Sự kiện đêm mồng 4 tháng Mười hai đã thuyết phục Stern rằng Oskar Schindler đích thực là mẫu người hiếm hoi nọ - người Goy chính trực. Kinh Talmud có một truyền thuyết về Hasidei Ummot Ha-olam, Người Hiệp nghĩa của các Dân tộc. Vào bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử, trên thế giới cũng có ba mươi sáu người như vậy. Stern không tin vào nghĩa đen của con số huyền bí này, nhưng thâm tâm ông tin ở truyền thuyết ấy, và ông tin ở tính chính đáng và khôn ngoan của nỗ lực biến Oskar Schindler thành một nơi tị nạn bằng xương bằng thịt.
Oskar cần vốn - thiết bị của nhà máy Rekord đã bị tịch thu một phần, trừ một số ít máy ép kim loại, bồn tráng men, máy tiện và lò luyện. Mặc dù Stern có thể là một nguồn ảnh hưởng tinh thần đáng kể với Oskar, nhưng người giúp ông tìm được vốn vay với những điều kiện tốt chính là Abraham Bankier, chánh văn phòng ở Rekord, người mà Oskar đã chiếm được cảm tình.
Hai người họ - Oskar cao lớn, hào hoa và Bankier thấp lùn, tinh ranh - đi gặp các nhà đầu tư tiềm năng. Theo Sắc lệnh ngày 23 tháng Mười một, tất cả tài khoản và két an toàn của người Do Thái ở ngân hàng đều bị chính quyền Đức nắm giữ trong các quỹ tín thác cố định, chủ nhân không thể tiếp cận hoặc lãnh lợi tức. Một số doanh nhân Do Thái giàu có và am hiểu lịch sử hơn, có quỹ bí mật bằng tiền mặt. Nhưng họ có thể dự báo, sau vài năm dưới thời Toàn quyền Hans Frank, tiền mặt cũng sẽ thành mạo hiểm; các tài bảo gọn nhẹ - kim cương, vàng, những vật có thể đổi chác - sẽ đáng giá hơn.
Bankier biết một số người quanh Cracow sẵn sàng rót vốn đổi lấy một số lượng sản phẩm cam kết. Thỏa thuận có thể là đầu tư 50.000 złoty để đổi lấy ngần nào đó kí lô xoong chảo một tháng, giao hàng từ tháng Bảy 1940, và kéo dài một năm. Đối với người Do Thái ở Cracow, khi Hans Frank còn ngự trị trong Wavel, đồ bếp còn an toàn và dễ tiêu thụ hơn tiền złoty.
Các bên tham gia hợp đồng - Oskar, nhà đầu tư, và Bankier trong vai trò trung gian - đều ra về tay trắng, một bản ghi nhớ thỏa thuận cũng không có. Hợp đồng hoàn chỉnh không có tác dụng gì, cũng không ai cưỡng chế thi hành được. Không có gì là cưỡng chế được hết. Tất cả chỉ trông vào độ chính xác trong đánh giá của Bankier về nhà sản xuất đồ trắng men đến từ Sudeten này.
Hai bên có lẽ sẽ gặp nhau tại căn hộ của nhà đầu tư ở Nội đô Cracow. Tranh của các danh họa phong cảnh Ba Lan được bà chủ nhà ngưỡng mộ và các tiểu thuyết Pháp được các cô con gái tươi tắn và mỏng manh thưởng thức sẽ lung linh trong ánh sáng của cuộc giao dịch. Mà cũng có thể nhà đầu tư đã bị tống cổ khỏi nhà và đang sống ở khu phố nghèo bên Podgórze. Ông ta đã sớm hứng chịu cú sốc - vừa mất nhà và nay đã thành nhân công cho chính doanh nghiệp của mình - tất cả chỉ trong vài tháng, và vẫn còn chưa hết năm.
Thoạt nhìn, có lẽ ta sẽ thi vị hóa câu chuyện nếu nói rằng Oskar không bao giờ bị cáo buộc không tuân thủ những hợp đồng phi chính thức này. Sang năm mới, ông sẽ mâu thuẫn với một nhà buôn Do Thái về lượng sản phẩm người này được nhận từ kho giao hàng của DEF trên phố Lipowa. Và vì chuyện đó mà người này sẽ suốt đời phê phán Oskar. Nhưng bảo Oskar quỵt nợ - thì chưa bao giờ.
Bởi Oskar bản chất là một kẻ trả tiền, người bằng cách nào đó luôn đem lại ấn tượng rằng mình có thể thực hiện những khoản thanh toán vô biên từ những nguồn vô tận. Dù gì đi nữa, trong bốn năm sắp tới, Oskar và những người Đức cơ hội khác sẽ kiếm được nhiều đến mức chỉ những kẻ bị lợi nhuận làm mờ mắt mới không trả được thứ mà cha Oskar hẳn sẽ gọi là món nợ danh dự.
*
Emilie Schindler lên Cracow thăm chồng lần đầu vào năm mới. Bà thấy đây là thành phố thú vị nhất mình từng biết, duyên dáng, dễ chịu, và cổ kính hơn hẳn Brno với những đám mây khói bụi công nghiệp.
Bà cũng ấn tượng với căn hộ mới của chồng. Cửa sổ mặt tiền nhìn xuống Planty, một vòng cung cây xanh duyên dáng chạy quanh thành phố, theo lối những bước tường thành cũ đã bị phá bỏ từ lâu. Cuối phố sừng sững pháo đài Wavel khổng lồ, còn giữa không gian cổ kính này là căn hộ thời thượng của Oskar. Bà ngắm nghía những thảm và rèm của bà Pfefferberg. Thành công của chồng bà hiển hiện trong chúng.
“Sang đây anh ăn nên làm ra quá,” bà nói.
Oskar biết thực ra bà đang nhắc đến món hồi môn, mà cha bà đã từ chối trả mười hai năm trước, khi lữ khách từ Zwittau về làng Alt-Molstein mách ông rằng con rể ông đang sống và yêu như một chàng trai chưa vợ. Cuộc hôn nhân của con gái ông đã diễn ra theo đúng kịch bản ông hàng lo ngại, và đừng hòng mà ông trả tiền.
Và tuy việc thiếu vắng 400.000 Reichsmark có thay đổi vận may của Oskar chút đỉnh, vị chủ nông trại làng Alt-Molstein không biết rằng điều này đã dằn vật con ông đến mức nào, khiến tính phòng vệ ở cô càng tăng, và rằng mười hai năm sau, khi điều đó không còn ý nghĩa gì với Oskar nữa, nó vẫn tiếp tục làm Emilie day dứt.
“Mình ơi,” Oskar luôn gầm gừ. “Tôi có bao giờ cần chỗ tiền ấy đếch đâu.”
Quan hệ ngắt quãng của Emilie với Oskar có vẻ điển hình cho một phụ nữ biết chồng mình không và sẽ không chung thủy, nhưng lại không muốn bằng chứng ngoại tình được trưng ra trước mũi mình. Chắc hẳn bà đã giao du ở Cracow một cách thận trọng, tham dự những bữa tiệc nơi bạn bè của Oskar chắc chắn biết rõ sự thật, biết cả tên những người đàn bà khác, những cái tên mà bà không thực sự muốn nghe.
Ngày nọ, một thanh niên Ba Lan - chính là Poldek Pfefferberg, người suýt nữa đã bắn chồng bà, nhưng dĩ nhiên bà không biết chuyện này - xuất hiện trước cửa căn hộ với một tấm thảm cuộn tròn trên vai. Đó là một tấm thảm nhập lậu từ Istanbul qua đường Hungary. Pfefferberg đã nhận nhiệm vụ lùng mua nó từ Ingrid, người đã tạm thời dọn ra ngoài khi Emilie đến thăm.
“Frau Schindler có nhà không?” Pfefferberg hỏi. Anh vẫn quen gọi Ingrid là Frau Schindler vì thấy như thế ít sỗ sàng hơn.
“Tôi là Frau Schindler đây,” Emilie đáp, thừa hiểu câu hỏi nghĩa là gì.
Pfefferberg tỏ ra có chút nhạy cảm để che giấu sự tình. Thật ra anh không cần gặp Frau Schindler, tuy đã nghe Herr Schindler kể nhiều về bà. Anh chỉ định gặp Herr Schindler để bàn chuyện công việc.
Herr Schindler không có nhà, Emilie nói. Bà mời Pfefferberg uống nước, nhưng anh vội từ chối. Emilie cũng hiểu điều đó nghĩa là gì. Chàng thanh niên hơi bị sốc trước đời tư của Oskar, và cảm thấy thiếu đàng hoàng nếu ngồi lại uống nước với nạn nhân.
*
Nhà máy Oskar vừa thuê thuộc khu Zablocie bên kia sông, ở số 4 phố Lipowa. Tòa nhà văn phòng nhìn ra đường, có thiết kế hiện đại, và Oskar nghĩ có lẽ sau này ông sẽ dọn về đây, có một căn hộ trên lầu ba vừa khả thi vừa tiện lợi, tuy quang cảnh nơi này nặng màu công nghiệp và không sống động như ở phố Straszewskiego.
Khi Oskar tiếp quản Rekord và đổi tên thành Deutsche Emailwaren Fabrik, nhà máy đang có bốn mươi lăm nhân công, sản xuất đồ bếp với công suất khiêm tốn. Đầu năm mới, ông nhận được những đơn hàng đầu tiên từ Quân đội. Chuyện này không có gì bất ngờ. Ông đã gây dựng quan hệ với những kỹ sư có ảnh hưởng của Wehrmacht ở Ủy ban Quân giới thuộc Tổng cục Quân giới của tướng Schindler từ lâu. Ông dự tiệc cùng họ và mời họ ăn tối tại khách sạn Cracovia. Có nhiều ảnh Oskar chụp chung với họ tại những nhà hàng sang trọng, ai nấy đều tươi cười lịch lãm trước ống kính, ai nấy đều cơm no rượu say, các sĩ quan đều lịch lãm trong những bộ quân phục. Một số đã đóng những con dấu cần thiết lên hồ sơ thầu của Oskar, và viết những lá thư tiến cử quan trọng cho tướng Schindler, hoàn toàn vì tình bạn và vì tin tưởng Oskar có nhà máy và có thể giao hàng. Số khác bị lung lạc vì quà cáp, loại quà ưa thích của Oskar dành cho các quan chức - cognac và thảm, trang sức và đồ nội thất và những giỏ thực phẩm đắt tiền. Bên cạnh đó, tất cả đều biết tướng Schindler có quan hệ và rất quý mến nhà sản xuất đồ tráng men cùng họ với mình.
Giờ đây, với thẩm quyền từ các hợp đồng sinh lời lớn của Tổng cục Quân giới, Oskar được phép mở rộng nhà máy. Vẫn còn chỗ. Đối diện sảnh chính và khu văn phòng là hai nhà xưởng lớn. Một phần mặt bằng của nhà xưởng bên trái khi ta từ sảnh bước vào trong nhà máy đã đang phục vụ sản xuất. Tòa còn lại vẫn để trống hoàn toàn.
Ông đặt mua thêm máy móc, một số tại chỗ, một số từ quê nhà. Ngoài nhu cầu của quân đội, còn cả một thị trường chợ đen đói khát chờ ông đáp ứng. Lúc này Oskar biết mình có thể thành đại gia. Đến giữa hè 1940, ông sẽ thuê 250 lao động Ba Lan và phải tính mở thêm ca đêm. Nhà máy máy nông nghiệp của Herr Hans Schindler tại Zwittau khi ăn nên làm ra nhất cũng chỉ có năm mươi người. Cảm giác vượt mặt người cha mình chưa tha thứ thật ngọt ngào.
Trong năm thỉnh thoảng Itzhak Stern sẽ tìm đến Schindler để thu xếp việc làm cho vài thanh niên Do Thái - một trường hợp đặc biệt; một đứa con côi từ Łódź; con gái một viên thư ký ở Judenrat. Trong vòng vài tháng, Oskar đã thuê tới 150 lao động Do Thái và nhà máy đã hơi có tiếng tăm là một chốn nương thân.
Năm ấy, cũng như những năm tiếp theo của cuộc Thế chiến, người Do Thái sẽ cố gắng tìm một công việc được đánh giá là cần thiết phục vụ chiến tranh. Vào tháng Tư, Toàn quyền Hans Frank ra sắc lệnh di tản dân Do Thái khỏi Cracow. Đó là một quyết định kỳ lạ vì chính quyền Đế chế vẫn đang di chuyển dân Do Thái và Ba Lan sang vùng Đức thuộc với tốc độ gần mười ngàn người một ngày. Thế nhưng điều kiện tại Cracow, Frank nói với nội các của y, thật đáng hổ thẹn. Y biết có những sĩ quan cấp sư đoàn người Đức phải sống chung tòa nhà với bọn Do Thái. Các sĩ quan cao cấp hơn cũng phải chịu sự lăng nhục đáng hổ thẹn tương tự. Trong sáu tháng tới, y hứa, y sẽ làm Cracow judenfrei (sạch bóng Do Thái). Chỉ có tàn dư khoảng năm ngàn tới sáu ngàn lao động lành nghề được lưu lại. Còn lại sẽ bị chuyển đến các thành phố khác trong vùng Đức thuộc, Warsaw hoặc Radom, Lublin hoặc Czestochowa. Dân Do Thái có thể tự nguyện dọn đến thành phố nào mình muốn, miễn là trước ngày 15 tháng Tám. Ai còn ở lại sau ngày đó sẽ bị chở bằng xe tải với một lượng hành lý hạn chế đến bất cứ nơi nào thuận cho nhà đương cục. Kể từ ngày 1 tháng Mười một, Hans Frank cam kết, người Đức ở Cracow có thể hít thở “bầu không khí Đức trong lành,” và đi lại ngoài đường mà không thấy “lúc nhúc bóng dân Do Thái”.
Năm ấy Frank sẽ không thành công trong việc cắt giảm dân số Do Thái đến mức thấp như vậy, nhưng khi kế hoạch vừa được công bố, trong cộng đồng Do Thái ở Cracow, đặc biệt là nhóm thanh niên, xuất hiện một làn sóng săn lùng chứng nhận chuyên môn. Những người như Itzhak Stern, điệp viên chính thức và không chính thức của Judenrat, đã lên một danh sách các nhà hảo tâm, những người Đức họ có thể nhờ giúp đỡ. Trong đó có Schindler; và Julius Madritsch, một cựu binh người Vienna đã tìm được cách giải ngũ khỏi Wehrmacht, và trở thành Treuhänder của một nhà máy sản xuất quân phục. Madritsch nhìn thấy lợi ích từ các hợp đồng của Tổng cục Quân giới và đang tính mở một nhà máy quân phục riêng ở khu ngoại ô Podgórze. Cuối cùng ông còn giàu hơn cả Schindler, nhưng vào annus mirabilis[1] 1940 ông vẫn đang đi làm thuê. Ông có tiếng là người nhân ái - thế là đủ.
Đến 1 tháng Mười một năm 1940, Frank đã di dời được 23.000 người Do Thái tình nguyện khỏi Cracow. Một số chuyển đến các ghetto mới ở Warsaw và Łódź. Có thể hình dung ra những trống trải ở bàn ăn, những đau buồn ở nhà ga nhưng mọi người đón nhận nó một cách cam chịu, tự nhủ, Ta sẽ phục tùng, và đây sẽ là tột cùng của những gì chúng đòi hỏi. Oskar biết việc này sẽ xảy ra, nhưng, như chính người Do Thái, hy vọng đây chỉ là một sự cực đoan tạm thời.
Đó nhiều khả năng sẽ là năm vất vả nhất đời Oskar - một năm lo gây dựng nhà máy từ một xưởng sản xuất phá sản thành một công ty đáng kể trong mắt chính quyền. Khi tuyết đầu mùa rơi, Schindler nhận thấy và bực bội trước hiện tượng, vào một ngày bất kỳ, có đến trên dưới sáu mươi công nhân Do Thái vắng mặt. Họ bị SS giữ lại trên đường đi làm và trưng dụng để dọn tuyết. Herr Schindler đến thăm anh bạn Toffel tại Tổng hành dinh SS trên phố Pomorska để phàn nàn. Có ngày, ông bảo Toffel, tôi có đến 125 người vắng mặt.
Toffel thú thật. “Anh phải hiểu rằng ở đây có những thằng cha chả quan tâm chó gì đến sản xuất hết. Với bọn ấy bắt Do Thái xúc tuyết là vấn đề mang tính ưu tiên dân tộc. Cả tôi cũng đếch hiểu… trong đầu chúng đó là một nghi thức quan trọng, bắt Do Thái xúc tuyết. Mà không riêng gì anh, ai cũng dính vụ này.” Oskar hỏi, thế họ có kêu ca không. Có chứ, Toffel nói. Tuy nhiên, anh ta tiếp, một nhân vật tai to mặt lớn ở Phòng Ngân sách và Xây dựng của SS khi ăn trưa ở Pomorska từng nói, nếu tin rằng một tên công nhân Do Thái lành nghề có chỗ trong nền kinh tế của Đế chế thì ta có thể bị quy tội phản quốc. “E rằng anh còn phải chịu đựng vụ xúc tuyết này dài dài, Oskar.”
Trong một khoảnh khắc, Oskar biến thành người yêu nước phẫn nộ, mà cũng có thể là kẻ trục lợi phẫn nộ. “Muốn thắng cuộc chiến này,” Oskar nói, “thì phải tống khứ mấy thằng như thế khỏi SS.”
“Tống khứ bọn ấy?” Toffel hỏi. “Anh đùa à, chính mấy thằng con hoang đó làm sếp chứ ai.”
Những cuộc đối thoại như vậy đã biến Oskar thành người cổ xúy cho nguyên tắc chủ nhà máy phải có quyền bất khả xâm phạm trong việc sử dụng công nhân, còn công nhân phải có quyền đến nhà máy, không bị tạm giữ và bạo hành trên đường đi làm và ngược lại. Trong mắt Oskar, đó không chỉ là nguyên tắc đạo đức mà còn là nguyên tắc kinh doanh. Sau cùng, ông sẽ tuân thủ nó hết mức có thể ở Deutsche Email Fabrik.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Latin, nghĩa là “năm của những điều kỳ diệu”.