Bởi cả nhà máy chẳng sản xuất gì. “Một cái vỏ đạn cũng không” đến giờ các cựu tù Brinnlitz vẫn nhắc lại và lắc đầu. Không một viên đạn 45 mm, không vỏ rocket nào dùng được. Kết quả sản xuất của Oskar ở Brinnlitz hoàn toàn đối lập với thời DEF còn ở Cracow. Sản lượng đồ tráng men tại Zablocie lên tới 16 triệu RM Cùng thời gian này, xưởng đạn dược của Emalia sản xuất được 500.000 RM Oskar giải thích rằng ở Brinnlitz, “do sự suy thoái nói chung của ngành tráng men,” sản lượng thời gian này là con số không. Việc sản xuất đạn dược, theo ông, gặp khó khăn khi khởi nghiệp. Nhưng trên thực tế ông cũng đã chuyển đi được một chuyến “các bộ phận đạn dược” trị giá 35.000 RM “Số hàng này,” sau Oskar cho biết, “đã gần như hoàn chỉnh khi chuyển đến Brinnlitz. Tôi không thể cung cấp ít hơn, và lý do khó khăn khởi nghiệp ngày càng nguy hiểm hơn cho tôi lẫn lao động Do Thái của tôi, bởi vì Bộ trưởng Quân giới Albert Speer nâng yêu cầu theo từng tháng một.”
Nguy hiểm từ chính sách phi sản xuất của Oskar không chỉ ở chỗ nó gây tiếng xấu cho ông trên Bộ Quân giới. Nó còn khiến các cơ quan quản lý khác bức xúc. Bởi hệ thống nhà máy bị phân tán, nơi này sản xuất vỏ đạn, nơi kia cầu chì, nơi khác nhồi thuốc nổ và lắp ráp. Người ta lập luận rằng như thế việc một nhà máy bị ném bom sẽ không phá hủy triệt để được dây chuyền sản xuất vũ khí. Vỏ đạn của Oskar, sau khi chuyển đến các nhà máy tiếp theo trên dây chuyền, sẽ được kiểm định bởi các kỹ sư ông không quen biết và không tác động được. Sản phẩm của Brinnlitz chẳng bao giờ qua nổi vòng kiểm tra chất lượng. Oskar sẽ cho Stern, Finder, Pemper hay Garde xem những lá thư phàn nàn. Ông sẽ cười sằng sặc như thể tác giả những lời khiển trách ấy là những quan chức hề chèo.
Sau này đã có một lần như vậy. Stern và Mietek Pemper có mặt tại văn phòng của Oskar vào sáng 28 tháng Tư năm 1945, thời điểm cực kỳ nguy hiểm đối với các tư nhân, bởi tất cả đã, như sau này sẽ rõ, bị Sturmbannführer Hassebroeck kết án tử hình. Hôm đó là sinh nhật lần thứ ba mươi bảy của Oskar, và ông đã khui một chai cognac để ăn mừng. Trên bàn có một bức điện tín của nhà máy lắp ráp vũ khí gần Brno. Điện viết chất lượng lô vỏ đạn chống tăng của Oskar thấp đến mức trượt tất cả các bài kiểm tra chất lượng. Kích cỡ của chúng không chính xác, và vì tôi không đúng nhiệt độ nên chúng bị nứt khi thử nghiệm.
Oskar cực kỳ khoái trá, đẩy bức điện về phía Stern và Pemper bắt họ đọc. Pemper vẫn nhớ ông lại có một bình luận táo tợn nữa. “Đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất của tôi. Giờ tôi đã yên tâm rằng không gã tội nghiệp nào chết vì đạn tôi làm.”
Vụ việc này nói lên nhiều điều về hai hội chứng cuồng trái ngược nhau. Ở Oskar là con điên của một nhà sản xuất hoan hỉ khi mình không sản xuất. Nhưng còn có sự cuồng tín lạnh lùng của giới kỹ trị Đức, những kẻ khi Vienna đã thất thủ, quân của Thống chế Koniev đã tay bắt mặt mừng quân Mỹ trên sông Elbe, vẫn coi việc một nhà máy vũ khí ở miền trung du có thời gian để kiện toàn hoạt động và phục tùng nghiêm túc những nguyên tắc tối cao về kỷ luật và năng suất là lẽ đương nhiên.
Nhưng câu hỏi chủ yếu đặt ra từ bức điện mừng sinh nhật ấy là làm thế nào Oskar duy trì được suốt bảy tháng trời, cho đến ngày sinh nhật của mình.
Cư dân Brinnlitz vẫn nhớ một loạt các cuộc thanh, kiểm tra. Người của Cục D lùng sục khắp nhà máy, tay lăm lăm bảng tiêu chí. Kỹ sư từ Tổng cục Quân giới cũng vậy. Oskar luôn đãi đằng họ ăn trưa hoặc ăn tối, làm mềm họ bằng thịt nguội cùng cognac. Thời điểm này, trên khắp Đế chế những bữa trưa và bữa tối thịnh soạn đã trở nên hiếm hoi. Các tù nhân đứng máy tiện, lò luyện, máy ép kim loại đều khẳng định đoàn thanh tra mặc quân phục ngất ngưỡng đi tuần trong nhà máy, nồng nặc mùi rượu. Có một chuyện tất cả tù nhân đều kể về một viên thanh tra, tại một trong những cuộc khảo sát sau cùng trước khi chiến tranh kết thúc, huênh hoang rằng Oskar sẽ không chiêu dụ được y bằng tình hảo hữu, bữa trưa và rượu. Bà con đồn rằng, khi đi trên cầu thang từ ký túc xá xuống xưởng, Oskar đã cài chân y, làm y ngã lộn cổ xuống chân cầu thang vỡ đầu và gãy chân. Tuy nhiên cư dân Brinnlitz nhìn chung không nói được tên nhân vật cứng đầu này. Có người bảo đó là Rasch, trùm SS và cảnh sát trưởng Moravia. Không có tài liệu nào cho thấy bản thân Oskar từng xác nhận vụ này. Đây là một trong những câu chuyện phản ánh hình tượng Oskar qua mắt mọi người là một đấng ban phát toàn năng. Và cũng phải thừa nhận, một cách công bằng, rằng các tù nhân có quyền lưu truyền một huyền thoại như vậy, bởi họ là người chịu rủi ro nhiều nhất. Nếu huyền thoại làm họ thất vọng, cái giá họ phải trả sẽ vô cùng cay đắng.
Một lý do giúp Brinnlitz qua mặt đoàn kiểm tra là những chiêu trò không mệt mỏi từ đội ngũ công nhân lành nghề của Oskar. Họ chế lại tất cả đồng hồ trên lò luyện. Kim vẫn chỉ nhiệt độ chuẩn, nhưng thực tế ở trong lò thấp hơn hàng trăm độ. “Tôi đã liên hệ với nhà sản xuất,” Oskar sẽ tâm sự với đoàn thanh tra. Ông vào vai chủ doanh nghiệp âu sầu hoang mang vì lợi nhuận hao mòn. Ông sẽ đổ lỗi cho nền nhà máy, cho đội ngũ quản lý người Đức yếu kém. Ông lại viện dẫn “khó khăn khi khởi nghiệp”, hứa hẹn hàng tấn đạn dược trong tương lai khi vấn đề được khắc phục.
Ở xưởng máy, giống như bên lò luyện, bề ngoài tất cả đều bình thường. Máy móc có vẻ được căn chỉnh hoàn hảo, nhưng thật ra bị sai lệch một phần nghìn mi li mét. Hầu hết các thanh tra đều ra về không chỉ với thuốc lá và cognac làm quà, mà còn với niềm cảm thông mơ hồ trước những trắc trở mà con người tử tế này gặp phải.
Về sau Stern luôn khẳng định Oskar đã mua lại hàng thùng vỏ đạn từ các nhà máy khác ở Czech để giả làm sản phẩm của mình khi kiểm tra. Cả Pfefferberg cũng nói vậy. Không cần biết Oskar dùng tiểu xảo gì, quan trọng là Brinnlitz đã sống sót.
Có những lần để gây ấn tượng với những phần tử thù địch địa phương, Oskar mời các quan chức máu mặt tới tham quan nhà máy và ăn tối. Nhưng họ luôn là những người không nắm chuyên môn cơ khí và sản xuất đạn dược. Sau khi Herr Direktor bị giữ ở phố Pomorska, Liepold, Hoffman và viên thủ lĩnh Đảng Quốc xã sở tại viết thư cho mọi quan chức họ nghĩ ra - cấp quận, cấp tỉnh, cấp trung ương - để tố cáo Oskar, tinh thần thái độ của ông, quan hệ của ông, hành vi vi phạm luật sắc tộc và hình sự của ông. Sussmuth cho Oskar biết về cơn lũ đơn từ đổ tới Troppau. Oskar bèn mời Ernst Hahn xuống Brinnlitz. Tại tổng hành dinh ở Berlin, Hahn là cấp phó văn phòng phụ trách dịch vụ cho các gia đình SS. “Y là,” Oskar nhận xét với vẻ đạo mạo quen thuộc của kẻ phóng lãng, “một tên tửu quỷ.” Hahn tới cùng anh bạn nối khố Franz Bosch. Bosch, như Oskar từng có lần nhận xét, cũng “uống rượu như hũ chìm”. Y chính là kẻ sát hại gia đình Gutter. Dù vậy Oskar vẫn gạt bỏ sự khinh ghét để chào đón y, vì giá trị PR mà y mang lại.
Hahn xuất hiện tại Brinnlitz trong bộ quân phục lộng lẫy và không tì vết đúng như Oskar mong đợi. Nghĩa là đầy ruy băng và huân chương, bởi vì Hahn là dân SS kỳ cựu từ thời kỳ huy hoàng của đảng Quốc xã. Tháp tùng tay Standartenführer lung linh này là một viên phụ tá cũng long lanh không kém.
Liepold được mời đến, từ căn hộ y thuê bên ngoài trại, ăn tối cùng hai khách quý. Ngay từ đầu buổi, y đã hoàn toàn chịu lép. Vì Hahn mê Oskar; bợm nhậu nào cũng vậy. Về sau, Oskar mô tả hai thực khách và bộ quân phục chỉ là “làm màu”. Nhưng ít nhất Liepold giờ đã tin, nếu y viết thư tố cáo Oskar, nhiều khả năng thư sẽ dừng lại trên bàn một ông bạn nhậu nào đó của Herr Direktor, và như thế chỉ có hại cho y mà thôi.
Sáng ra, người ta thấy Oskar lái xe vào Zwittau, cười nói trên xe với các quý nhân từ Berlin. Đảng viên Quốc xã địa phương đứng trên vỉa hè, giơ tay chào đám rước của Đế chế khi nó đi qua.
Nhưng Hoffman không dễ bị dẹp yên như người khác. Ba trăm phụ nữ ở Brinnlitz, theo lời Oskar, không hề có “khả năng lao động”. Như đã nói, nhiều người cả ngày chỉ ngồi đan. Mùa đông năm 1944, với những người chỉ có độc manh áo tù kẻ sọc, đan chẳng hề là một thú vui nhàn tản. Hoffman chính thức khiếu nại lên SS về việc tù nhân ăn trộm len trong các kiện hàng của y. Đây là điều đáng hổ thẹn, phản ánh bản chất của cái gọi là cơ sở sản xuất đạn dược của Schindler.
Đến gặp Hoffman, Oskar thấy ông ta đang hả hê vì chiến thắng. “Chúng tôi vừa gửi thỉnh nguyện thư đề nghị Berlin cách chức anh,” Hoffman bảo. “Lần này bọn tôi có lời khai đã tuyên thệ, xác nhận nhà máy của anh vi phạm quy định của luật kinh tế và sắc tộc. Chúng tôi đề cử một kỹ sư Wehrmacht giải ngũ từ Brno đến tiếp quản nhà máy và đưa nó vào khuôn khổ.”
Oskar lắng nghe, xin lỗi, và cố tỏ ra ăn năn. Tiếp đó, ông gọi cho đại tá Erich Lange ở Berlin nhờ ỉm thỉnh nguyện thư của phe Hoffman đi. Việc dàn xếp ngoài tòa tiêu tốn của Oskar 8.000 RM; và cả mùa đông giới chức Zwittau, chính quyền lẫn Đảng, hành ông, gọi ông lên tòa thị chính tống đạt khiếu nại của các công dân về tù nhân hoặc về hệ thống xả thải của nhà máy.
*
Cô bé lạc quan Lusia đã có dịp chứng kiến một cuộc thanh tra của SS tiêu biểu cho phong cách của Schindler.
Lusia khi ấy vẫn dưỡng bệnh dưới hầm - cô sẽ ở đó suốt mùa đông. Các bạn cô đã đỡ và chuyển lên tầng để hồi sức. Nhưng dường như chất độc mà Birkenau nhiễm vào người Lusia là bất tận. Những cơn sốt trở đi trở lại. Các khớp cô sưng to. Nách cô lên nhọt. Khi nhọt vỡ rồi lành, cái mới lại mọc lên. Bất chấp khuyến cáo của bác sĩ Biberstein, bác sĩ Handler đã vài lần dùng dao lạng nhọt cho cô. Cô ở dưới hầm, no đủ, trắng nhợt, vẫn nhiễm bệnh. Khắp châu Âu mênh mông, đó là nơi duy nhất giúp cô sống sót. Cô ý thức rõ điều này, và chỉ mong cuộc đại tương tàn sẽ trôi qua trên đầu mình.
Trong cái hốc ấm áp dưới sàn nhà máy ấy, không phân biệt ngày đêm. Cánh cửa ở đầu cầu thang dẫn xuống hầm có thể bật mở bất kỳ lúc nào. Cô đã quen với những cuộc viếng thăm lặng lẽ hơn của Emilie Schindler. Cô nghe thấy tiếng ủng trên cầu thang và căng cứng toàn thân. Âm thanh ấy nghe như những Aktion ngày trước.
Hóa ra đó là Herr Direktor với hai sĩ quan từ Gröss-Rosen. Tiếng ủng sầm sập như sắp giẫm đạp lên cô. Oskar đứng cạnh hai viên sĩ quan khi họ quan sát không gian ảm đạm dưới hầm và nhìn cô. Lusia sực nghĩ, có lẽ cô hôm nay thế là hết. Cô là vật phải đem hiến tế để chúng thỏa mãn ra về. Cô ngồi khuất sau nồi hơi nhưng Oskar không hề có ý che giấu, trái lại còn đến bên giường cô. Nhờ hai quý khách SS có vẻ đã biêng biêng, Oskar có cơ hội nói riêng với cô. Lời ông sáo rỗng một cách huyền diệu, và cô sẽ không bao giờ quên được: “Đừng lo. Sẽ ổn cả thôi.” Ông đứng gần cô như để nhấn mạnh với hai viên thanh tra rằng ca bệnh này không lây.
“Con bé là dân Do Thái,” ông thản nhiên nói. “Tôi không muốn cho nó vào trạm xá. Viêm khớp. Kiểu gì cũng chết. Bác sĩ bảo nhiều lắm thì được 36 giờ nữa.”
Rồi ông thao thao về hệ thống nước nóng, nguồn cung cấp, việc dùng hơi nước để khử rận. Ông chỉ trỏ các loại đồng hồ, đường ống, xi lanh. Ông đi quanh giường cô, như thể nó là một phần của hệ thống. Lusia chẳng biết phải nhìn đi đâu, nên nhắm mắt hay mở mắt. Cô cố vờ hôn mê. Khi dẫn hai sĩ quan SS trở lại cầu thang, Oskar thận trọng ném cho cô một nụ cười. Kể ra như vậy cũng hơi quá đà, nhưng lúc đó Lusia không hề cảm thấy thế. Cô sẽ lưu lại đây sáu tháng, trước khi tập tễnh leo lên tầng vào mùa xuân, để tiếp tục cuộc đời trưởng thành trong một thế giới đã đổi thay.
Suốt mùa đông, Oskar lo xây kho vũ khí riêng. Quanh chuyện này cũng lắm truyền kỳ: có người bảo vũ khí được mua vào cuối đông từ quân kháng chiến Czech. Song Oskar hồi năm 1938, 1939 vẫn rành rành là đảng viên Quốc xã, mà có lẽ ông cũng cẩn trọng không giao dịch với quân Czech. Nhìn chung, phần lớn vũ khí có xuất xứ không tì vết từ Obersturmbannführer Rasch, trùm SS và cảnh sát trưởng Moravia. Trong đó có súng cạc bin, súng tiểu liên, súng lục, lựu đạn. Sau này, có lần Oskar thuận miệng kể lại vụ giao dịch ấy. Ông mua chỗ vũ khí này “trên danh nghĩa bảo vệ nhà máy, bằng một chiếc nhẫn lộng lẫy tặng vợ y [Rasch]”.
Oskar không hé lộ chi tiết màn trình diễn tại văn phòng của у ở Lâu đài Spilberk, Brno. Nhưng không khó để hình dung ra. Herr Direktor, âu lo về nguy cơ nô lệ nổi dậy khi chiến sự gần kề, sẵn sàng chết một cách đắt đỏ ở bàn làm việc với tiểu liên trong tay, vừa tiễn vợ đi trước bằng một viên đạn, nhằm tránh cho bà một kết cục tồi tệ hơn. Herr Direktor cũng đả động tới kịch bản quân Nga xuất hiện. Hai kỹ sư người Đức, Fuchs và Schoenbrun, các kỹ thuật viên trung hậu của tôi, và cô thư ký nói tiếng Đức nữa, họ xứng đáng có phương tiện tự vệ. Tất nhiên đây là nói gở vậy thôi. Tôi nên đổi sang đề tài gần gũi với chúng ta hơn, Herr Obersturmbannführer ạ. Tôi biết ngài rất mê đồ trang sức. Xin giới thiệu với ngài, một món tôi vừa kiếm được tuần trước.
Và thế là, chiếc nhẫn xuất hiện trên rìa tập giấy thấm của Rasch. Oskar rủ rỉ. “Nhìn thấy nó, tôi nghĩ ngay đến bà nhà.”
Khi đã có vũ khí, Oskar chỉ định Uri Bejski, em trai người thợ khắc dấu cao su, làm thủ kho. Uri nhỏ nhắn, xinh trai, lanh lợi. Mọi người vẫn thấy cậu ra vào tư gia của Schindler như con cái trong nhà. Emilie cũng rất quý cậu, đưa cả chìa khóa căn hộ cho cậu cầm. Frau Schindler cũng nảy sinh tình cảm mẹ con tương tự với đứa con sống sót của nhà Spira. Bà thường dắt cậu bé vào bếp, cho cậu ăn bánh mì lát phết margarine.
Sau khi chọn được một tốp tù nhân để huấn luyện, Uri lần lượt đưa từng người ra nhà kho của Salpeter để dạy họ về kết cấu của súng trường Gewehr 41W. Ba tổ tự vệ, mỗi tổ năm người, được thành lập. Trong số học viên có cả những cậu trai như Lutek Feigenbaum. Còn lại là các cựu binh như Pfefferberg, và một số người được công nhân của Schindler gọi là “dân Budzyn”.
Dân Budzyn là những sĩ quan, hoặc binh sĩ gốc Do Thái trong Quân đội Ba Lan. Họ đã sống sót qua đợt thanh trừng trại lao động Budzyn, từng thuộc quyền quản hạt của Untersturmführer Liepold. Liepold đã đưa họ theo y đến Brinnlitz. Có độ năm chục người, làm việc dưới bếp của Oskar. Trong ký ức mọi người, họ rất chính trị. Họ tiếp thu Chủ nghĩa Mác trong thời kỳ ở Budzyn, và mong đợi một Ba Lan Cộng sản. Điều trớ trêu là ở Brinnlitz họ lại sống trong căn bếp ấm cúng của nhà tư bản phi chính trị bậc nhất, Herr Oskar Schindler.
Quan hệ giữa họ với đa số tù nhân, những người (trừ nhóm Zionist) thuần túy tôn thờ chủ nghĩa sinh tồn, cơ bản tốt đẹp. Một số theo Uri Bejski học cách sử dụng vũ khí tự động, bởi trong Quân đội Ba Lan thập niên 1930, họ chưa biết tới loại vũ khí hiện đại như vậy bao giờ. Nếu Frau Rasch, trong những ngày sau cùng và trọn vẹn nhất khi đức lang quân nắm quyền tại Brno, có nhàn rỗi - trong một bữa tiệc, một buổi hòa nhạc ở lâu đài chẳng hạn - soi vào viên kim cương đã từ Oskar Schindler đến tay mình, bà ta sẽ thấy phản chiếu trong đó cơn ác mộng kinh hoàng nhất của mình cũng như của Führer. Một tên Do Thái Marxist có vũ trang.