Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 36

❊ ❊ ❊

Các bạn nhậu của Oskar, bao gồm Amon và Bosch, đôi khi vẫn coi ông là nạn nhân của virus Do Thái. Đây không hề là ẩn dụ. Họ tin như thế thật và chẳng hề trách cứ nạn nhân. Họ từng chứng kiến điều này ở nhiều con người tử tế. Một phần não bộ bị khống chế bởi một thế lực nửa vi khuẩn, nửa ma thuật. Nếu được hỏi hội chứng này có dễ lây không, họ sẽ trả lời, có, rất dễ. Và họ sẽ coi trường hợp Oberleutnant Sussmuth là một ví dụ điển hình.

Bởi Oskar và Sussmuth, vào mùa đông 1944-45, đã đồng mưu giải cứu thêm trên ba ngàn phụ nữ từ Auschwitz, theo từng nhóm ba trăm đến năm trăm người một tới các trại nhỏ ở Moravia. Oskar lo tác động, thuyết phục và bôi trơn, Sussmuth lo giấy tờ. Các nhà máy dệt tại đây thiếu lao động, và không phải chủ nhà máy nào cũng ghét Do Thái sâu sắc như Hoffman. Ít nhất năm nhà máy Đức tại Moravia - ở Liebau và Grulich, ở Trautenau, Freudenthal và Jagerndorf - đã tuyển mộ họ và lập trại ngay tại chỗ. Những trại này chưa bao giờ là thiên đường, và ở đây SS được phép can thiệp vào khâu quản lý sâu hơn nhiều so với mơ ước của Liepold. Sau này, Oskar mô tả điều kiện sống tại các trại nhỏ này ở mức “chịu đựng được”. Có điều chỉnh quy mô nhỏ của các trại dệt may lại thuận lợi cho sự sinh tồn của tù nhân, bởi lính SS ở đây già hơn, chểnh mảng hơn, ít cuồng tín hơn. Tất nhiên vẫn còn bệnh phát ban rình rập, còn cơn đói trĩu nặng bên mạng sườn. Song phần lớn các cơ sở tí hon và gần như thôn dã này sẽ thoát khỏi lệnh diệt chủng sắp đến với các trại lớn vào mùa xuân.

Nếu chứng bại huyết Do Thái vừa lây sang Sussmuth, thì ở Oskar Schindler nó đã lên đến đỉnh điểm. Qua Sussmuth, Oskar xin thêm ba mươi công nhân cơ khí. Trong thực tế Oskar đâu còn hứng thú sản xuất. Nhưng bằng nhãn quan tỉnh táo, ông biết, muốn nhà máy có giá trị tồn tại trong mắt Cục D, ông cần thêm công nhân lành nghề. Khi xem xét những sự kiện khác giữa mùa đông điên rồ ấy, có thể thấy Oskar muốn có ba mươi người không phải vì họ thạo đứng máy, mà đơn giản bởi như thế nghĩa là thêm ba mươi người nữa. Không quá hoang đường khi nói rằng ông khao khát họ với vài phần nỗi khổ hình tuyệt đối, đặc trưng cho trái tim phô bày và rực lửa của Jesus trên tường nhà Emilie. Do trước giờ câu chuyện vẫn luôn tránh việc thánh hóa Herr Direktor, chúng ta cần phải chứng minh, chàng Oskar phong lưu là kẻ khát khao cứu rỗi các linh hồn.

Một trong ba mươi công nhân ấy, Moshe Henigman, đã thuật lại cuộc giải cứu ly kỳ của họ. Sau Giáng sinh không lâu, mười ngàn tù nhân từ các mỏ đá ở Auschwitz III - từ các cơ sở như nhà máy vũ khí của Krupp Weschel-Union, từ công ty Đất và Đá Đức, từ nhà máy hóa dầu của Farben, và từ xưởng tháo dỡ máy bay - bị lùa vào hàng, giải đến Gröss-Rosen. Có lẽ người lên kế hoạch tin rằng khi đến Lower Silesia, tù nhân sẽ được phân bổ về các trại sản xuất trong vùng. Nếu kịch bản có là như thế thì nó cũng không vào đầu sĩ quan và binh lính SS áp giải tù nhân. Và nó cũng không tính tới cái lạnh nuốt người của thời điểm giao niên khắc nghiệt, cũng chẳng đặt ra câu hỏi, làm sao để nuôi sống cả đoàn người. Đầu mỗi chặng đường, những ai tập tễnh hay ho đều bị lọc ra và hành quyết. Từ mười ngàn người, Henigman kể, sau mười ngày chỉ còn 1.200. Trên mạn Bắc, quân Nga của Koniev đã vượt sông Vistula phía Nam Warsaw và khống chế mọi ngả đường tiến về Tây Bắc. Do đó đoàn người ngày một ít ỏi được tạm trú ở một trại SS gần Opole. Viên Commandant trại này cho thẩm vấn tù nhân và lên danh sách lao động có tay nghề. Nhưng màn thanh lọc mỏi mệt kia vẫn tiếp diễn mỗi ngày, bị thải loại liền bị bắn bỏ. Khi bị gọi tên, anh không thể biết điều gì đang chờ đợi, mẩu bánh mì hay viên đạn. May thay, đến lượt Henigman, anh được lùa lên tàu với ba mươi người khác, rồi dưới sự áp tải của một lính SS và một viên Kapo, chuyển hướng xuôi Nam. “Chúng tôi được phát thức ăn,” Henigman nhớ lại. “Điều chưa ai nghe thấy bao giờ.”

Sau này, Henigman kể lại cái cảm giác mong manh phi thực khi vừa đến Brinnlitz. “Ai mà tin được là còn một khu trại nơi đàn ông đàn bà cùng nhau làm việc, không bị đánh đập, không có Kapo.” Bình luận của anh có phần hơi cường điệu, vì thật ra ở Brinnlitz có phân chia nam nữ. Và thi thoảng cô bạn gái tóc vàng của Oskar cũng ban phát một cái bạt tai, và có lần khi một cậu bé ăn trộm củ khoai tây dưới bếp bị tố với Liepold, viên Commandant liền bắt cậu đứng trên ghế đẩu cả ngày giữa sân, mồm ngậm củ khoai, dãi chảy ròng ròng xuống cằm, cổ lủng lẳng tấm biển TÔI LÀ TÊN TRỘM KHOAI TÂY!

Nhưng với Henigman những chuyện như thế chẳng đáng gì. “Làm sao diễn tả nổi,” anh hỏi, “sự thay đổi từ địa ngục đến thiên đường?”

Khi gặp Oskar, ông bảo anh nghỉ ngơi cho lại sức. Chừng nào sẵn sàng làm việc thì nói với quản đốc, Herr Direktor dặn. Và Henigman, trước sự đảo chiều kỳ lạ trong chính sách, cảm thấy mình không chỉ vừa tới một đồng cỏ bình yên, mà còn vừa đi qua tấm gương.

Do ba mươi anh thợ thiếc chỉ là một phần nhỏ của mười ngàn, phải nhắc lại rằng về mặt cứu nạn, Oskar chỉ là một tiểu thần. Song như mọi thần hộ mệnh, ông cứu cả Goldberg lẫn Helen Hirsch, và nỗ lực ngang nhau khi cứu bác sĩ Leon Gross lẫn Olek Rosner. Cũng với sự bình đẳng vô vụ lợi ấy ông đã có một thỏa thuận tốn kém với Gestapo ở Moravia. Chúng ta biết hai bên có giao kèo, có điều không rõ nó đắt tới đâu. Việc nó tiêu tốn cả gia tài là điều chắc chắn.

Một tù nhân tên là Benjamin Wrozlawski đã trở thành đối tượng của giao kèo ấy. Wrozlawski trước đây là tù nhân ở trại lao động Gliwice. Khác trại của Henigman, Gliwice không ở vùng Auschwitz, nhưng vẫn đủ gần để trực thuộc Auschwitz. Đến 12 tháng Một, khi Koniev và Zhukov phát động tấn công, vương quốc khủng khiếp của Höss và các vệ tinh lân cận có nguy cơ thất thủ nay mai. Tù nhân Gliwice được đưa lên tàu Ostbahn chuyển về Fernwald. Bằng cách nào đó Wrozlawski và người bạn tên gọi Roman Wilner đã nhảy khỏi tàu. Một lối thoát phổ biến là qua các tấm thông hơi bị lỏng trên trần. Những người thứ cách này thường bị lính gác đặt trên nóc tàu bắn hạ. Wilner bị thương khi đào tẩu, nhưng vẫn đi được, và cùng với anh bạn Wrozlawski tẩu thoát qua những thị trấn cao nguyên bình lặng trên biên giới Moravia. Rốt cuộc họ bị bắt ở một ngôi làng như vậy và bị giải đến trụ sở Gestapo ở Troppau.

Ngay sau khi họ đến, bị lục soát rồi tống vào xà lim, một sĩ quan Gestapo xuất hiện và bảo họ yên tâm, không có chuyện gì đâu. Họ chẳng có lý do nào để tin y. Sau đó y nói thêm, sẽ không chuyển Wilner đến bệnh viện dù anh bị thương vì thế chỉ tổ để anh bị bắt trở lại và đưa về trại tập trung.

Wrozlawski và Wilner bị giam gần hai tuần. Gestapo phải liên hệ với Oskar để ngã giá. Trong thời gian ấy, viên sĩ quan tiếp tục nói chuyện với họ như thể họ bị giam theo chế độ bảo vệ nhân chứng, và hai người tù thấy điều này thật kỳ cục. Khi cửa mở và họ được giải ra ngoài, cả hai cứ tưởng mình sắp bị xử bắn. Kỳ thực họ được một lính SS giải ra ga và áp tải lên tàu chạy hướng Đông Nam xuống Brno.

Cả hai đều chung cảm giác siêu thực, hân hoan xen lẫn sợ hãi giống Henigman khi đặt chân đến Brinnlitz. Wilner được đưa vào bệnh xá, dưới sự chăm sóc của bác sĩ Handler, Lewkowicz, Hilfstein và Biberstein. Wrozlawski nghỉ ngơi ở một dạng cơ sở hồi sức được thiết lập - vì những lý do đặc biệt sẽ sớm được giải thích - ngay ở tầng trệt nhà máy. Herr Direktor đến thăm và hỏi họ cảm thấy thế nào. Tính phi lý của câu hỏi ấy làm Wrozlawski khiếp sợ và môi trường xung quanh cũng vậy. Anh sợ, như nhiều năm sau anh kể lại, “đường từ bệnh viện sẽ dẫn đến bãi hành quyết, cũng như ở các trại khác”. Anh ăn no món xúp Brinnlitz đầy đặn, và thường xuyên gặp Schindler. Nhưng, như anh thú nhận, mình vẫn hoang mang, và thấy khó lòng tiêu hóa được hiện tượng Brinnlitz.

Theo thỏa thuận giữa Oskar và Gestapo ở tỉnh, mười một tù nhân tẩu thoát được bổ sung vào dân số vốn đã đông đúc của trại. Họ đều là diện trốn khỏi hàng hoặc nhảy tàu. Trong bộ áo tù kẻ sọc, họ cố gắng lẩn trốn. Về lý, tất cả đều phải bị xử bắn.

Năm 1963, bác sĩ Steinberg ở Tel Aviv xác nhận một vụ việc khác thể hiện nét hào sảng đầy bốc đồng, dễ lây, và không chút đắn đo của Oskar. Steinberg là bác sĩ của một trại lao động nhỏ miền trung du vùng Sudeten. Khi Silesia thất thủ trước quân Nga, viên Gauleiter ở Liberec không còn đủ khả năng ngăn trại lao động mọc lên ở tỉnh Moravia trong lành của y nữa. Nơi Steinberg bị cầm tù là một trong nhiều trại mới rải rác ở vùng núi. Trại thuộc Luftwaffe, chuyên sản xuất một linh kiện máy bay bí mật. Ở đây có bốn trăm tù nhân. Thức ăn nghèo nàn, Steinberg nói, còn công việc thì khắc nghiệt.

Bấu víu vào tin đồn về trại Brinnlitz, Steinberg kiếm được giấy thông hành, mượn được xe tải của nhà máy để đến gặp Oskar. Ông kể cho Oskar tình hình khốn khổ ở trại của Luftwaffe. Theo lời ông, Oskar dễ dàng đồng ý để cho ông một phần nhu yếu phẩm của Brinnlitz. Điều làm Oskar băn khoăn hơn cả là Steinberg lấy lý do gì để thường xuyên đến Brinnlitz nhận tiếp tế? Hai bên thống nhất ông sẽ viện cớ đi nhận thuốc men định kỳ từ trạm xá ở đây.

Từ đó, Steinberg kể, cứ hai tuần một lần, ông lại đến Brinnlitz và mang về trại của mình hàng lô bánh mì, lõi lúa mì, khoai tây và thuốc lá. Nếu hôm đó Schindler tình cờ ở quanh nhà kho lúc Steinberg nhận hàng, ông sẽ quay lưng bỏ đi.

Steinberg không nói chính xác khối lượng thực phẩm, nhưng từ góc nhìn của một bác sĩ, ông khẳng định nếu không có tiếp tế của Brinnlitz, ít nhất năm mươi tù nhân ở trại của Luftwaffe sẽ chết trước khi mùa xuân đến.

Không kể việc chuộc lại đoàn tù nữ từ Auschwitz, vụ giải cứu ngoạn mục nhất của Oskar là tốp lao động ở Goleszów. Goleszów là một mỏ đá kiêm nhà máy xi măng ở ngay trong Auschwitz III, cơ sở của công ty Đất và Đá Đức thuộc sở hữu SS. Như trường hợp ba mươi thợ cơ khí, cả tháng Một năm 1945, vương quốc kinh dị Auschwitz trong quá trình giải thể, và đến giữa tháng, 120 thợ mỏ từ Goleszów bị lùa lên hai toa gia súc. Hành trình của họ gian khổ chẳng kém gì ai, song kết cục thì may mắn hơn phần lớn. Cần lưu ý rằng, cũng như Goleszów, gần như tất cả tù nhân khu vực Auschwitz đều phải di chuyển trong tháng Một. Dolek Horowitz bị chuyển lên tàu đến Mauthausen. Nhưng cậu bé Richard thì ở lại, cùng các trẻ nhỏ khác. Quân Nga sẽ tìm thấy cậu vào cuối tháng giữa một Auschwitz bị SS bỏ hoang, và sẽ cáo buộc có cơ sở rằng cậu và các bạn bị giữ lại để làm vật thí nghiệm. Henry Rosner và cậu bé Olek lên chín (xem ra không còn cần thiết cho phòng thí nghiệm) bị lùa vào hàng, giải đi cách Auschwitz ba mươi dặm, và ai tụt lại đều bị bắn. Đến Sosnowiec họ bị nhồi vào xe hàng. Trong một cử chỉ đặc biệt tử tế, người lính SS có nhiệm vụ tách trẻ con ra riêng đã cho Olek chung toa với Henry. Tàu đông tới nỗi tất cả đều phải đứng, nhưng khi bắt đầu có người chết vì lạnh và khát, một tù nhân mà Henry mô tả là “một người Do Thái khôn ngoan” bèn cho xác họ vào chăn và treo lên những móc buộc ngựa trên trần. Như thế sẽ có thêm chỗ cho người sống. Để cậu bé được thoải mái, Henry nảy ra ý treo Olek trong chăn đúng như vậy. Nhờ thế cậu bé vừa có một hành trình dễ chịu hơn, vừa có thể, khi dừng ở ga hoặc các đoạn tàu tránh, xin lính Đức bên dưới vê tuyết ném lên lưới sắt trên mái. Tuyết vỡ ra sẽ phát tán hơi ẩm vào lòng toa, và tù nhân sẽ tranh nhau vài mẩu vụn băng.

Mất bảy ngày tàu mới tới Dachau, và một nửa trên toa của Rosner đã chết. Khi tàu rốt cuộc cũng dừng bánh và mở cửa, một xác chết rơi ra, còn Olek, vừa lồm cồm bò dậy từ trong tuyết, lập tức bẻ gãy một trụ băng bám dưới gầm tàu và liếm lấy liếm để. Điều kiện đi lại ở châu Âu tháng Một năm 1945 là như thế.

Đối với tốp thợ mỏ ở Goleszów tình hình còn thảm hơn. Vận đơn cho hai toa hàng chở họ, hiện được lưu giữ trong tàng thư ở Yad Vashem, cho thấy hơn mười ngày liền họ không được ăn uống gì, cửa toa bị băng đóng chặt. R, một cậu bé mười sáu, nhớ lại, họ phải cào băng đóng ở mặt trong toa tàu ăn cho đỡ khát. Đến Birkenau họ cũng không được xuống. Guồng máy sát nhân đang vào những ngày cuối cùng điên cuồng nhất. Nó không có thời gian cho họ. Họ bị bỏ mặc ở đoạn tàu tránh, nối lại vào đầu máy, lê đi năm mươi dặm rồi lại tháo ra. Họ được kéo đến trước các cổng trại, nơi những viên Commandant từ chối nhận họ vì lý do hiển nhiên là đến giờ họ đã không còn chút giá trị sản xuất nào, và vì đằng nào thì ở khắp nơi, cơ sở vật chất - giường tầng và khẩu phần - đều đã tới hạn.

Tờ mờ sáng một ngày cuối tháng Một, họ bị tháo ra và bỏ lại trên sân ga Zwittau. Oskar bảo một người bạn từ ga gọi cho ông báo ở trong toa tàu có người cào vách và kêu gào. Họ van xin bằng đủ thứ tiếng, vì những người bị nhốt, hồ sơ cho thấy, bao gồm dân Slovenia, Ba Lan, Czech, Đức, Pháp, Hungary, Hà Lan và Serbia. Nhân vật gọi điện rất có khả năng là em rể Oskar. Oskar bảo anh cho kéo hai toa tàu từ chỗ tàu tránh đến Brinnlitz.

Đó là một sáng lạnh ghê hồn - ba mươi độ dưới không, theo lời Stern. Kể cả người vốn chính xác là Biberstein cũng bảo ít nhất phải là âm hai mươi độ. Poldek Pfefferberg bị dựng dậy khỏi giường, mang theo đồ hàn đến chỗ tàu tránh ngập tuyết để phá những cánh cửa đóng băng cứng như sắt. Anh cũng nghe thấy tiếng rên rỉ kinh dị từ bên trong.

Thật khó lòng miêu tả cảnh tượng họ thấy khi cuối cùng những cánh cửa cũng bật mở. Chính giữa mỗi toa là một kim tự tháp xác người đông cứng, tứ chi cong queo ghê người. Hơn một trăm người sống sót bốc mùi kinh khủng, đen sì vì bỏng lạnh, chỉ còn da bọc xương. Không một ai nặng quá ba mươi lăm cân.

Oskar không có mặt. Ông đang ở nhà máy, nơi một góc ấm áp dưới tầng trệt được chuẩn bị sẵn sàng để đón đoàn người từ Goleszów. Tù nhân dỡ nốt những cỗ máy cuối cùng bị Hoffman bỏ lại và mang xuống ga ra. Rơm được đưa vào rải lên sàn. Schindler đã kịp lên đặt vấn đề với Liepold. Viên Untersturmführer không muốn nhận nhóm người từ Goleszów; về điểm này, y giống hệt những Commandant khác mà họ đã gặp mấy tuần qua. Liepold đưa ra lập luận sắc bén rằng không ai có thể giả vờ coi những người này là công nhân đạn dược. Oskar thừa nhận điều này, song cam kết đưa họ vào danh sách, đồng nghĩa với việc trả mỗi ngày 6 RM cho một người. “Tôi có thể sử dụng họ khi họ đã hồi phục,” Oskar nói. Liepold nhận thấy hai khía cạnh của vấn đề. Thứ nhất, y không thể ngăn cản Oskar. Thứ hai, tăng quy mô Brinnlitz và kèm theo đó là tăng phí nhân công sẽ làm hài lòng Hassebroeck. Liepold sẽ đưa tên họ vào sổ và ghi ngày nhập trại sớm lên, nghĩa là khi họ còn đang được khiêng vào cổng nhà máy, Oskar đã phải trả tiền cho họ rồi.

Vào trong xưởng, họ được quấn chăn và nằm nghỉ trên nệm rơm. Emilie từ nhà đi xuống, theo sau là hai tù nhân khiêng một xô cháo khổng lồ. Bác sĩ nhận thấy dấu hiệu bỏng lạnh và cần phải có kem trị bỏng. Bác sĩ Biberstein lưu ý Oskar rằng họ sẽ cần vitamin, dù ông e rằng khó mà kiếm nổi ở Moravia.

Trong khi đó mười sáu thi thể đóng băng được đưa vào lán. Giáo sĩ Levartov nhìn họ, và biết rằng với tứ chi cong queo vì lạnh như vậy, sẽ khó lòng chôn cất họ theo đúng nghi thức Chính thống, vốn không cho phép làm gãy xương người chết. Tuy nhiên việc này, Levartov biết, đòi hỏi phải thuyết phục viên Commandant. Trong các chỉ thị của Cục D gửi Liepold có ghi rõ phải nhanh chóng xử lý xác chết bằng cách hỏa thiêu. Phòng đặt nồi hơi là phương tiện hoàn hảo, lò luyện kim đủ sức làm bốc hơi thi thể. Thế nhưng Schindler đến nay đã hai lần từ chối việc hỏa thiêu người chết.

Lần thứ nhất là khi Janka Feigenbaum mất tại bệnh xá của Brinnlitz, Liepold ngay lập tức ra lệnh hỏa thiêu. Qua Stern, Oskar biết rằng nhà Feigenbaum và Levartov đều bi phẫn trước việc này, và thái độ phản đối của Oskar có lẽ được nhen nhóm bởi chút tàn dư Công giáo trong tâm hồn ông. Đó là thời kỳ Nhà thờ Công giáo gay gắt phản đối hình thức hỏa táng. Đồng thời với việc từ chối để Liepold sử dụng lò luyện, Oskar ra lệnh cho thợ mộc chuẩn bị quan tài, còn bản thân ông cung cấp xe ngựa, để Levartov và tang gia đưa thi hài ra chôn cất ngoài rừng dưới sự giám sát của lính gác. Hai bố con Feigenbaum đi sau xe tang, vừa đi vừa đếm bước từ cổng trại, để khi chiến tranh kết thúc còn tìm lại được thi hài Janka.

Nhân chứng kể rằng Liepold nổi giận trước hành vi nuông chiều tù nhân này. Một số cư dân Brinnlitz còn bình luận rằng Oskar đối với Levartov và nhà Feigenbaum bằng một thái độ nhẹ nhàng và lịch thiệp còn hơn cả bình thường ông đối với Emilie.

Lần thứ hai Liepold muốn sử dụng lò luyện là khi bà cụ Hofstatter mất. Oskar, đáp ứng đề nghị của Stern, cho đóng một cỗ quan tài khác, cho phép khắc một tấm bia kim loại ghi tiểu sử bà cụ bỏ vào quan tài. Levartov và một nhóm mười tráng đinh tụng kinh Kaddish cho người chết, được phép rời trại để tiến hành tang lễ.

Stern bảo rằng vì bà Hofstatter mà Oskar xây dựng một nghĩa trang Do Thái trong xứ đạo Công giáo ở Deutsch-Bielau, một làng lân cận. Theo lời ông, Oskar đến nhà thờ đúng ngày Chủ nhật khi bà Hofstatter mất và nêu đề xuất với cha xứ. Hội đồng xứ đạo họp gấp và đồng ý bán cho Oskar một mảnh đất nhỏ ngay ở ngoài nghĩa trang Công giáo. Chắc như đinh đóng cột rằng một số thành viên hội đồng phản đối, bởi đó là thời kỳ Luật Giáo hội được diễn giải rất ngặt nghèo đối với việc ai được và ai không được chôn cất ở đất thiêng.

Tuy nhiên, một số tù nhân cũng đáng tin cậy khác bảo rằng lô đất làm nghĩa trang được Oskar mua khi chuyến tàu từ Goleszów xuất hiện, với một phần mười là xác chết cong queo. Trong hồ sơ về sau, chính Oskar cũng ám chỉ rằng ông mua lô đất vì những thi hài từ Goleszów. Có người kể rằng, khi cha xứ đề cập đến mảnh đất ở ngoài tường nhà thờ, vốn dành cho những ca tự sát, và gợi ý chôn những người từ Goleszów tại đây, Oskar trả lời rằng họ không tự sát. Họ là nạn nhân của một cuộc thảm sát.

Dù sao đi nữa, cái chết của những tù nhân Goleszów và bà Hofstatter hẳn phải xảy ra gần nhau và đều được an táng với đầy đủ nghi lễ trong nghĩa trang Do Thái độc nhất vô nhị tại Deutsch-Bielau.

Qua cách đề cập của tù nhân Brinnlitz, có thể thấy rõ rằng nghi lễ này đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần trại viên. Những thi thể méo mó dỡ từ trên toa tàu xuống nhìn không còn ra hình người. Nhìn họ, người ta thấy khiếp sợ cho cái nhân tính chông chênh ở chính mình. Ăn uống, tắm rửa, ủ ấm thế nào cũng không xóa nổi sự phi nhân ấy. Cách duy nhất phục hồi được nhân tính cho họ - và cho chính mình - là bằng nghi lễ. Thánh lễ của Levartov, sự thăng hoa của bài kinh cầu Kaddish, do đó, với tù nhân Brinnlitz có sức nặng lớn lao hơn nhiều những nghi thức tương tự diễn ra trong cảnh thanh bình tương đối của Cracow thời tiền chiến.

Để giữ nghĩa trang sạch sẽ phòng khi cần tới, Oskar thuê một Unterscharführer SS trung niên làm quản trang và trả lương đàng hoàng.

*

Emilie Schindler cũng có những giao dịch của riêng mình. Mang theo chiếc xắc tay đựng giấy tờ do Bejski giả mạo, chỉ huy hai tù nhân chất đầy vodka và thuốc lá lên xe tải, và lệnh cho họ chở bà đến thị trấn mỏ Ostrava ở gần biên giới vùng Đức thuộc. Tại bệnh viện quân y, bà dàn xếp với các mối làm ăn của Oskar và mang về kem trị bỏng lạnh, sulfa, và các loại vitamin mà Biberstein ngỡ chẳng thể nào mua nổi. Những hành trình như vậy đã thành thông lệ với Emilie. Bà đã dần trở thành một lữ khách, như chồng mình.

Sau những cái chết đầu tiên, không có ai chết nữa. Đoàn người từ Goleszów được xem là Mussulman, mà nguyên lý đầu tiên là tình trạng của Mussulman không thể đảo ngược. Nhưng ở Emilie có một sự ương bướng không chịu chấp nhận điều đó. Bà nhồi nhét cho họ từng xô cháo bột. “Trong số những người được giải cứu khỏi Goleszów,” bác sĩ Biberstein nói, “sẽ không một ai sống sót nếu thiếu sự chăm sóc của Emilie.” Họ bắt đầu nhúc nhắc đi lại trong xưởng, gắng tỏ ra hữu ích. Một hôm viên thủ kho Do Thái sai một người đem một thùng hàng xuống xưởng. “Cái thùng nặng ba mươi lăm cân,” cậu ta đáp, “còn tôi nặng ba mươi hai. Tôi khiêng thế quái nào được?”

Nhà máy của những máy móc vô dụng, sàn rải bù nhìn rơm này là nơi Herr Amon Goeth tìm đến mùa đông ấy, sau khi ra tù, để viếng thăm nhà Schindler. Tòa án SS cho gã ra tù vì bệnh tiểu đường. Gã mặc một bộ đồ cũ, có lẽ là quân phục đã lột bỏ quân hàm. Có nhiều đồn đoán về ý nghĩa của cuộc viếng thăm này, kéo dài đến tận ngày nay. Một số nghi Goeth đến xin tiền, số khác đoán Oskar còn giữ hộ gã gì đó - tiền hoặc hiện vật từ một trong những cú áp phe cuối cùng của gã ở Cracow, với Oskar trong vai trò đầu mối. Một số làm việc sát văn phòng của Oskar khẳng định Amon thậm chí đã xin một chân quản lý tại Brinnlitz. Không ai có thể bảo gã thiếu kinh nghiệm. Thực ra, ba kịch bản về động cơ của Amon khi tìm đến Brinnlitz đều có cơ sở, dù khó có khả năng Oskar từng làm đầu mối cho gã.

Khi Amon bước qua cổng trại, có thể thấy lao tù và khổ não đã bào mòn gã. Khuôn mặt gã không còn nung núc thịt. Dung mạo gã gần giống Amon hồi mới đến Cracow đầu năm 1943 để giải tán ghetto, nhưng lại có điểm khác, vì có màu bợt của bệnh vàng da và sắc xám của ngục tù. Còn nếu tinh mắt, nếu có gan nhìn, ta sẽ thấy một nét thụ động mới xuất hiện. Một số tù nhân, từ máy tiện liếc lên, chỉ thoáng thấy bóng ma từ vực thẳm những cơn mộng kinh hoàng nhất của họ, không kèn không trống lướt qua từng ô cửa, băng qua sân nhà máy tiến về văn phòng của Herr Schindler. Helen ngồi đờ dại, chỉ có duy nhất một mong muốn là gã biến mất lần nữa. Nhưng cũng có người huýt sáo chê bai, người thì cúi xuống máy và nhổ nước bọt. Đám phụ nữ lớn tuổi hơn giơ món đồ đan dở về phía gã như thách thức. Đó là cách báo thù của họ - chứng tỏ rằng bất chấp mọi sự khủng bố của gã, đàn ông vẫn cuốc đất và đàn bà vẫn dệt vải.

Nếu Amon định xin việc ở Brinnlitz - một viên Hauptsturmführer bị đình chỉ chức vụ vốn chẳng có nhiều chỗ để đi - Oskar đã thuyết phục, hoặc đã đút tiền để gã từ bỏ ý định ấy. Và như vậy, lần gặp gỡ này cũng như mọi cuộc tiếp xúc khác giữa họ. Theo phép lịch sự Herr Direktor dẫn Amon đi thăm nhà máy, và khi xuống xưởng, công nhân vẫn phản ứng với gã ra mặt. Họ nghe lỏm được Amon, khi quay lại văn phòng, đòi Oskar trừng phạt tù nhân vì bất kính, còn Oskar gầm gừ khỏa lấp, cam kết sẽ có biện pháp xử lý bọn Do Thái giảo hoạt, và bày tỏ lòng kính trọng trước sau như một của bản thân với Herr Goeth.

Mặc dù SS cho gã tại ngoại, quá trình điều tra vẫn tiếp diễn. Thẩm phán của tòa SS mấy tuần trước đã đến Brinnlitz để thẩm vấn Mietek Pemper lần nữa về quy trình quản lý của Amon. Trước khi cuộc hỏi cung bắt đầu, Commandant Liepold đã khẽ dặn Pemper rằng nên cẩn thận thì hơn, viên thẩm phán muốn bắt anh tới Dachau để hành quyết sau khi vắt kiệt chứng cứ từ anh. Pemper khôn ngoan đã làm tất cả những gì có thể để thuyết phục viên thẩm phán về tính chất vụn vặt của công việc mà anh đảm nhận tại văn phòng của trại Płaszów.

Không rõ vì sao Amon biết được việc điều tra viên của SS theo đuổi Pemper. Ngay khi vừa đến Brinnlitz, gã đã chặn người thư ký cũ ở văn phòng ngoài của Oskar và tra vấn anh viên thẩm phán đã hỏi những gì. Pemper tin rằng, và cũng hợp lý thôi, anh đã thấy trong mắt Amon nỗi căm hận rằng tên tù nhân một thời của mình nay vẫn là một kho chứng cứ biết đi cho Tòa SS. Dĩ nhiên Amon chẳng còn quyền hành gì, đã gầy đi, rầu rĩ trong bộ vét cũ, bạc nhược trong văn phòng của Oskar. Những ai mà biết được. Gã vẫn là Amon, vẫn còn tác phong uy quyền. Pemper nói, “Thẩm phán dặn tôi không được nói với ai về vụ thẩm vấn.” Goeth nổi khùng và dọa sẽ tố với Herr Schindler. Đấy có thể coi như một dấu hiệu về sự bất lực mới ở Amon. Gã chưa bao giờ phải cầu đến Oskar để yêu cầu trừng phạt một tù nhân.

Đêm thứ hai sau cuộc viếng thăm của Amon, chị em thấy đắc thắng hơn. Gã chẳng làm gì được họ. Họ thuyết phục Helen Hirsch cũng hãy tin như vậy. Nhưng cô vẫn ngủ không yên.

Lần cuối cùng các tù nhân bắt gặp Amon là khi gã trên đường lên xe ra ga Zwittau. Trong quá khứ chưa bao giờ gã ba lần đến nơi nào mà không khiến trời sập xuống đầu một kẻ khốn khổ nào đó. Bây giờ thì rõ là gã chẳng còn quyền hành gì nữa. Ấy thế nhưng chẳng phải ai cũng dám nhìn thẳng mặt khi gã rời đi. Ba mươi năm sau, trong giấc ngủ của những cựu tù ở Płaszów, từ Buenos Aires đến Sydney, từ New York đến Cracow, từ Los Angeles đến Jerusalem, Amon vẫn còn quần thảo. “Trông thấy Goeth,” Poldek Pfefferberg, “là thấy tử thần.”

Thế nên, từ góc độ bản thân, gã chưa bao giờ thất bại hoàn toàn.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.