Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20

❊ ❊ ❊

Hai ngày sau khi các chủ nhà máy thị sát Płaszów, Schindle đến văn phòng tạm của Commandant Goeth trong thành phố, với tặng phẩm là một chai brandy. Lúc này tin tức về vụ sát hại Diana Reiter đã tới Emalia và càng củng cố quyết tâm của Oskar giữ nhà máy ở ngoài Płaszów.

Hai người đàn ông cao lớn ngồi đối mặt, giữa họ có một sự ngầm hiểu, cũng như ở cuộc giao tiếp ngắn ngủi giữa Amon và Diana Reiter. Cả hai đều biết người kia đến Cracow để làm giàu; và vì thế Oskar sẵn lòng đem tiền đổi lấy ân huệ. Ở cấp độ ấy, Oskar lẫn viên Commandant hiểu nhau rất rõ. Oskar có thiên khiếu của một người bán hàng, đối đãi với những kẻ mình khinh ghét như thể với tri âm tri kỷ, và Herr Commandant đã bị mắc lừa tuyệt đối đến nỗi luôn tin Oskar là bạn mình.

Nhưng qua lời chứng của Stern và nhiều người khác, sự thực là, ngay từ buổi đầu gặp gỡ, Oskar đã căm ghét Goeth, kẻ đến với việc sát nhân thản nhiên như thư lại đến công sở. Oskar có thể đối thoại với Amon tay quản lý, Amon kẻ đầu cơ, nhưng đồng thời hiểu rõ chín phần mười con người viên Commandant nằm ngoài tư duy lý trí thông thường của nhân tính. Quan hệ làm ăn và xã hội giữa Oskar và Amon khăng khít đến nỗi khơi gợi giả thuyết rằng Oskar, trên góc độ nào đó, và bất chấp bản thân, bị hấp dẫn trước sự tà ác của con người này. Trên thực tế, không người quen nào của Oskar, hồi ấy cũng như sau này, thấy bất cứ dấu hiệu nào của sự mê muội ấy. Oskar khinh ghét Goeth theo cách trực diện và mãnh liệt nhất. Lòng căm ghét này rồi sẽ gia tăng không giới hạn, và sự nghiệp của Schindler sẽ minh chứng mạnh mẽ cho điều đó. Tuy vậy, vẫn khó tránh khỏi suy nghĩ Amon chính là người anh em ma quỷ của Oskar, là tên đao phủ điên rồ cuồng tín mà Oskar, nếu những ham muốn trần tục ở ông chẳng may bị đảo chiều, đã có thể trở thành.

Với chai brandy làm cầu nối, Oskar giải thích cho Amon tại sao không thể chuyển vào Płaszów. Nhà máy của ông quá đồ sộ. Ông tin rằng ông bạn Madritsch sẽ dọn vào, nhưng máy móc của Madritsch dễ vận chuyển hơn - chẳng qua là một lô máy may. Di chuyển máy ép kim loại hạng nặng sẽ phiền phức hơn nhiều, vì mỗi chiếc, như mọi loại máy móc phức tạp, đều có cố tật riêng. Công nhân lành nghề của ông đã quen với những cố tật này. Nhưng khi chuyển đến nhà máy mới, những cỗ máy này sẽ phát sinh chứng mới. Công việc sẽ bị chậm; việc ổn định sẽ mất nhiều thời gian hơn ông bạn Julius Madritsch đáng kính. Untersturmführer Goeth chắc cũng hiểu, với nhiều hợp đồng chiến tranh quan trọng cần đáp ứng DEF không thể mất ngần ấy thời gian. Herr Beckmann, người cùng cảnh với tôi, đã đuổi hết lao động Do Thái ở nhà máy Corona. Ông ấy không muốn bị phiền toái áp giải đám Do Thái từ Płaszów sáng ra nhà máy tối lại quay về. Thật không may số lao động Do Thái lành nghề của Schindler lại nhiều hơn Beckmann hàng trăm người. Nếu đuổi hết, ông sẽ phải huấn luyện lao động Ba Lan thay thế, và sản xuất sẽ lại đình trệ, càng nghiêm trọng hơn nếu ông theo đề nghị hấp dẫn của Goeth và dọn vào Płaszów.

Amon thầm nghĩ chắc Oskar sợ việc chuyển vào Płaszów sẽ cản trở mối buôn bán chợ đen đang ngon lành ở Cracow.

Viên Commandant vội trấn an Her Schindler rằng sẽ không ai can thiệp vào việc điều hành nhà máy. “Lo ngại của tôi hoàn toàn ở khu sản xuất,” Schindler đáp, vẻ thành khẩn. Ông không muốn làm phiền viên Commandant, nhưng sẽ rất biết ơn, và ông chắc Tổng cục Quân giới cũng sẽ rất biết ơn, nếu DEF được phép giữ nguyên vị trí hiện tại.

Giữa những người như Goeth và Oskar, ý nghĩa của chữ “biết ơn” không hề trừu tượng. Biết ơn nghĩa là đền đáp. Biết ơn là rượu và kim cương. Tôi hiểu khó khăn của ông, Herr Schindler, Amon nói. Tôi sẵn lòng, sau khi ghetto giải thể, cung cấp lính gác để áp giải công nhân của ông từ Płaszów đến Zablocie.

*

Itzhak Stern, trong một chiều tới Zablocie vì công việc ở nhà máy Tiến bộ, bắt gặp Oskar đang ưu phiền và nhận thấy ở ông một cảm giác bất lực. Sau khi Klonowska đem cà phê vào để Her Direktor, như mọi lần, uống với một ly cognac, Oskar bảo Stern mình vừa đến Płaszów lần nữa: bề ngoài là khảo sát hạ tầng, thực tế là đánh giá xem bao giờ nơi này sẵn sàng đón Ghettomenschen[1]. “Tôi đã đếm thử,” Oskar nói. Ông đếm dãy lán vừa san nền ở đồi bên kia và kết luận nếu Amon định nhồi hai trăm nữ tù vào mỗi lán, và nhiều khả năng là thế, thì khu lán trên đồi sẽ chứa được độ sáu ngàn phụ nữ. Trại tù nam dưới chân đồi chưa nhiều nhà hoàn thiện, nhưng với tiến độ hiện nay ở Płaszów thì có thể xong trong vài ngày.

Tất cả công nhân đều biết điều sắp xảy ra, Oskar nói. Và giữ ca đêm ở lại nhà máy cũng chẳng ích gì, vì sau đận này, chẳng còn ghetto mà về nữa. Tôi chỉ biết khuyên họ rằng, Oskar nói, làm thêm một ngụm cognac, không nên trốn, trừ phi cầm chắc là trốn được. Ông nghe nói, khi càn quét xong chúng sẽ dỡ tung ghetto ra. Mọi hốc tường sẽ bị khám xét, mọi tấm thảm ở tầng áp mái sẽ bị lật lên, mọi căn hầm sẽ bị lục soát. Tôi chỉ biết khuyên họ rằng, Oskar nói, đừng chống cự.

Vậy là oái oăm thay, Stern, một trong những đối tượng của Aktion sắp tới, lại phải cố gắng vỗ về Herr Direktor, một nhân chứng không hơn. Sự quan tâm của Oskar với công nhân Do Thái có nguy cơ bị hòa loãng và cuốn đi trước tấn thảm kịch lớn hơn: cái kết sắp tới của ghetto. Płaszów là một cơ sở lao động, Stern nói. Như mọi cơ sở khác, tù nhân sẽ sống dai hơn nó. Nó khác với Bełżec, nơi chúng sản xuất cái chết như Henry Ford sản xuất ô tô. Phải ngoan ngoãn xếp hàng vào Płaszów cũng hèn người đi thật, nhưng đó chưa phải là tận thế. Khi Stern đã lý luận xong, Oskar đặt hai ngón cái xuống dưới mặt bàn và, trong vài giây, tưởng như muốn giật tung nó ra. Mẹ kiếp, Stern, ông thừa biết như thế là chưa đủ!

Đủ chứ, Stern nói. Đó là lối thoát duy nhất. Rồi ông tiếp tục lập luận, trích dẫn, chẻ sợi tóc làm tư cho tới khi bản thân thấy sợ hãi. Vì Oskar có vẻ đang rơi vào khủng hoảng. Nếu Oskar tuyệt vọng, Stern biết, tất cả công nhân Do Thái tại Emalia sẽ bị đuổi việc, vì Oskar sẽ muốn gột rửa triệt để khỏi việc làm ăn bẩn thỉu này.

Vẫn còn thời gian để cải thiện tình hình, Stern nói. Nhưng chưa phải bây giờ.

Từ bỏ nỗ lực xé toang mặt bàn, Oskar thả mình xuống ghế và trở về trạng thái ưu phiền. “Tên Amon Goeth ấy,” ông nói. “Hắn rất giỏi dụ dỗ người khác. Hắn có thể bước vào ngay bây giờ và dụ dỗ ông. Nhưng hắn là một tên điên.”

Buổi sáng cuối cùng của ghetto - trên thực tế là 13 tháng Ba, ngày Shabbat, Amon Goeth chính thức có mặt ở Plac Zgody, Quảng trường Hòa Bình, trước bình minh. Những quầng mây thấp xóa nhòa mọi tương phản giữa ngày và đêm. Gã thấy lính Sonderkommando đã tập kết tại bãi đất đóng băng của công viên nhỏ giữa quảng trường, rít thuốc và cười đùa khe khẽ, không để lộ sự có mặt của mình với cư dân ghetto tại các con phố xa hơn hiệu thuốc của Herr Pankiewicz. Những con phố lát nữa chúng sẽ hành quân đều vắng bóng người, như trong một thành phố mô hình. Những đống tuyết ố bẩn, chưa tan hết nằm kề bên rãnh nước và bờ tường. Có thể mạnh dạn đoán rằng viên Commandant đa cảm, khi nhìn quang cảnh trật tự ấy, và khi thấy tốp lính trẻ thân cận nhau giữa quảng trường và trước giờ hành động, sẽ trỗi dậy trong lòng tình phụ tử.

Amon làm một ngụm cognac trong khi đợi viên Sturmbannführer trung niên Willi Haase, người phụ trách chiến lược, dù chiến thuật thì không, của Aktion hôm nay. Hôm nay Ghetto A, từ Plac Zgody về phía Tây, khu chính của ghetto, nơi cư trú của tất cả dân Do Thái đang lao động (khỏe mạnh, hy vọng, ngoan cố) sẽ bị quét sạch. Ghetto B, khu định cư nhỏ ở phía Đông, gồm toàn người già, đứng cuối danh sách còn khả năng lao động. Khu này sẽ bị xóa sổ đêm nay hoặc ngày mai. Đích đến của họ sẽ là trại diệt chủng đang mở rộng quy mô lớn tại Auschwitz của Commandant Rudolf Höss. Nhiệm vụ ở Ghetto B thì đơn giản. Ghetto A mới là thách thức.

Ai cũng muốn có mặt hôm nay, vì ngày này sẽ đi vào lịch sử. Do Thái đã hiện diện ở Cracow hơn bảy trăm năm, nhưng đến tối nay - cùng lắm là ngày mai - bảy thế kỷ ấy sẽ chỉ còn là đồn đại, và Cracow sẽ trở thành judenrein (sạch bóng Do Thái). Và từ gã binh bét SS đều muốn được nói rằng mình đã tận mắt chứng kiến sự kiện này. Kể cả Unkelbach, Treuhänder của nhà máy dao kéo Tiến bộ, có tên trong lực lượng SS dự bị, cũng vận bộ quân phục hạ sĩ quan và gia nhập đội hình hành quân vào ghetto. Thế nên một kẻ ưu tú như Willi Haase, mang hàm sĩ quan và tham gia lên kế hoạch, đương nhiên có quyền tham dự.

Như thường lệ, Amon sẽ bị đau đầu nhẹ và thấy hơi kiệt sức, vì cơn sốt kiêm mất ngủ hồi tảng sáng. Tuy nhiên, có mặt tại đây, gã cảm nhận một niềm phấn khích nghề nghiệp. Đảng Quốc xã đã ban cho SS một món quà tuyệt vời khi cho phép họ ra trận mà không gặp nguy hiểm về thể xác, tìm kiếm vinh quang mà không bị nỗi sợ chẳng may trúng đạn giày vò. Nhưng nguy cơ tâm lý thì khó tránh hơn. Mọi sĩ quan SS đều có bạn bè tự sát. Tài liệu huấn luyện của SS, được xây dựng nhằm đối phó với những tổn thất vô nghĩa này, chỉ ra sự ngây thơ khi tin rằng vì thoạt nhìn, dân Do Thái không có vũ trang nên hoàn toàn không sở hữu vũ khí xã hội, kinh tế, hay chính trị nào. Kỳ thực, bọn chúng được vũ trang tận chân răng. Hãy sắt đá lên, tài liệu căn dặn, vì trẻ con Do Thái là bom văn hóa hẹn giờ, đàn bà Do Thái là sinh vật phản trắc, đàn ông Do Thái là kẻ địch hiển nhiên hơn bất cứ tên Nga nào.

Amon Goeth đã sắt đá. Gã biết không gì có thể làm gã động lòng, và ý nghĩ ấy làm gã phấn khích chẳng khác một vận động viên chạy đường trường với niềm tin tất thắng trước cuộc đua. Amon rất nản với những sĩ quan vì ưa sạch sẽ mà phó mặc tất cả cho binh lính và hạ sĩ quan. Gã cảm thấy như thế, trong chừng mực nào đó, còn nguy hiểm hơn tự mình hành sự. Gã sẽ đi trước làm gương, như với Diana Reiter. Gã biết cơn hưng phấn sẽ tích tụ và cảm giác thỏa mãn sẽ dâng lên, cùng với men rượu, khi chiều đến và trận càn tăng tốc. Kể cả dưới trời mây lem luốc này, gã biết đây là một trong những ngày đẹp nhất; khi gã già và dân tộc này đã tuyệt chủng, đám thanh niên sẽ tròn mắt tìm hiểu về những ngày như hôm nay.

Cách đó chưa đầy một cây số, tại bệnh viện hồi sức của ghetto, bác sĩ H ngồi cạnh những bệnh nhân cuối cùng, trong bóng tối, lấy làm mừng bởi họ bị cách ly ở tầng cao nhất của bệnh viện, cách xa đường phố, cô độc trong đau đớn và cơn sốt.

Bởi ở tầng dưới tất cả đều biết điều đã xảy ra tại bệnh viện truyền nhiễm gần Plac Zgody. Một phân đội SS dưới sự chỉ huy của Oberscharfüherer Albert Hujar khi tới để đóng cửa bệnh viện thì thấy bác sĩ Rosalia Blau đứng giữa dãy giường các bệnh nhân lao phổi và tinh hồng nhiệt, những người, như lời cô, không được di chuyển. Những trẻ bị ho cô đã cho về nhà. Nhưng những ca tinh hồng nhiệt không được di chuyển vì vừa nguy hiểm cho bệnh nhân và cho cộng đồng, còn các bệnh nhân lao thì quá yếu đi không nổi.

Do tinh hồng nhiệt là bệnh của tuổi dậy thì, nhiều bệnh nhân của bác sĩ Blau là các em gái tuổi từ mười hai đến mười sáu. Đối mặt với Albert Hujar, bác sĩ Blau chỉ vào các cô gái mắt to, đang lên cơn sốt, để bảo chứng cho chẩn đoán chuyên môn của mình.

Đích thân Hujar, thực thi sứ mệnh hắn nhận được tuần trước từ Amon Goeth, bắn vào đầu bác sĩ Blau. Các bệnh nhân truyền nhiễm, một số gắng gượng ngồi dậy, số khác không hay biết gì vì đang cơn mê sảng, bị hành quyết dưới một tràng súng tự động. Khi Hujar và thuộc hạ xong việc, một nhóm tù nhân ghetto được điều lên để dọn dẹp xác chết, thu dọn chăn ga đẫm máu, và lau chùi các bức tường.

Trụ sở của bệnh viện hồi sức trước chiến tranh là một đồn cảnh sát Ba Lan. Trong suốt thời gian tồn tại của ghetto cả ba tầng lúc nào cũng đầy bệnh nhân. Giám đốc bệnh viện là một thầy thuốc khả kính, bác sĩ B. Đến buổi sáng ảm đạm ngày 13, số bệnh nhân đã được bác sĩ B và H giảm xuống còn bốn người, tất cả đều không thể di chuyển. Một người là công nhân trẻ bị lao cấp tính; người thứ hai là một nhạc sĩ tài năng suy thận giai đoạn cuối. Đối với bác sĩ H điều quan trọng là làm sao tránh cho họ khỏi nỗi kinh hoàng sau chót của làn đạn điên cuồng. Nhất là với một bệnh nhân mù đột quy và một ông lão vừa phẫu thuật u ruột đang rất yếu và khổ sở vì phải thông ruột kết.

Đội ngũ ở đây, bao gồm bác sĩ H, có chuyên môn rất cao. Ở bệnh viện ghetto trang bị nghèo nàn này, đã ra đời nghiên cứu đầu tiên của Ba Lan về bệnh nguyên hồng cầu típ Well, một dạng bệnh tủy xương, và về hội chứng Wollf-Parkinson-White. Tuy nhiên, sáng nay, điều bác sĩ H bận tâm là câu hỏi về xyanua.

Từng tính đến khả năng tự tử, H đã tích trữ một lượng dung dịch a xít xyanic. Anh biết các bác sĩ khác cũng vậy. Năm qua trầm cảm đã trở thành căn bệnh đặc hữu ở ghetto. Nó đã lây sang bác sĩ H. Anh còn trẻ; anh rất sung sức. Nhưng chính lịch sử đã chuyển hóa thành ác tính. Việc có sẵn xyanua đã thành niềm an ủi cho bác sĩ H trong những ngày tồi tệ nhất. Đến giai đoạn cuối cùng này của ghetto, đây là dược phẩm duy nhất mà anh lẫn các đồng nghiệp còn dư dả. Sulfa chẳng còn bao nhiêu. Thuốc gây nôn, gây mê, thậm chí cả aspirin đều đã cạn. Xyanua là thứ thuốc phức tạp duy nhất còn sót lại.

Lúc năm giờ sáng nay, bác sĩ H đã thức giấc trong căn phòng tại phố Wit Stwosz vì tiếng xe tải dừng lại trước nhà. Từ cửa sổ nhìn xuống, anh thấy Sonderkommando đang tập kết bên sông, và biết chúng định giải quyết dứt điểm ghetto. Anh lao đến bệnh viện và thấy bác sĩ B và các y tá đều đã biết và đang thu xếp đưa tất cả bệnh nhân có thể di chuyển được xuống tầng để người thân hoặc bạn bè đưa về nhà. Và khi chỉ còn lại bốn người bệnh nặng, bác sĩ B bảo các y tá ra về, và tất cả đều phục tùng, trừ một y tá trưởng. Bà cùng bác sĩ B và H ở lại với bốn bệnh nhân cuối cùng trong bệnh viện gần như đã bỏ hoang.

Bác sĩ B và H không nói gì nhiều khi chờ đợi. Họ đều có xyanua, và không lâu sau, H biết rằng giải pháp ấy, đáng buồn thay, cũng đang chiếm lĩnh tâm trí bác sĩ B.

Tự sát là một cách. Nhưng cái chết êm ái cũng là một cách. Ý tưởng ấy làm H kinh sợ. Anh có khuôn mặt nhạy cảm và đôi mắt thanh tú khác thường. Anh bị giày vò ghê gớm vì hệ giá trị đạo đức gắn bó mật thiết với anh như một phần cơ thể. Anh biết một thầy thuốc, chẳng có gì dẫn lối ngoài đầu óc tỉnh táo và chiếc kim tiêm, có thể làm tính cộng, như với một danh sách mua sắm, để tính ra giá trị của hai lối thoát - tiêm xyanua, hay bỏ mặc bệnh nhân cho Sonderkommando. Nhưng H hiểu những việc này chẳng bao giờ là vấn đề của phép tính tổng, và đạo đức nghề nghiệp đứng cao hơn và dằn vặt hơn môn số học nhiều.

Thỉnh thoảng bác sĩ B lại ngó ra cửa sổ xem Aktion đã bắt đầu chưa, rồi quay lại H với vẻ bình thản đặc trưng nghề nghiệp trong mắt. Ông, H nhìn ra, cũng đang cân nhắc các lựa chọn, lướt qua từng mặt của nan đề, như người ta chẽ bài, rồi lặp lại từ đầu. Tự sát. Cái chết êm ái. Hydro xyanua. Một lối thoát hấp dẫn: đứng đợi đến khi chúng tìm thấy ta bên giường bệnh, như Rosalia Blau. Cách khác: sử dụng xyanua cho mình lẫn bệnh nhân. Ý tưởng này thuyết phục H hơn, không thụ động như lựa chọn đầu tiên. Ngoài ra, sau ba đêm liền tỉnh giấc giữa cơn trầm uất, anh cảm thấy cơ thể thèm thứ thuốc độc tác dụng nhanh như thể đó chỉ là thuốc phiện hay rượu mạnh bệnh nhân nào cũng cần để phút lâm chung được dễ dàng hơn.

Với người nghiêm túc như bác sĩ H, cám dỗ này là một lý do thuyết phục để không uống thứ thuốc đó. Những gương tuẫn tử đã in vào đầu anh từ thuở ấu thơ học kinh sách, khi cha đọc cho anh trước tác của Josephus, kể chuyện các chiến binh cuồng tín từ Biển Chết đã tự sát tập thể trong đêm bị quân La Mã bắt giữ. Nguyên tắc là, không được phép tìm đến cái chết như một bến cảng bình yên. Đó phải là lời từ chối đầu hàng quyết tuyệt. Dĩ nhiên, nguyên tắc là nguyên tắc, nỗi kinh hoàng của một sớm mai ảm đạm lại là chuyện khác. Nhưng H là con người của nguyên tắc.

Và anh còn vợ. Anh và vợ còn một lối thoát khác, và anh biết điều đó. Đó là đường cống ngầm gần góc phố Piwna và Krakusa. Cống ngầm và cuộc tẩu thoát nhiều rủi ro vào rừng Ojców. Lựa chọn đó, với anh còn đáng sợ hơn chìm vào hôn mê bằng xyanua. Tuy nhiên, nếu Cảnh sát Xanh hay lính Đức chặn anh lại, anh sẽ vượt qua bài kiểm tra, nhờ bác sĩ Lachs. Lachs là một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình có tiếng, người đã dạy một số thanh niên Do Thái ở Cracow kéo dài da quy đầu mà không làm chảy máu bằng cách đi ngủ với một vật nặng - một chai nước nặng dần theo thời gian - buộc vào chỗ đó. Theo lời Lachs, đó là phương pháp từng được người Do Thái sử dụng trong thời kỳ bị La Mã đàn áp, và hoạt động quyết liệt của SS tại Cracow đã buộc ông phải hồi sinh giải pháp này trong mười tám tháng qua. Lachs đã dạy anh bạn đồng nghiệp trẻ phương thức ấy, và việc nó phần nào hiệu nghiệm đã khiến H càng ít cơ sở để tự sát hơn.

Khi trời sáng, người y tá, một phụ nữ điềm tĩnh trạc bốn mươi, báo cáo tình hình với bác sĩ H. Anh thanh niên ở tình trạng tốt, nhưng bệnh nhân mù với khả năng nói bị ảnh hưởng sau đột quỵ thì trằn trọc. Người nhạc sĩ và ca rò hậu môn đều có một đêm đau đớn. Tuy nhiên, giờ bệnh viện đang rất tĩnh lặng; bệnh nhân thở hổn hển trong giấc ngủ cuối cùng hoặc cơn đau quen thuộc; và bác sĩ H bước ra ban công lạnh cóng nhìn xuống sân, để hút thuốc và cân nhắc nan đề kia một lần nữa.

Năm ngoái, bác sĩ H đang làm việc cho bệnh viện truyền nhiễm ở Rekawka thì SS quyết định đóng cửa khu này và di dời bệnh viện. Chúng bắt y bác sĩ đứng dựa tường và lôi bệnh nhân từ trên tầng xuống. H chứng kiến cảnh bà lão Reisman bị mắc chân vào lan can cầu thang, và tên SS đang cầm chân kia của bà lôi đi không buồn dừng lại gỡ bà ra mà cứ kéo tiếp tới khi một tiếng rắc vang lên báo hiệu cái chân đã gãy. Đấy là cách di chuyển bệnh nhân trong ghetto. Nhưng năm ngoái vẫn chưa ai nghĩ đến cái chết êm ái. Thời điểm ấy tất cả vẫn hy vọng tình hình sẽ khá hơn.

Giờ đây, kể cả khi anh và bác sĩ B đã quyết định, H cũng không rõ anh có đủ sắt đá để cho bệnh nhân uống xyanua, hay sẽ chứng kiến người khác làm việc đó và giữ thái độ bình thản nghề nghiệp. Sự tình này cũng oái oăm như hồi trẻ ta mê một cô gái, băn khoăn không biết có nên tỏ tình không. Kể cả khi đã quyết rồi, vẫn chẳng có ý nghĩa gì. Anh vẫn phải hành động trên thực tế.

Ngoài ban công, anh nghe thấy tiếng động đầu tiên. Nó đến sớm, từ đằng đông của ghetto. Tiếng hét Raus, raus![2] của loa phóng thanh, lời nói dối quen thuộc về hành lý mà một số người vẫn quyết định tin. Trên đường phố vắng tanh, và giữa những khu nhà nơi mọi cư dân đều bất động, dậy lên tiếng rì rầm bất tận đầy khiếp đảm, lan khắp từ mặt đường lát đá của Plac Zgody đến tận phố Nadwiślańska ven sông, khiến H rùng mình.

Rồi anh nghe thấy loạt đạn đầu tiên, to đến nỗi đánh thức các bệnh nhân. Tiếp nối bằng một âm thanh chát chúa bất ngờ, tiếng loa phóng thanh cộc cằn gầm thét, át đi tiếng đàn bà thảm thiết; tiếng rền rĩ ấy đứt đoạn dưới một tràng đạn mới, và lại một tiếng rền rĩ mới, sinh linh than vãn ấy bị xua đuổi bởi tiếng loa SS, bởi những nhân viên OD bồn chồn, bởi chính những người hàng xóm, tiếng khóc hoảng loạn nhạt dần về cuối ghetto, nơi có một cánh cổng. Anh biết âm thanh ấy có thể xuyên thủng cả tình trạng tiền hôn mê của người nhạc công suy thận.

Khi trở vào phòng bệnh, anh thấy họ đang quan sát mình - kể cả người nhạc công. Chưa cần nhìn, anh đã cảm nhận được cơ thể họ căng cứng trên giường, và ông cụ bị thông ruột kết rên lên vì cơ co thắt. “Bác sĩ, bác sĩ!” ai đó gọi. “Yên nào!” H đáp, như muốn nói tôi đây rồi, còn chúng vẫn ở rất xa. Anh nhìn sang bác sĩ B, thấy đôi mắt ông nhíu lại trước tiếng ồn của cuộc trục xuất vọng lại từ cách đó ba dãy phố. Bác sĩ B gật đầu, bước đến tủ thuốc nhỏ khóa kín cuối phòng, rồi quay lại với một chai hydro xyanua. Sau một thoáng, H tiến đến bên đồng nghiệp. Anh đã có thể đứng yên, để mặc bác sĩ B. Anh đoán ông thừa bản lĩnh để làm việc này một mình. Nhưng thật đáng hổ thẹn, anh nghĩ, nếu không tự mình bỏ phiếu, không nhận một phần trách nhiệm. Bác sĩ H, tuy tuổi đời trẻ hơn, xuất thân từ Đại học Jagiellonian, là một chuyên gia, một nhà tư tưởng. Anh muốn hậu thuẫn bác sĩ B bằng hết thảy những điều đó.

“Đây,” bác sĩ B nói, chìa lọ thuốc cho H xem qua. Lời ông gần như chìm dưới tiếng gào thét của một người đàn bà và những tràng ra lệnh, từ đầu kia phố Józefińska. Bác sĩ B dặn y tá. “Mỗi bệnh nhân bốn mươi giọt, hòa với nước.” “Bốn mươi giọt,” bà nhắc lại. Bà biết điều đó nghĩa là gì. “Đúng rồi,” bác sĩ B nói. Bác sĩ H cũng nhìn bà. Phải, anh muốn nói. Tôi mạnh mẽ rồi, tôi tự mình làm được. Nhưng nếu là tôi, họ sẽ cảnh giác. Tất cả bệnh nhân đều biết thuốc luôn do y tá mang đến.

Trong khi y tá pha thuốc, H đi xuống cuối phòng, và đặt tay lên người ông lão. “Tôi có thứ này để giúp ông, Roman,” anh nói. Bác sĩ H cảm thấy, trong niềm kinh ngạc, cả cuộc đời ông lão khi chạm tay vào người ông. Trong giây lát, như ngọn lửa chợt bùng lên, chàng thanh niên Roman hiện lên, trưởng thành từ xứ Galicia của Franz Josef, một tay sát gái ở thành phố như viên kẹo nougat nhỏ xinh, được mệnh danh là tiểu Vienna, hòn ngọc bên dòng Vistula. Mặc quân phục của Franz Josef, lên núi dự cuộc tập trận mùa xuân. Vào vai lính cậu ở Rynek Glowny với các thiếu nữ của Kazimierz, giữa thành phố của đăng ten và bánh ngọt. Leo đồi Kosciuszko và trộm một nụ hôn trong bụi cây. Sao thế giới có thể biến đổi ghê gớm thế trong một đời người? chàng trai trong ông lão Roman hỏi. Từ Franz Josef tới gã hạ sĩ quan được phép đem cái chết đến cho Rosalia Blau và các em gái bị tinh hồng nhiệt?

“Nào, Roman,” anh nói, ý muốn khuyên ông lão nên thả lỏng người. Anh biết chưa đầy một tiếng nữa Sonderkommando sẽ đến. Bác sĩ H cảm thấy, và cưỡng lại, cám dỗ tiết lộ tình hình cho ông lão. Liều thuốc của bác sĩ B khá mạnh. Vài giây nín thở và một cơn kinh ngạc nho nhỏ chẳng có gì là mới mẻ hay không thể chịu đựng nổi với ông lão Roman.

Khi người y tá quay lại cùng bốn cốc thuốc, không ai hỏi đó là gì. Bác sĩ H sẽ không bao giờ rõ có người nào biết hay không. Anh quay đi, nhìn đồng hồ. Anh chỉ sợ khi họ uống, một điều gì đó tồi tệ hơn những nấc, nghẹn thông thường ở bệnh viện sẽ xảy ra. Anh nghe người y tá khe khẽ, “Bác ơi dậy uống thuốc.” Và tiếng hít một hơi thật sâu. Không rõ là người bệnh hay y tá. Người phụ nữ ấy chính là anh hùng ở đây, anh nghĩ.

Khi anh nhìn lại, người y tá đang đánh thức bệnh nhân suy thận, người nhạc công ngái ngủ, đưa cho anh cốc thuốc. Từ đằng kia phòng bệnh, bác sĩ B, trong chiếc áo blu trắng, quan sát họ. Bác sĩ H đến bên ông lão Roman và bắt mạch. Không còn gì. Ở giường bệnh đầu kia, người nhạc sĩ cố nuốt thứ chất lỏng có mùi hạnh nhân.

Tất cả diễn ra êm ái như H hy vọng. Anh nhìn họ - miệng há ra, nhưng không quá ghê sợ, cặp mắt đờ đẫn và vô cảm, đầu ngửa ra sau, cằm hướng lên trần nhà - với vẻ ghen tị như bất kỳ cư dân ghetto nào đối với những kẻ thoát nạn.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Đức, nghĩa là người trong ghetto.

[2] Tiếng Đức: Ra ngoài, ra ngoài.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.