Bác sĩ Sedlacek hứa một chuyến đi không lấy gì làm dễ chịu, và quả có vậy. Oskar mặc một chiếc áo khoác loại tốt, va li và một túi đầy chứa đủ thứ tiện nghi mà ông sẽ rất cần vào chặng cuối. Dù có giấy tờ hợp lệ, nhưng ông không muốn phải dùng đến chúng. Nếu không phải xuất trình giấy tờ tại biên giới là tốt nhất. Sau này, ông luôn có thể phủ nhận mình đã đến Hungary tháng Mười hai năm ấy.
Ông đi trên chuyến tàu hàng chất đầy từng xấp báo Đảng Quốc xã, Völkischer Beobachter, sang bán tại Hungary. Bị nhốt giữa mùi mực in, và những hàng chữ gothic in đậm trên tờ báo chính thống của Đức, ông lắc lư xuôi Nam, băng qua dãy núi mùa đông giá rét của Slovakia, qua biên giới Hungary, đến bình nguyên Danube.
Họ đặt phòng cho ông ở Pannonia, gần trường đại học, và buổi chiều khi ông vừa đến, Samu Springmann bé nhỏ và đồng sự, bác sĩ Rezso Kastner, đến gặp ông. Hai người đàn ông đi thang máy lên phòng Schindler hôm ấy đã nghe phong thanh từ những người tị nạn. Những tin tức của họ chỉ là từng sợi chỉ đơn lẻ. Chính chuyện họ thoát nạn đã cho thấy họ không biết gì nhiều về sự bố trí của nó, chức năng chi tiết của nó, con số nó đạt đến. Kastner và Springmann đều tràn đầy hy vọng, bởi - nếu nhận định của Sedlacek đáng tin cậy - tay người Đức Sudeten trên lầu sẽ đem đến cho họ cả tấm vải, báo cáo toàn diện đầu tiên về thảm họa ở Ba Lan.
Màn giới thiệu diễn ra ngắn ngủi, vì Springmann và Kastner đến để nghe và họ có thể thấy Schindler khát khao được nói. Không ai có ý định, giữa thành phố ám ảnh vì cà phê này, trịnh trọng hóa cuộc nói chuyện bằng cách gọi phục vụ phòng mang cà phê và bánh ngọt lên. Kastner và Springmann, sau khi bắt tay người Đức khổng lồ, ngồi xuống. Riêng Schindler đi lại. Hình như khi cách xa Cracow và thực tại của Aktion và ghetto, những gì ông biết dằn vặt ông nhiều hơn so với khi thông tin ngắn gọn cho Sedlacek. Ông quần thảo khắp tấm thảm. Khách trọ tầng dưới chắc cũng nghe tiếng chân ông - ngọn đèn chùm chắc cũng chao đảo mỗi lần ông hạ bước, như tái hiện hành động của tên lính SS trong đội hành quyết ở Krakusa, kẻ đã lấy chân gí đầu nạn nhân xuống trước sự chứng kiến của cô bé áo đỏ ở cuối hàng người đang sắp rời đi.
Ông bắt đầu bằng những hình ảnh riêng tư về thảm trạng ở Cracow, những điều đã mắt thấy trên đường phố, tai nghe từ hai bên bức tường, từ người Do Thái lẫn SS. Trên cơ sở đó, ông cho biết mình đem theo thư của một số người trong ghetto, của bác sĩ Chaim Hilfstein, của bác sĩ Leon Salpeter, của Itzhak Stern. Thư của bác sĩ Hilfstein, Schindler nói, chính là báo cáo về nạn đói. “Khi đã tiêu hết mỡ trên cơ thể.” Oskar nói, “nó bắt đầu ăn lên não.”
Các ghetto sắp sửa bị triệt tiêu, Oskar cho biết. Tình hình ở Warsaw hay Łódź hay Cracow đều như nhau. Dân số ở ghetto Warsaw đã giảm đến bốn phần năm, Łódź đến hai phần ba, Cracow còn một nửa. Số này đã bị chuyển đi đâu? Một số vào trại lao động, nhưng quý vị có mặt tại đây phải chấp nhận thực tế rằng ít nhất ba phần năm đã biến mất trong những trại sử dụng phương pháp khoa học tân tiến kia. Và những trại kiểu ấy không phải là ngoại lệ. SS có tên chính thức cho chúng - Vernichtungslager: Trại Diệt chủng.
Trong vài tuần qua, theo Oskar, khoảng hai ngàn người trong ghetto Cracow đã bị đưa đi, không phải đến phòng hơi ngạt ở Bełżec, mà đến các trại tập trung gần thành phố. Một cái ở Wieliczka, và cái kia ở Prokocim, cả hai đều là ga đường sắt trên tuyến Ostbahn chạy ra mặt trận Nga. Từ Wieliczka, và Prokocim, hằng ngày họ được giải đến một công trường ở làng Płaszów, thuộc ngoại vi thành phố, nơi đang thi công san nền một trại lao động khổng lồ. Cuộc sống ở trại lao động dạng này, Schindler nói, chẳng nhàn hạ gì đâu - hai trại lính tại Wieliczka và Prokocim chịu sự chỉ huy của một hạ sĩ quan SS là Horst Pilarzik, kẻ đã thành danh từ tháng Sáu năm ngoái sau khi góp phần thanh lọc khỏi ghetto độ bảy ngàn người, trong số đó chỉ một người, một dược sĩ, sống sót trở về. Trại Płaszów sắp ra đời cũng sẽ được đặt dưới tay một kẻ tầm cỡ ấy. Ưu điểm của trại lao động là thiếu phương tiện kỹ thuật để sát sinh có hệ thống. Đằng sau chúng là một mục đích khác. Chúng có lý do kinh tế để tồn tại - hằng ngày tù nhân từ Wieliczka và Prokocim được giải đến để thi công các công trình khác nhau, giống như ở ghetto. Wieliczka, Prokocim, và trại lao động sắp ra đời ở Płaszów chịu sự quản lý của các trùm cảnh sát Cracow, Julian Scherner và Rolf Czurda, trong khi các Vernichtungslager trực thuộc trung ương - Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS ở Oranienburg gần Berlin. Vernichtungslager cũng sử dụng tù nhân làm lao động một thời gian, nhưng công năng tối hậu của chúng là cái chết và các sản phẩm phái sinh của nó - tái chế quần áo, đồ trang sức, kính, đồ chơi, thậm chí cả da và tóc người chết.
Đang say sưa giải thích sự khác biệt giữa trại diệt chủng với trại lao động cưỡng bức, Schindler bỗng nhiên tiến ra vặn tay nắm mở cửa, nhìn ra hai đầu hành lang trống không. “Tôi biết thành phố này có tiếng về nghe trộm,” ông giải thích. Springmann bé nhỏ đứng dậy và đỡ khuỷu tay Schindler, “Pannonia cũng không đến nỗi nào,” ông khẽ bảo Oskar, “Victoria mới là tổ của Gestapo.”
Schindler rà soát hành lang lần nữa, đóng cửa, rồi quay vào phòng. Ông đứng bên cửa sổ, tiếp tục báo cáo tăm tối của mình. Các trại lao động cưỡng bức sẽ được đặt dưới sự quản lý của những kẻ được bổ nhiệm vì sự khắc nghiệt và hiệu quả đã thể hiện trong các chiến dịch thanh lọc ghetto. Thỉnh thoảng sẽ có giết chóc, bạo hành và chắc chắn sẽ có tình trạng ăn bớt khẩu phần của tù nhân. Nhưng thế vẫn hơn là cầm chắc cái chết ở Vernichtungslager. Cuộc sống ở trại lao động sẽ dễ thở hơn và họ có thể đưa từng người riêng lẻ trốn thoát sang Hungary.
SS có tham nhũng như các lực lượng cảnh sát khác không? vị đại diện của ủy ban cứu nạn Budapest hỏi Oskar. “Từ kinh nghiệm của tôi,” Oskar gầm gừ, “chẳng tên nào là không hết.”
Khi Oskar kết thúc, căn phòng, dĩ nhiên, rơi vào im lặng, Kastner và Springmann không thuộc mẫu người dễ sốc. Suốt đời họ đã sống trong mối đe dọa từ cảnh sát chìm. Hoạt động của họ vừa bị cảnh sát Hungary nghi ngờ - chỉ yên ổn nhờ Samu khéo quan hệ và đút lót - vừa bị giới Do Thái đức cao vọng trọng khinh rẻ. Chẳng hạn, Samuel Stern, Chủ tịch Hội đồng Do Thái và thành viên Quốc hội Hungary, sẽ bác bỏ báo cáo chiều nay của Oskar như một sự bịa đặt thâm độc, một sự lăng mạ với văn hóa Đức, thể hiện tính đúng đắn trong động cơ của Chính quyền Hungary. Bọn họ đã quen nghe những điều tồi tệ nhất.
Cho nên Springmann và Kastner nản lòng trước lời chứng của Schindler thì ít mà căng óc ra suy nghĩ thì nhiều. Giờ đây nguồn lực của họ trở nên nhỏ bé khi đã biết địch thủ của họ là gì - chẳng phải một gã khổng lồ Philistine thông thường và dễ hình dung, mà là chính Behemoth. Có lẽ từ lúc đó, họ đã theo đuổi suy nghĩ rằng cùng với những vụ mặc cả riêng lẻ - thêm thức ăn cho trại này, giải cứu vị trí thức nọ, hối lộ để vỗ yên lòng nhiệt thành nghề nghiệp của gã SS kia - họ sẽ phải xây dựng một kế hoạch giải cứu đồ sộ hơn nhiều và tốn kém kinh người.
Schindler buông mình xuống ghế. Samu Springmann nhìn sang nhà công nghiệp đang kiệt sức. Ông đã gây ấn tượng kinh khủng với họ, Springmann nói. Tất nhiên họ sẽ báo cáo với Istanbul tất cả những điều Oskar vừa kể. Họ sẽ dùng nó để đánh động những người Zionist tại Palestine lẫn Ủy ban Cứu trợ Do Thái, để họ có hành động quyết liệt hơn. Đồng thời, thông tin sẽ được chuyển đến chính phủ Churchill và Roosevelt. Springmann thừa nhận nỗi lo của Oskar, rằng chưa chắc người ta đã tin lời ông, là có cơ sở, tất cả những chuyện đó thật khó tin. “Thế nên,” ông ta tiếp, “tôi kêu gọi ông đích thân đến Istanbul nói chuyện với họ.”
Sau một thoáng chần chừ - không biết do tiếng gọi của việc kinh doanh sứ tráng men hay vì nỗi hiểm nguy phải vượt biên nhiều lần - Schindler đồng ý. Cuối năm nay, Springmann đáp. “Trước mắt, ông sẽ gặp bác sĩ Sedlacek tại Cracow thường xuyên.”
Họ đứng dậy, và Oskar có thể thấy họ đã biến thành hai người khác. Sau khi cám ơn ông, họ ra về và, trong khi xuống cầu thang, đã hoàn toàn hóa thành hai doanh nhân Budapest trầm ngâm, mới nghe được tin tức đáng lo ngại về cung cách điều hành bừa bãi tại các chi nhánh.
Buổi tối bác sĩ Sedlacek tới khách sạn tìm Oskar và đưa ông ra phố xá nhộn nhịp để đi ăn ở khách sạn Gellert. Bàn họ ngồi nhìn ra sông Danube, những sà lan sáng đèn, phố xá lung linh trên bóng nước bên kia sông. Thành phố toát lên bầu không khí tiền chiến, và Schindler bắt đầu cảm thấy mình lại là du khách. Sau buổi chiều kiêng cữ, ông uống loại vang Hungary sóng sánh tên gọi Huyết Bò trong một cơn khát chậm rãi, chuyên chú, và góp thành một dãy chai không trên bàn.
Ăn được nửa bữa, họ đón một vị khách mới, tiến sĩ Schmidt, nhà báo người Áo, cùng nhân tình, một cô gái Hungary tóc vàng thanh tú. Schindler ngưỡng mộ trang sức của cô gái và tiết lộ ông cũng là dân mê đá quý. Nhưng khi chuyển sang rượu mơ, ông bắt đầu kém thân thiện. Ông ngồi đó, hơi cau mày, lắng nghe Schmidt ba hoa về giá bất động sản, mua bán ô tô và đua ngựa. Cô gái chăm chú lắng nghe, vì trên cổ và tay cô chính là kết quả của những thương vụ ấy. Nhưng Oskar bất ngờ lộ rõ vẻ chán ghét. Bác sĩ Sedlacek thầm thú vị: có lẽ Oskar thấy ở đây một phần bóng dáng sự giàu xổi và xu hướng làm ăn bên bờ phi pháp của chính mình.
Tàn tiệc, Schmidt và cô gái đi chơi hộp đêm, còn Sedlacek cẩn thận đưa Schindler đến một quán khác. Họ uống barack thả dàn và xem trình diễn trên sân khấu.
“Tay Schmidt này,” Schindler hỏi, muốn giải tỏa thắc mắc để thoải mái vui cho hết đêm. “Ông có dùng hắn không?”
“Có.”
“Tôi nghĩ không nên dùng những kẻ như thế,” Oskar nói. “Hắn là ăn cắp.”
Bác sĩ Sedlacek quay mặt đi, giấu nụ cười nửa miệng.
“Làm sao ông dám chắc hắn sẽ bàn giao chỗ tiền đã nhận?” Oskar hỏi.
“Chúng tôi cho hắn ăn phần trăm,” bác sĩ Sedlacek đáp.
Oskar ngẫm nghĩ tròn nửa phút. Rồi lầm bầm, “Tôi không muốn phần trăm gì sất. Và đừng ai gợi ý chuyện đó với tôi.”
“Tốt thôi,” Sedlacek đáp.
“Ta ngắm gái đi thôi,” Oskar nói.