầy rẫy hiểm nguy, và phải tái hòa nhập từ từ. Nó cũng cho thấy sự khôn ngoan ở họ. Họ chưa tin các đơn vị Đức cuối cùng đã rút đi.

Đám du kích Czech nhún vai và bỏ đi.

Đêm đó, khi Poldek Pfefferberg có phiên gác cổng chính, từ ngoài đường vẳng đến tiếng động cơ mô tô. Chúng không đi qua như tốp Panzer hôm qua mà rẽ thẳng về hướng trại. Năm chiếc xe có hình đầu lâu SS xuất hiện từ bóng tối, và rầm rập đến gần hàng rào. Khi tốp lính SS - rất trẻ, Poldek còn nhớ - tắt máy, xuống xe, lại gần cổng, một cuộc tranh cãi nổ ra giữa nhóm tự vệ rằng liệu có nên bắn hạ ngay đám khách không mời.

Viên hạ sĩ quan chỉ huy có vẻ nhận thức được nguy cơ tiềm ẩn ở tình huống này. Y đứng cách rào một chút, hai tay xòe ra. Bọn họ cần xăng, y nói. Y đoán Brinnlitz, là một trại sản xuất, ắt sẽ có xăng.

Pfefferberg gợi ý cấp xăng cho chúng cuốn gói thì hay hơn là gây rắc rối bằng cách nổ súng. Đồng ngũ từ trung đoàn của chúng có thể ở gần đây và sẽ theo tiếng súng tìm đến.

Sau cùng, họ mở cửa cho tốp lính SS, và một số tù nhân xuống ga ra hút xăng. Viên hạ sĩ quan SS rất lưu ý thể hiện cho đội tự vệ - vừa mặc đồng phục xanh cho giống lính gác, hoặc ít nhất là giống Kapo người Đức - thấy y chẳng thấy gì bất thường việc tù nhân được vũ trang để bảo vệ trại từ bên trong.

“Tôi hy vọng anh nhận ra ở đây có dịch phát ban, Pfefferberg nói tiếng Đức và chỉ lên mấy tấm biển.

Toán SS nhìn nhau.

“Bọn tôi vừa mất hơn hai chục người,” Pfefferberg nói. “Còn năm mươi người nữa đang phải cách ly dưới hầm.”

Thông tin này có vẻ tác động mạnh đến những vị khách đeo phù hiệu đầu lâu thần chết. Chúng mệt mỏi. Chúng đang trốn chạy. Thế là đủ lắm rồi. Chúng chẳng muốn gánh thêm nguy cơ lây bệnh làm gì nữa.

Khi xăng được đưa đến trong từng can hai mươi lít, chúng cảm ơn, cúi chào và rút đi qua cổng. Các tù nhân quan sát chúng đổ xăng vào bình và nhã nhặn để lại cạnh hàng rào những can thừa không để vừa lên xe. Chúng đeo găng, nổ máy, rời đi mà không rồ ga quá to, không muốn hao bình xăng vừa đổ vào một trò trẻ trâu. Tiếng động cơ lắng dần về phía làng ở góc Tây Nam. Với những người gác cổng, cuộc tao ngộ lịch sự này sẽ là lần gặp gỡ cuối cùng với những kẻ mặc đồng phục quân đoàn tà ác của Heinrich Himmler.

*

Sang ngày thứ ba, trại được giải phóng, bởi một sĩ quan Nga duy nhất. Anh ta cưỡi ngựa, xuất hiện từ hẻm núi nơi đường bộ và đường sắt chạy qua trước khi dẫn tới cổng trại. Khi anh ta đến gần, họ mới nhận ra con ngựa hóa ra chỉ là ngựa lùn, bàn chân gầy gò xỏ trong bàn đạp của viên sĩ quan gần như chạm đất và hai cẳng chân anh ta khuỳnh ra một cách hoạt kê dưới phần bụng lép kẹp của con ngựa. Sự giải phóng mà anh ta mang đến Brinnlitz có vẻ là một nỗ lực cá nhân đầy gian khó, bởi bộ quân phục đã tả tơi, dây da đeo sủng đã bị mồ hôi, mùa đông và chiến trận bào mòn tới mức phải thay bằng dây thừng. Cương ngựa cũng là dây thừng. Anh ta có nước da trắng và, như mọi người Nga trong mắt dân Ba Lan, vừa rất đỗi xa lạ, vừa vô cùng quen thuộc.

Sau cuộc đối thoại ngắn lẫn lộn tiếng Nga và Ba Lan, nhóm tự vệ mở cổng cho anh vào. Tin anh xuất hiện lan khắp các ban công tầng hai. Khi vừa xuống ngựa anh đã nhận được một cái hôn từ bà Kumholz. Anh mỉm cười rồi, bằng hai thứ tiếng, xin một cái ghế. Một cậu thanh niên đưa ghế đến.

Đứng trên ghế đem lại cho anh một lợi thế về chiều cao mà, xét tương quan với đa số tù nhân, anh không cần đến. Từ đây, anh thực hiện một bài diễn văn giải phóng có vẻ theo đúng công thức bằng tiếng Nga. Moshe Bejski cũng nắm được đại ý. Họ đã được Hồng quân Xô viết quang vinh giải phóng. Họ được tự do vào thị trấn hay đi đâu tùy ý. Vì dưới chế độ Xô viết, như trên thiên đường thần thoại, chẳng phân biệt Do Thái hay không Do Thái, đàn ông hay đàn bà, nô lệ hay tự do. Và họ không được có hành vi trả thù đáng hổ thẹn trong thị trấn. Đồng Minh sẽ săn lùng những kẻ đàn áp họ và có hình phạt đích đáng. Họ phải coi trọng tự do của mình hơn hết.

Anh bước xuống khỏi ghế và mỉm cười, như muốn nói giờ đây khi xong nhiệm vụ phát ngôn, anh sẵn sàng trả lời câu hỏi. Bejski cùng vài người khác bắt chuyện với anh, và anh tự chỉ vào mình rồi nói bằng thứ tiếng Yiddish trọ trẹ của dân Belarus - kiểu khẩu âm học mót từ ông bà hơn là cha mẹ - rằng anh là người Do Thái.

Cuộc đối thoại bỗng trở nên gần gũi hơn.

“Anh đã đến Ba Lan chưa?” Bejski hỏi.

“Rồi,” viên sĩ quan xác nhận. “Tôi vừa từ Ba Lan đến đây.”

“Còn người Do Thái nào ở đấy không?”

“Không thấy ai hết.”

Tù nhân vây quanh anh, dịch và truyền đạt nội dung cuộc đối thoại lại cho nhau.

“Quê anh ở đâu? viên sĩ quan hỏi Bejski.

“Cracow.”

“Tôi mới ở Cracow hai tuần trước.”

“Còn Auschwitz? Auschwitz thì sao?”

“Thấy bảo ở Auschwitz vẫn còn một ít tù Do Thái.”

Các tù nhân trở nên trầm ngâm. Theo lời anh bạn Nga, Ba Lan giờ đây như một xứ trống không, và nếu trở lại Cracow họ sẽ vật vờ trơ trọi ở đấy như vài hạt đậu khô trong lọ.

“Mọi người có cần tôi giúp gì không?” viên sĩ quan hỏi.

Ai nấy nhao nhao xin thực phẩm. Anh nói sẽ kiếm được cho họ một xe bánh mì, có thể thêm ít thịt ngựa. Tất cả sẽ đến trước khi trời tối. “Nhưng mọi người cũng nên xem trong thị trấn có gì,” anh gợi ý.

Đấy là một ý tưởng táo bạo - rằng họ cứ thế ra khỏi trại và vào Brinnlitz mua bán. Với một số người, lựa chọn ấy vẫn là điều không tưởng.

Đám thanh niên như Pemper và Bejski bám theo viên sĩ quan khi anh chuẩn bị rời đi. Nếu Ba Lan không còn dân Do Thái, nghĩa là họ không còn chỗ mà đi. Họ không cần anh chỉ dẫn, nhưng cảm thấy anh nên trao đổi về thế tiến thoái lưỡng nan của họ. Người lính Nga ngừng tay cởi dây buộc ngựa.

“Tôi chịu,” anh nói, ngó thẳng vào mặt họ. “Tôi chẳng biết phải khuyên các anh thế nào. Chớ đi hướng Đông - tôi chỉ biết có vậy. Nhưng cũng đừng đi hướng Tây.” Bàn tay anh tiếp tục cởi dây cương. “Chẳng đâu ưa chúng ta sất.”

*

Nghe lời kêu gọi của viên sĩ quan Nga, các tù nhân Brinnlitz sau cùng cũng ra khỏi cổng để thực hiện sự tiếp xúc dè dặt đầu tiên với thế giới bên ngoài. Những người trẻ thử đầu tiên. Danka Schindel ra khỏi trại sau ngày giải phóng, leo lên ngọn đồi cây phủ phía sau. Hoa bách hợp với ngân liên bắt đầu hé nụ, chim thiên di từ châu Phi đã bay về. Danka ngồi trên đồi một lúc lâu, tận hưởng, rồi lăn xuống, nằm trên thảm cỏ dưới chân đồi, hít thở mùi hương và nhìn ngắm bầu trời. Cô nằm ở đó lâu đến nỗi bố mẹ tưởng cô đã gặp chuyện chẳng lành trong làng, với dân địa phương hoặc với quân Nga.

Goldberg cũng rời trại sớm, có lẽ là đầu tiên, để về thu nhận của cải giấu ở Cracow. Y sẽ di cư sang Brazil ngay khi thu xếp được.

Đa số tù nhân lớn tuổi hơn lưu lại trại. Lúc này quân Nga đã vào Brinnlitz, lấy một villa trên đồi nhìn xuống ngôi làng làm nơi ở cho sĩ quan. Họ đưa vào trại một con ngựa đã mổ, và tù nhân ăn ngấu nghiến, một số còn thấy món này quá đầy bụng sau thời gian dài sống với bánh mì, rau và cháo yến mạch của Emilie.

Lutek Feigenbaum, Janek Dresner, và cậu trai nhà Sternberg vào thị trấn tìm kiếm thức ăn. Ngôi làng nằm dưới sự tuần tra của du kích Czech, do đó cư dân Brinnlitz gốc Đức rất e ngại những tù nhân vừa tự do. Một ông hàng xén gợi ý bọn họ có thể lấy một bao đường trong kho. Cậu trai Sternberg nhịn không nổi khi thấy đường, vục mặt xuống làm một vốc đầy. Nó hành cậu một phen điên đảo. Bài học cậu thu được cũng là điều nhóm của Schindler đang nhận ra ở Nuremberg và Ravensburg - phải làm quen với tự do và sung túc một cách từ từ.

Mục đích chính của cuộc thám hiểm vào thị trấn là để kiếm bánh mì. Feigenbaum, là thành viên đội tự vệ Brinnlitz, được trang bị cả súng trường lẫn súng lục, thành thử khi ông hàng bánh khăng khăng chối là không có bánh mì, một người xui cậu, “Lấy súng ra mà dọa lão.” Ông ta, nói cho cùng, là dân Đức Sudeten, và bởi vậy trên lý thuyết là người tán đồng mọi khổ đau họ phải gánh chịu. Feigenbaum chĩa súng vào ông hàng bánh rồi xộc vào nhà trong để tìm chỗ giấu bột mì. Đến phòng khách, cậu thấy vợ và hai con gái chủ nhà đang rúm ró vì sợ hãi. Vẻ khiếp đảm của họ và của những gia đình Cracow vào đợt Aktion giống nhau đến nỗi một niềm hổ thẹn lớn lao ngập tràn trong cậu. Cậu gật đầu chào họ, như thể một vị khách viếng thăm xã giao, rồi rút lui.

Cũng nỗi hổ thẹn ấy đã xâm chiếm Mila Pfefferberg trong lần đầu vào làng. Khi cô đến quảng trường, một du kích Czech chặn hai cô gái Sudeten lại, bắt họ cởi giày cho Mila, đang đi đôi guốc gỗ, chọn xem đôi nào vừa hơn. Hành vi ngang ngược này làm cô đỏ mặt, và cô ngồi trên vỉa hè, lúng túng đưa ra lựa chọn. Tay du kích đưa guốc cho cô gái Sudeten rồi bỏ đi. Mila sau đó đang đi bỗng dừng lại, đuổi theo cô gái, và trả lại đôi giày. Cô gái, Mila vẫn nhớ, chẳng buồn tỏ ra biết ơn.

Tối đến, lính Nga vào trại mò gái. Pfefferberg phải gí súng vào đầu một gã lính lẻn vào khu tù nữ và vồ được bà Krumholz. (Nhiều năm sau bà Krumholz vẫn còn oán trách Pfefferberg, chỉ mặt anh mà bảo. “Được dịp cao chạy xa bay theo giai trẻ mà bị thằng ranh này nó phá đám!”) Có ba cô gái được đưa - ít nhiều tự nguyện - đến một buổi tiệc tùng của quân Nga, và trở lại sau ba ngày, theo lời họ, khoái hoạt.

Bám trụ lại Brinnlitz là một lựa chọn tiêu cực, và sau một tuần tù nhân bắt đầu ra đi. Một số đã mất cả gia đình di cư thẳng sang phương Tây, chẳng có nguyện vọng thấy lại Ba Lan lần nữa. Anh em Bejski, lấy suất vải và vodka của họ để lót đường, sang Ý rồi từ đó lên một con tàu Zionist đi Palestine. Nhà Dresner đi bộ băng qua Moravia và Bohemia về Đức, nơi Janek là một trong mười sinh viên đầu tiên đăng ký vào Đại học Erlangen của bang Bavaria khi trường này mở cửa cuối năm ấy.

Manci Rosner trở lại Podgórze, nơi Henry hẹn gặp cô, Henry Rosner, sau khi được giải thoát khỏi Dachau cùng Olek, một hôm vào nhà vệ sinh công cộng tại Munich thì thấy một người mặc áo sọc. Anh hỏi anh ta bị tù ở đâu. “Brinnlitz,” anh ta đáp. Theo lời anh ta (thực tế là không chính xác), trừ một bà cụ, mọi người ở Brinnlitz đều sống sót. Manci sẽ biết tin Henry còn sống qua ông anh họ, người tìm đến căn phòng ở Podgórze nơi cô đang chờ đợi, tay huơ tờ báo có danh sách những người Ba Lan được giải phóng từ Dachau. “Manci.” anh gọi, “hôn anh đi. Henry còn sống, Olek cũng vậy.”

Regina Horowitz có một cuộc hẹn tương tự. Bà mất ba tuần để đi từ Brinnlitz đến Cracow cùng cô con gái Niusia. Bà thuê một căn phòng - nhờ có phần chia từ kho hàng của Hải quân - và đợi Dolek. Khi ông đến, họ liền hỏi thăm về Richard, song không có tin tức gì. Một ngày hè năm ấy, Regina đi xem bộ phim về Auschwitz do Nga sản xuất và chiếu miễn phí ở Ba Lan. Bà xem đến khung hình nổi tiếng về bọn trẻ ở trại, đứng sau rào thép gai hóng ra, hay được các xơ dắt đi qua hàng rào dẫn điện của Auschwitz I. Rất đỗi nhỏ bé và đáng yêu, Richard xuất hiện trong hầu hết mọi khuôn hình. Regina bật dậy, rú lên và rời khỏi khán phòng. Viên quản lý cùng vài người qua đường cố gắng vỗ về bà. “Đó là con tôi, đó là con tôi!” bà tiếp tục hét lên. Giờ đây khi biết cậu bé còn sống, bà có thể truy ra được, quân Nga đã trao cậu cho một tổ chức cứu trợ Do Thái. Cho rằng bố mẹ Richard đã chết, họ giao cậu cho nhà Liebling, người quen cũ của gia đình Horowitz, làm con nuôi. Regina xin được địa chỉ, và khi đến cửa căn hộ của gia đình họ, bà nghe tiếng Richard ở trong, đang gõ xoong và tuyên bố, “Hôm nay cả nhà ăn xúp!” Khi bà gõ cửa, cậu gọi bà Liebling ra mở.

Vậy là cậu được về với mẹ. Nhưng sau những gì Richard đã chứng kiến trên đoạn đầu đời ở Płaszów và Auschwitz, bà chẳng thể dắt cậu ra sân chơi mà không khiến cậu bị kích động khi thấy bóng xích đu.

*

Đến Linz, nhóm Oskar ra trình diện quân Mỹ, chia tay với chiếc xe cứu thương ậm ạch, và được xe tải chở ngược Bắc lên Nuremberg đến một trung tâm tiếp nhận tù nhân lưu vong từ các trại tập trung. Họ nhận ra, đúng như mình e ngại, con đường giải phóng không hề bằng phẳng.

Richard Rechen có bà cô ở Constanz, cạnh hồ trên biên giới Thụy Sĩ. Khi giới chức Mỹ hỏi, cả nhóm có chỗ nào để đi không, họ đề cử bà cô này. Ý định của tám người tù trẻ từ Brinnlitz là đưa vợ chồng Schindler, nếu có thể, vượt biên giới sang Thụy Sĩ, đề phòng làn sóng báo thù nhắm vào người Đức bất ngờ bùng phát và, kể cả tại vùng Mỹ tạm chiếm, họ bị trừng phạt một cách bất công. Ngoài ra cả tám đều định di cư và tin rằng sang Thụy Sĩ việc này sẽ dễ thu xếp hơn.

Reubinski nhớ rằng quan hệ của họ và viên Commandant người Mỹ ở Nuremberg khá hữu hảo, nhưng ông ta chả dành cho họ phương tiện gì để tới Constanz ở phía Nam. Họ tìm cách xoay xở để đi xuyên Rừng Đen, một số chặng đi bộ, còn lại là đi tàu. Gần tới Ravensburg, họ rẽ vào trại tù ở địa phương và nói chuyện với viên chỉ huy người Mỹ. Họ làm khách ở đây dăm ngày, nghỉ ngơi và sống xa hoa bằng khẩu phần của Quân đội. Đổi lại, họ tiếp chuyện viên Trại trưởng, cũng gốc Do Thái, tới khuya, kể cho ông ta về Amon, Płaszów, Gröss-Rosen, Auschwitz và Brinnlitz. Bọn họ hy vọng ông ta sẽ giúp họ phương tiện đi Constanz, xe tải thì tốt. Ông ta không lo được xe tải, nhưng cho họ một chiếc xe buýt, cùng một ít nhu yếu phẩm cho hành trình ấy. Mặc dù Oskar vẫn mang theo số kim cương trị giá hơn 1.000 RM, và một ít tiền mặt, có vẻ họ không mất tiền mua chiếc xe mà được tặng. Sau nhiều áp phe với giới quan chức Đức, chắc hẳn Oskar khó mà quen ngay được với cách thức giao dịch này.

Đến phía Tây Constanz, trên biên giới Thụy Sĩ và trong vùng chiếm đóng của Pháp, họ dừng xe tại làng Kreuzlingen. Rechen vào hiệu đồ sắt trong làng mua một chiếc kìm cộng lực. Xem ra họ vẫn mặc áo tù khi mua kìm. Có lẽ người bán đã chịu tác động từ một trong hai suy đoán: (a) đây là tù nhân, nếu bị gây khó dễ y sẽ mách giới bảo hộ Pháp: (b) đây kỳ thực là một sĩ quan Đức cải trang để đào vong, và có lẽ nên được giúp đỡ.

Hàng rào biên giới cắt ngang Kreuzlingen, và bên thuộc Đức được hiến binh Pháp thuộc quân đoàn Sûreté canh gác. Cả nhóm tiếp cận hàng rào ở rìa làng, dùng kìm cắt dây thép, rình khi lính gác đi đến cuối đường rồi chuồn sang lãnh thổ Thụy Sĩ. Không may, một người dân làng đi đường bắt gặp họ và đã báo động cho cả phía Pháp lẫn Thụy Sĩ. Trên quảng trường tĩnh lặng của ngôi làng Thụy Sĩ, một bản sao của ngôi làng Đức đối diện, cảnh sát Thụy Sĩ bao vây cả nhóm, nhưng Richard và Anka chạy thoát và cảnh sát phải điều xe tuần tra bắt họ lại. Trong vòng nửa tiếng họ bị trao trả cho giới chức Pháp, những người lục soát tư trang của họ, phát hiện thấy kim cương và tiền mặt; đưa họ tới một nhà tù cũ của Đức và nhốt riêng từng người vào xà lim.

Reubinski thấy rõ họ bị nghi ngờ là lính gác ở trại tập trung. Trong tình huống ấy, việc họ lên cân khi làm khách của quân Mỹ trở thành phản chủ, vì nhìn họ không tiều tụy như khi mới rời Brinnlitz.

Họ bị thẩm vấn riêng rẽ về chuyến đi, về tài sản họ mang theo. Từng người đều có thể khai báo một cách hợp lý, nhưng không biết lời khai của mình có ăn khớp với mọi người không. Có lẽ họ lo sợ, điều họ không cảm thấy khi gặp quân Mỹ, là nếu quân Pháp biết được danh tính và thân phận của Oskar ở Brinnlitz, chắc chắn ông sẽ bị quy tội.

Quanh co để bảo vệ Oskar và Emilie, họ nằm khám một tuần. Hiểu biết về Do Thái giáo của vợ chồng Schindler lúc này thừa đủ để vượt qua các bài kiểm tra. Nhưng tác phong và thể trạng của Schindler khiến khó ai tin được ông vừa là tù nhân của SS. Không may thay, lá thư tiếng Hebrew của ông đã bị để lại Linz, trong hồ sơ của quân Mỹ.

Edek Reubinski, thủ lĩnh của cả bọn, bị thẩm vấn nhiều nhất, và vào ngày thứ bảy ở tù, khi được giải đến phòng hỏi cung, thấy có thêm một người nữa mặc thường phục, nói tiếng Ba Lan, được đưa đến để xác minh lời khai của Reubinski rằng anh đến từ Cracow. Không rõ tại sao - do người Ba Lan nọ đóng vai thương cảm trong cuộc thẩm vấn hay vì sự quen thuộc của ngôn ngữ - mà Reubinski sụp đổ, òa khóc và khai hết bằng tiếng Ba Lan lưu loát. Bảy người còn lại lần lượt bị triệu lên, cho gặp Reubinski, được biết anh ta đã thú nhận, và bị bắt khai lại bằng tiếng Ba Lan. Đến cuối buổi sáng, khi lời khai của họ đã khác nhau, cả nhóm, kể cả hai vợ chồng Schindler, được tập trung ở phòng thẩm vấn và được cả hai điều tra viên ôm hôn. Tay người Pháp, Reubinski kể, còn bật khóc. Ai nấy đều hân hoan trước tình cảnh ấy - một điều tra viên đẫm lệ. Khi đã lấy lại bình tĩnh, ông ta cho người mang bữa trưa lên cho mình, người đồng nghiệp, vợ chồng Schindler, và tám tù nhân.

Đến chiều, ông ta cho chuyển họ tới một khách sạn bên hồ ở Constanz, nơi họ lưu lại vài ngày dưới sự đài thọ của chính quyền quân sự Pháp.

Tối hôm đó, khi ông ngồi ăn tối tại khách sạn với Emilie, Reubinski, hai vợ chồng Rechen và mọi người, tài sản của Oskar đã rơi vào tay chính quyền Xô viết, trong khi những viên kim cương và số tiền mặt ít ỏi cuối cùng đã thất lạc qua những kẽ hở của bộ máy chính quyền giải phóng. Ông không còn lấy một xu dính túi, nhưng vẫn ăn uống thịnh soạn hết mức có thể, tại một khách sạn đàng hoàng, với một số thành viên trong “đại gia đình” của mình. Tất cả những điều ấy sẽ thành nếp sống của ông trong tương lai.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.