Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26

❊ ❊ ❊

Raimund Titsch cũng đang phải chung chi, dưới một hình thức khác. Titsch là một tín đồ Công giáo người Áo trầm lặng, tác phong thư lại, một chân bị tật. Có người nói ông bị thương trong Thế chiến I, người lại bảo hồi nhỏ ông bị tai nạn. Ông hơn cả Amon lẫn Oskar mười tuổi. Ở Płaszów, ông quản lý nhà máy quân phục với ba nghìn thợ may và thợ cơ khí của Julius Madritsch.

Một cách chung chi của ông là bằng những cuộc cờ với Amon Goeth. Tòa nhà quản trị có điện thoại nối trực tiếp đến văn phòng Madritsch, và Amon hay triệu Titsch lên phòng gã chơi cờ. Lần đầu Raimund chơi với Amon, ván cờ kết thúc sau nửa tiếng và phần thắng không thuộc về viên Hauptsturmführer. Titsch, tiếng “Chiếu tướng!” khá kiềm chế và không mấy phấn khích còn chưa dứt trên môi, bất ngờ trước cơn thịnh nộ của Amon. Viên Commandant giằng áo khoác và bao súng, cài khuy áo, thắt thắt lưng, chụp mũ lên đầu, hầm hầm bỏ đi. Ngỡ ngàng, Titsch đoán Amon sẽ xuống đường sắt tìm một tù nhân để trừng phạt cho hả giận vì thất bại vặt trên bàn cờ trước ông, Raimund Titsch. Từ đây, Titsch có chiến thuật mới. Giờ đây ông có thể dằng dai tới ba tiếng trước khi thua. Khi nhân viên tại khu nhà hành chính thấy Titsch tập tễnh đi lên phố Jerozolimska làm nhiệm vụ hầu cờ, họ biết chiều nay nhờ thế sẽ yên lành hơn. Một cảm giác an toàn nhỏ nhoi lan truyền từ đây xuống các công xưởng, thậm chí đến những người đẩy xe goòng khốn khổ.

Nhưng Raimund Titsch không chỉ triển khai nước cờ ngăn chặn. Độc lập với bác sĩ Sedlacek và người bạn cầm máy ảnh được Oskar đưa đến Płaszów, Titsch bắt đầu chụp ảnh. Có khi từ cửa sổ văn phòng, có khi từ góc xưởng, ông chụp hình tù nhân mặc đồng phục sọc đang đẩy xe goòng, cảnh phân phối bánh mì và xúp, cảnh đào cống và móng nhà. Trong số ảnh Titsch chụp, có thể có cả cảnh giao bánh mì trái phép đến xưởng của Madritsch. Chắc chắn chính Raimund đã mua từng ổ bánh mì tròn, với sự đồng tình và tiền của Madritsch, rồi chuyển đến Płaszów bằng xe tải, giấu dưới đám giẻ rách và những súc vải. Titsch chụp lại cảnh từng ổ bánh mì hắc mạch được vội vã chuyền tay mang vào kho của Madritsch, ở mặt kia của tòa nhà, nơi các tháp canh không quan sát thấy và được xưởng văn phòng phẩm che khuất khỏi đường lớn. Ông chụp ảnh lính SS và Ukraine đi đều, giải trí, làm việc. Ông ghi lại cảnh một hiệp thợ lao động dưới sự giám sát của kỹ sư Karp, người sẽ sớm trở thành nạn nhân của lũ chó sát thủ, đùi bị xé toang, cơ quan sinh dục bị cắn đứt. Ở một bức toàn cảnh của Płaszów, ông khắc họa quy mô của khu trại và vẻ tiêu điều của nó. Xem ra ông còn chụp cận cảnh viên Commandant ngồi nghỉ trên ghế võng trên ban công phơi nắng của gã, một Amon lực lưỡng sắp chạm mốc 120 kg, khiến Blancke, bác sĩ SS mới đến, phải bảo, “Đủ rồi, Amon, anh phải giảm cân đi.” Titsch chụp Rolf và Ralf chạy rông và sưởi nắng, còn Majola ôm cổ một trong hai con chó và làm ra vẻ thích thú. Ông chụp cả Amon oai vệ trên con bạch mã cao lớn của gã.

Titsch chụp nhưng không rửa ảnh. Với mục đích lưu trữ, phim an toàn hơn, và dễ vận chuyển hơn. Ông giấu chúng trong két sắt tại căn hộ ở Cracow. Ở đó ông cũng giữ hộ công nhân của Madritsch những của nả còn sót lại. Ở Płaszów không thiếu những người có một bảo vật sau cùng; dùng để hối lộ - vào thời điểm hiểm nghèo nhất - cho kẻ nắm danh sách, kẻ giữ cửa toa chở gia súc, Titsch biết rõ, chỉ những người cùng khổ mới gửi gắm cho ông. Thiểu số còn giấu được nhẫn và đồng hồ và trang sức đâu đó trong Płaszów không cần tới ông. Họ giao dịch thường xuyên để đổi lấy ân huệ và tiện nghi. Nhưng cùng chung chỗ giấu với chỗ phim của Titsch là chút tài sản cuối cùng của một tá gia đình - cây trâm của bà Yanka, chiếc đồng hồ của bác Mordche.

Thật ra, khi bộ máy ở Płaszów sụp đổ, khi Scherner và Czurda đã bỏ trốn, khi kho hồ sơ không tì vết của Văn phòng Kinh tế và Hành chính SS đã được chất lên xe tải chở đi làm chứng cứ, Titsch không cần rửa ảnh nữa, và có mọi lý do để không làm vậy. Trong hồ sơ của ODESSA, tổ chức bí mật thời hậu chiến của những cựu thành viên SS, ông bị liệt vào diện phản bội. Đấy là bởi ông đã cung cấp cho lao động của Madritsch 30.000 ổ bánh mì, một lượng đáng kể gà và bơ; do lòng nhân ái này mà ông đã được Chính phủ Israel vinh danh, và tin này đã xuất hiện ít nhiều trên báo chí. Ông bị đe dọa và dè bỉu trên đường phố Vienna “đồ bợ đít Do Thái”. Bởi vậy những cuốn phim về Płaszów sẽ ngủ yên hai mươi năm trong lòng đất ở một công viên nhỏ ngoài ngoại ô Vienna, nơi ông chôn giấu chúng, lớp tráng bạc cứ khô dần trên những bức hình âm bản, bí mật của Majola người tình của Amon, cặp chó sát thủ, và những lao động khổ sai vô danh của gã. Thành thử, có thể coi đây là thắng lợi của cư dân Płaszów khi, vào tháng Mười một năm 1963, một người sống sót của Schindler (Leopold Pfefferberg) đã bí mật mua lại chiếc hộp với giá năm trăm đô la từ Raimund Titsch - khi đó đang bị bệnh tim giai đoạn cuối. Kể cả lúc đó, Raimund cũng không muốn rửa những tấm ảnh ấy trước khi ông chết. Bóng ma vô danh của ODESSA với ông còn đáng sợ hơn những cái tên thời Płaszów: Amon Goeth, Scherner, Auschwitz.

Sau khi ông mất, lô phim mới được rửa. Gần như tất cả bộ ảnh được công khai.

*

Trong số ít ỏi những tù nhân sống sót qua thời Amon và Płaszów, chẳng hề có lời cáo buộc nào đối với Raimund Titsch. Nhưng ông chưa bao giờ là người khơi dậy những truyền kỳ. Oskar thì có. Từ cuối 1943, trong dân gian đã lưu truyền, với sự hưng phấn của một truyền kỳ, một câu chuyện về Schindler. Điều đáng nói về một truyền kỳ không nằm ở chỗ nó có thật không, hay có nên là thật không, mà là việc nó chẳng hiểu vì sao lại còn thật hơn sự thật. Qua những câu chuyện này, người ta hiểu rằng với cư dân Płaszów, Titsch có thể là một ẩn sĩ đức độ, nhưng Oskar mới là đấng á thần cứu rỗi, có hai mặt - đúng kiểu Hy Lạp - như mọi tiểu thần khác: có mọi tật xấu của phàm nhân; nghìn mắt nghìn tay; âm thầm mà quyền lực; có năng lực mang lại sự cứu rỗi an toàn và miễn phí.

Một chuyện liên quan đến thời kỳ các trùm cảnh sát SS chịu sức ép phải đóng cửa Płaszów, do hiệu quả của nó với tư cách một tổ hợp công nghiệp không được Tổng cục Quân giới đánh giá cao. Helen Hirsch, hầu gái của Goeth, vẫn hay gặp các sĩ quan, khách đến ăn tối, lang thang ngoài hành lang hoặc dưới bếp để lánh mặt Amon một chốc và để lắc đầu ngao ngán. Một sĩ quan SS tên là Tibritsch xuất hiện dưới bếp và bảo Helen, “Hắn có biết có những người đang phải hy sinh tính mạng không?” Dĩ nhiên anh ta ám chỉ Mặt trận phía Đông, chứ không phải là ngoài kia, trong bóng tối ở Płaszów. Các sĩ quan có đời sống ít vương giả hơn Amon phẫn nộ và có lẽ nguy hiểm hơn là ghen tị, trước những gì họ thấy ở tư dinh của gã.

Người ta đồn rằng một tối Chủ nhật nọ, tướng Julius Schindler đích thân tới thăm Płaszów, để xác định sự tồn tại của nơi này có giá trị gì với công cuộc chiến tranh không. Đó là một giờ kỳ quái để một quan chức cấp cao như vậy đi thăm nhà máy, nhưng có lẽ Tổng cục Quân giới, trước mùa đông khắc nghiệt sắp buông xuống Mặt trận phía Đông, đang phải làm việc ngoài giờ. Cuộc thị sát được mở đầu bằng bữa tối ở Emalia, nơi vang và cognac chảy tràn, bởi Oskar cũng như Bacchus được xem là hậu duệ của tửu thần Dionysus.

Do bữa dạ tiệc, đoàn thị sát lên xe đến Płaszów trong một trạng thái tâm lý không được khách quan nghề nghiệp cho lắm. Khi khẳng định như vậy, câu chuyện đã bỏ qua một thực tế rằng Schindler lẫn tùy tùng đều là chuyên gia hoặc kỹ sư, với gần bốn năm kinh nghiệm làm việc khách quan. Song Oskar sẽ là người cuối cùng kinh ngạc vì thực tế ấy.

Đoàn thị sát bắt đầu từ nhà máy may của Madritsch. Đây là cơ sở “trưng bày” của Płaszów. Trong năm 1943, nó cung cấp quân phục cho Wehrmacht với tốc độ hơn hai mươi ngàn bộ một tháng. Nhưng câu hỏi là liệu Herr Madritsch có thể làm tốt hơn nếu vứt bỏ Płaszów và tập trung mở rộng sản xuất tại các nhà máy Ba Lan có hiệu suất cao hơn, trang bị tốt hơn ở Podgórze và Tarnow không? Tình trạng xập xệ của Płaszów không thể khuyến khích Madritsch hay bất cứ nhà đầu tư nào lắp đặt hệ thống máy móc cần thiết cho một nhà máy hiện đại.

Đoàn thanh tra vừa bắt đầu cuộc thị sát thì đèn đóm trong nhà xưởng tắt phụt, do bạn bè Itzhak Stern đã cắt cầu dao ở trạm điện. Vốn đã bất lợi vì cơm no rượu say do Oskar bố trí, các quan chức Tổng cục Quân giới nay lại thêm hạn chế về ánh sáng. Cuộc thị sát tiếp tục dưới ánh đèn pin, trong khi máy móc nằm im bất động, và do vậy ít kích thích bản tính nghề nghiệp của đoàn thanh tra hơn.

Khi tướng Schindler nheo mắt dưới ánh đèn pin nhìn dãy máy ép và tiện ở xưởng cơ khí, ba mươi ngàn cư dân Płaszów thấp thỏm trên giường tầng chờ xem ông ta nói gì. Mặc dù tuyến Ostbahn đang quá tải, họ biết công nghệ hiện đại của Auschwitz chỉ cách họ một chặng đường vài tiếng về phía Tây. Họ biết mình không thể chờ đợi lòng nhân từ từ tướng Schindler. Chuyên môn của ông ta là sản xuất. Với ông ta, sản xuất là giá trị tối thượng.

Người ta kể rằng, nhờ bữa tối của Schindler và sự cố mất điện, cư dân Płaszów đã thoát nạn. Nói vậy kể cũng hơi ngoa, vì trên thực tế chỉ có một phần mười dân số Płaszów sống sót. Nhưng Stern và mọi người vẫn ghi nhớ chuyện này, và có lẽ phần lớn chi tiết là thật. Oskar luôn viện đến rượu khi không biết phải tiếp đãi các quan chức ra sao, và ông hẳn cũng khoái chiêu tắt đèn nhà ngói như nhà tranh ấy. “Ta phải nhớ rằng.” một chàng trai về sau được Oskar cứu sống nói, “Oskar vừa có chất Đức vừa có máu Czech. Ông là Anh lính Schweik tốt bụng[1]. Rất thích chơi xấu chế độ.”

Sẽ là khiếm lễ với truyền kỳ này, nếu ta hỏi viên Commandant khắc nghiệt nghĩ gì khi mất điện. Rất có thể, thậm chí trên bình diện thực tế, gã đang say hoặc ăn tối ở đâu đó. Câu hỏi là liệu Płaszów tồn tại bởi tướng Schindler mờ mắt dưới ánh đèn tù mù và hơi men, hay nhờ vị trí lý tưởng của một ga trung chuyển vào giai đoạn bến đỗ cuối cùng tại Auschwitz-Birkenau đang quá tải. Nhưng điều nổi bật nhất ở đây không phải là một Płaszów kinh hoàng, hoặc kết cục tối hậu của phần lớn cư dân nơi này, mà là sự kỳ vọng họ dành cho Oskar.

*

Trong khi SS và Tổng cục Quân giới đang cân nhắc tương lai của Płaszów, Josef Bau - một nghệ sĩ trẻ từ Cracow, người về sau Oskar biết rất rõ - đang ôm ấp mối tình lộ liễu và vô điều kiện với một cô gái tên gọi Rebecca Tannenbaum. Bau được giao vẽ phác thảo ở Phòng Xây dựng. Anh là một chàng trai nghiêm nghị, với nhận thức về số phận của một nghệ sĩ. Có thể nói rằng anh đã trốn vào Płaszów, vì chưa bao giờ anh có giấy tờ hợp lệ của ghetto. Do không biết nghe gì hữu ích ở các nhà máy của ghetto, anh sống sót nhờ mẹ và bạn bè che giấu. Trong chiến dịch giải thể ghetto tháng Ba năm 1943, anh thoát khỏi nơi ẩn náu và lẩn vào một đoàn lao động đi vào Płaszów. Bởi ở đây có một ngành mới, trước kia không có chỗ ở ghetto. Xây dựng. Chính trong tòa nhà hai chái ảm đạm nơi có văn phòng của Amon, Josef Bau gò lưng trên bản vẽ. Anh là đệ tử của Itzhak Stern và từng được ông giới thiệu với Oskar như một thợ phác thảo lành nghề và sở hữu, chí ít là dưới dạng tiềm năng, kỹ năng làm giả giấy tờ.

Anh có may mắn là ít phải chạm mặt Amon, vì ở anh toát ra một vẻ nhạy cảm thực thụ, điều cho đến nay vẫn luôn khiến gã tìm đến cây súng. Phòng làm việc của Bau và Amon nằm ở hai đầu tòa nhà. Một số tù nhân làm việc tại tầng trệt, gần chỗ viên Commandant. Họ là nhân viên mua sắm; thư ký; Mietek Pemper, tốc ký viên. Họ phải đối mặt hằng ngày không chỉ với nguy cơ ăn một viên đạn bất ngờ, mà còn chịu sự đả kích thường xuyên hơn vào ý thức về lòng phẫn nộ. Chẳng hạn như Mundek Korn, trước chiến tranh là nhân viên mua sắm ở một chuỗi công ty con của nhà Rothschild, nay là người mua vải vóc, cỏ biển, gỗ phiến, sắt cho các xưởng tù, không những phải làm việc tại Tòa nhà Quản trị, mà còn cùng cánh với văn phòng của Amon. Một sáng, Korn từ bàn làm việc nhìn lên và thấy, qua cửa sổ, bên kia phố Jerozolimska và cạnh trại lính SS, một cậu trai quãng hai mươi, người quen của ông ở Cracow, đang tiểu tiện vào một chồng gỗ phiến. Cùng lúc ông thấy hai cánh tay mặc sơ mi trắng xuất hiện từ cửa sổ phòng tắm cuối tòa nhà. Bàn tay phải cầm súng. Hai phát đạn đanh gọn vang lên, ít nhất một viên cắm vào gáy cậu trai và đẩy cậu ngã sấp lên đống gỗ. Nhìn lại ô cửa sổ lần nữa, Korn thấy một cánh tay mặc sơ mi trắng đang từ từ khép cửa vào.

Trên bàn Korn sáng hôm đấy là một xấp đơn đặt hàng với bút tích viết ngoáy toàn nguyên âm mở[2] song vẫn đọc được của Amon. Ánh mắt ông lạc từ chữ ký ấy sang cái xác chưa kịp cài khuy quần gục trên đống gỗ. Không những ông bàng hoàng tự hỏi có phải mình vừa thấy điều mình vừa thấy. Mà ông còn cảm thấy tư tưởng mê hoặc cố hữu trong hành vi của Amon. Ấy là sự cám dỗ chấp nhận thực tế rằng nếu sát nhân cũng chả khác gì vào nhà tắm, cũng chỉ như một xung động giữa sự buồn tẻ của việc ký mẫu đơn, thì có lẽ ta nên xem mọi cái chết - dù tuyệt vọng thế nào - như chuyện thường ngày.

Có vẻ Josef Bau vẫn may mắn chưa rơi vào cảnh bị thuyết phục một cách khốc liệt như thế. Anh còn thoát được cảnh phải chứng kiến vụ thanh trừng nhân viên hành chính dưới tầng trệt. Tất cả bắt đầu khi Josef Neuschel, đệ tử của Goeth, tố với viên Commandant rằng một cô gái trong văn phòng kiếm được một dẻ thịt hun khói. Amon điên cuồng bổ xuống. “Chúng mày đang béo ra!” gã gầm lên. Rồi gã chia tất cả nhân viên thành hai hàng. Cảnh tượng ấy, với Korn, như ở trường trung học Podgórze: các cô gái đứng trong hàng bên kia rất đỗi thân quen với ông, con gái của những nhà ông biết từ khi còn bé, những gia đình ở Podgórze. Như thể giáo viên vừa chia họ làm hai hàng, hàng này đi thăm tượng đài Kosciuszko, hàng kia đến bảo tàng bên Wawel. Kỳ thực, các cô gái ở hàng kia sẽ bị đưa thẳng từ bàn làm việc đến Chujowa Górka và, vì sự suy đồi mang tên một dẻ thịt hun khói, bị xử tử bởi một trong các đội hành quyết của Pilarzik.

Dù Josef Bau không dự phần vào những thảm kịch chốn văn phòng ấy, chẳng ai có thể nói rằng anh sống cuộc đời được bảo bọc ở Płaszów. Nhưng nó vẫn ít hiểm nguy hơn ý trung nhân của anh. Rebecca Tannenbaum là một cô bé mồ côi, dù trong cộng đồng Do Thái nặng tình máu mủ ở Cracow, cô không thiếu những ông bác bà dì tốt bụng. Cô mười chín, gương mặt ưa nhìn, thân hình gọn ghẽ. Cô nói thạo tiếng Đức và có nết chuyện trò nhã nhặn, ôn nhu. Gần đây cô bắt đầu làm việc trong văn phòng của Stern sau Tòa nhà Quản trị, tức là ngoài vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những cơn điên của viên Commandant. Song công việc tại Phòng Xây dựng chỉ là phân nửa chức trách của cô. Cô là thợ sửa móng tay. Hằng tuần cô phải săn sóc Amon; cô phải chăm lo đôi tay của Untersturmführer Leo John, của bác sĩ Blancke lẫn nhân tình, ả Alice Orlowski cay nghiệt. Cầm bàn tay Amon, cô thấy chúng thon dài và cân đối, ngón tay búp măng - tuyệt không phải tay một người béo phì; càng không phải một kẻ man rợ.

Lần đầu tiên khi một bạn tù đến tìm cô và bảo Herr Commandant cho gọi cô, cô đã cắm đầu bỏ chạy qua những dãy bàn, xuống cầu thang. Người tù nọ vừa đuổi theo vừa kêu, “Lạy Chúa, đừng mà! Cô mà không đi thì tôi chết với hắn mất.”

Thế là cô theo anh về biệt thự của Goeth. Nhưng trước khi vào phòng khách, cô rẽ vào căn hầm hôi hám - tại dinh cơ đầu tiên của Goeth, được đào ăn vào một nghĩa trang Do Thái cổ. Dưới tầng đất nghĩa trang này Helen Hirsch bạn cô đang săn sóc những vết bầm. Cậu phiền phức rồi, Helen công nhận. Thôi cứ làm xem sao. Cũng chả còn cách nào. Có người hắn vừa lòng vì tác phong chuyên nghiệp, có người lại không. Và khi nào cậu đến tớ sẽ cho cậu bánh và xúc xích. Nhưng đừng tự tiện lấy thức ăn; nhớ hỏi tớ trước. Có những người lấy mà không hỏi, về sau tớ chẳng biết lấy gì mà bù vào.

Amon chấp nhận tác phong chuyên nghiệp của Rebecca, chìa tay ra và nói chuyện bằng tiếng Đức. Tưởng như đây lại là khách sạn Cracovia, và Amon là tay tài phiệt người Đức trẻ trung béo tốt, sơ mi hồ cứng, đến Cracow bán vải vóc, sắt thép hoặc hóa chất. Tuy nhiên, có hai yếu tố làm giảm giá trị của không khí thân mật xa xưa ở những lần hội ngộ này. Viên Commandant luôn kê khẩu súng ngắn ổ quay dưới khuỷu tay, và một trong hai con chó thường xuyên ngủ trong phòng khách. Cô đã chứng kiến cảnh chúng, trên Appellplatz, cắn xé kỹ sư Karp. Nhưng có đôi lúc, khi lũ chó khụt khịt trong giấc ngủ, còn cô và Amon trao đổi hồi ức về những lần nghỉ dưỡng ở suối nước khoáng Carlsbad trước chiến tranh, những nỗi kinh hoàng vào giờ điểm danh bỗng xa xôi đến hoang đường. Một ngày, cô thấy đủ tự tin để hỏi vì sao gã luôn giữ khẩu súng dưới khuỷu tay. Câu trả lời làm cô, đang cúi đầu tỉa tót tay gã, lạnh buốt sống lưng. “Để nhỡ cô cắt vào tay ta,” gã nói.

Nếu có bao giờ cần bằng chứng rằng với Amon tán gẫu về suối khoáng cũng chẳng khác gì một hành động điên cuồng, cô sẽ nhận được nó cái lần cô vào sảnh và thấy gã nắm tóc Helen Hirsch lôi ra từ phòng khách - Helen cố giữ thăng bằng và giữ mái tóc nâu đỏ khỏi đứt tận chân; còn Amon, nếu có tuột tay giây lát thì cũng siết lại ngay bằng bàn tay đồ sộ được săn sóc kỹ càng. Vào buổi tối cô sẽ có thêm bằng chứng khi buớc vào phòng khách và một con chó - Rolf hoặc Ralf - xuất hiện, lao bổ vào cô, đề cô xuống và chực táp vào ngực cô. Cô nhìn quanh và thấy Amon nằm ườn trên sofa, cười cợt. “Đừng có run, đồ ngốc,” gã nói, “không thì ta cũng chả cứu nổi cô đâu.”

Trong giai đoạn cô chăm sóc viên Commandant, gã sẽ bắn cậu bé đánh giày vì làm ăn tắc trách; treo cổ cậu cần vụ mười lăm tuổi, Poldek Deresiewicz, lên vòng sắt ở phòng làm việc do chó của gã có một con rận; xử tử cậu đầy tớ Lisiek vì cho Bosch mượn xe ngựa mà không xin phép. Thế nhưng hai lần một tuần, cô bé mồ côi xinh đẹp vẫn đến phòng khách và bình thản đón nhận bàn tay con quái vật.

Cô gặp Josef Bau một sớm ảm đạm khi anh đứng ngoài Bauleitung, giơ bản vẽ lên dưới một bóng mây thu la đà. Thân hình mảnh khảnh của anh như trĩu xuống dưới sức nặng của cái khung. Cô hỏi anh có cần giúp không. “Không,” anh đáp. “Tôi chỉ đang chờ ánh nắng thôi.” “Tại sao?” Cô hỏi. Anh giải thích rằng bản vẽ tòa nhà mới trên giấy trong suốt được ép trong khung, chồng lên một lớp giấy xanh nhạy sáng. Nếu ánh nắng mạnh hơn, anh nói, một phản ứng hóa học huyền bí sẽ chuyển bản vẽ từ lớp giấy trong suốt sang lớp giấy xanh. Rồi anh tiếp, “Sao em không làm tia nắng diệu kỳ của tôi nhỉ?”

Ở Płaszów, các thiếu nữ không quen được con trai mơn trớn. Ở đây, tính dục chịu sức ép khắc nghiệt của những tràng súng trên Chujowa Górka, bãi hành quyết trên Appellplatz. Hãy tưởng tượng một ngày, khi nhóm công nhân từ nhà máy cáp trên Wieliczka trở về bị phát hiện giấu theo một con gà. Amon quát tháo ở Appellplatz, do lính gác khi lục soát ngẫu nhiên đã phát hiện ra con gà giấu trong túi vứt trước cổng trại. Túi đấy của ai? Amon tra khảo. Gà của ai? Vì không ai ở Appellplatz chịu khai gì, Amon giằng súng trường của một tên lính và bắn người tù đứng đầu hàng. Đạn xuyên qua anh ta, hạ gục cả người đứng sau. Vẫn không ai khai gì. “Các người yêu nhau quá nhỉ!” Amon gầm lên, chuẩn bị bắn người tiếp theo. Một cậu bé mười bốn bước ra khỏi hàng. Cậu vừa run vừa khóc. Cậu biết ai mang con gà về, cậu bảo viên Commandant. “Ai nào?”

Câu trỏ một trong hai người chết. “Anh này!” cậu thốt. Amon khiến cả Appellplatz bất ngờ khi tin lời cậu bé, ngửa đầu ra sau với nụ cười hoài nghi ưa thích của giáo viên dành cho học trò. Cái giống người này… chẳng lẽ đến giờ chúng chưa hiểu tại sao tất cả lại bị trừng phạt?

Sau một tối như thế, trong giờ sinh hoạt tự do từ bảy đến chín giờ, hầu hết tù nhân cảm thấy không có thời gian mà thư thả tán tỉnh nhau. Rận giày vò nơi háng và nách họ như chế nhạo những nghi thức yêu đương. Nam thanh thản nhiên đè nữ tú. Trong trại nữ, họ hát bài ca hỏi tại sao cô gái đồng trinh lại mua dây buộc mình, định giữ cái ngàn vàng để cho ai?

Tình hình ở Emalia không bi đát đến thế. Những hốc riêng tư được bố trí giữa dãy máy móc trong xưởng tráng men, để các đôi tình nhân bên nhau được lâu hơn. Sự phân biệt tại khu lán đông đúc này chỉ trên lý thuyết. Vắng nỗi sợ hãi thường trực và khẩu phần bánh mì đầy đặn giúp họ đỡ yêu cuồng sống vội hơn. Chưa kể Oskar vẫn kiên quyết không cho lính SS tự tiện vào trong trại.

Một người tù kể rằng, Oskar cho lắp hệ thống báo động để đề phòng có sĩ quan SS đòi vào trong trại. Khi tên SS đang trên đường vào, Oskar chỉ cần nhấn nút nối với chuông báo động dưới trại. Bà con trước tiên sẽ dập hết thuốc lá lậu họ nhận mỗi ngày từ Oskar. (“Chạy lên nhà,” hầu như ngày nào ông cũng bảo một tù nhân như vậy, “lấy thuốc đầy cái hộp này cho tôi.” Và nháy mắt đầy lộ liễu.) Và tiếng chuông còn đánh động để tù nhân nhanh chóng trở về giường họ.

Thế nên Rebecca gần như choáng váng, như hồi tưởng lại một nét văn hóa đã tiêu vong, khi gặp giữa Płaszów một chàng trai buông lời ong bướm như thể gặp cô tại một tiệm bánh trên Rynek.

Một sớm khác, khi cô từ văn phòng của Stern đi xuống, Josepf dắt cô vào xem bàn làm việc của anh. Anh đang vẽ thêm lán mới. Em ở lán mấy, và Alteste[3] ở lán em là ai? Cô trả lời anh với vẻ ngần ngừ đúng phép. Cô từng chứng kiến Helen Hirsch bị nắm tóc lôi dọc hành lang, và cô sẽ chết nếu nhỡ cắt vào đầu ngón tay Amon. Thế nhưng chàng trai này đã cho cô lại được e lệ, được làm con gái. Anh sẽ nói chuyện với mẹ em, Josef hứa. Em không còn mẹ, Rebecca đáp. Thế thì anh sẽ thưa chuyện với Alteste.

Họ bắt đầu tìm hiểu nhau như thế - sau khi xin phép trưởng bối, và như thể trong tay có bất tận không gian và vô tận thời gian[4]. Vì anh là bậc quân tử một niềm thủ lễ, họ không hôn nhau. Lần đầu họ ôm nhau thật sự chính là dưới mái nhà Amon. Đó là sau một buổi cắt tỉa móng tay. Rebecca xin Helen nước nóng và xà phòng rồi trốn lên tầng trên cùng, đang bỏ trống chờ cải tạo, để giặt áo khoác và đồ lót. Chậu giặt của cô là cái cặp lồng. Ngày mai cô sẽ cần đến nó để đựng xúp.

Cô đang mải miết với cái xô nhỏ đầy bọt xà phòng thì Josef xuất hiện. Sao anh lại ở đây? cô hỏi. Anh lên đo phòng ốc để làm bản vẽ chuẩn bị cải tạo, anh đáp. Còn em, sao lại lên đây? Anh thấy rồi còn gì. Mà anh nói khẽ thôi.

Anh phất phới lượn quanh phòng, xập xòe cuộn thước đo tường và phào. Anh làm cẩn thận vào, cô quở, lo lắng vì biết tính ưa chính xác của Amon.

Nhân tiện ở đây, anh bảo, để anh đo em luôn thể. Anh chạy thước dọc tay cô, đi từ gáy xuống thắt lưng cô. Cô không cưỡng lại khi ngón tay anh chạm vào cô, đánh dấu từng số đo của cô. Nhưng khi đã ôm nhau trọn vẹn được một lúc, cô giục anh đi. Đây không phải chỗ cho một buổi chiều lười biếng.

Tại Płaszów còn nhiều cuộc tình tuyệt vọng khác, của cả SS, nhưng tất cả đều kém bề tươi sáng, nếu so với mối tình hết sức chuẩn mực giữa Josef Bau với cô gái sửa móng tay. Chẳng hạn, Oberscharführer Albert Hujar, kẻ hạ sát bác sĩ Rosalia Blau ở ghetto và Diana Reiter trong vụ sập móng trại lính, cũng phải lòng một nữ tù Do Thái. Con gái Madritsch đem lòng yêu một cậu trai Do Thái ở ghetto Tarnow - tất nhiên, cậu làm việc cho nhà máy của Madritsch ở đây cho đến khi chuyên gia giải thể ghetto Amon được điều đến vào cuối hè để đóng cửa Tarnow như gã từng làm với Cracow. Giờ cậu đã chuyển sang nhà máy của Madritsch trong Płaszów; cô gái có thể đến đây thăm cậu. Nhưng chuyện của họ không có tương lai. Tù nhân cũng có chỗ cho các đôi tình nhân và vợ chồng gặp gỡ. Nhưng tất cả - luật lệ của Đế chế lẫn quy tắc kỳ lạ của tù nhân - đều ngăn trở cuộc tình giữa Fraulein Madritsch và chàng trai trẻ. Tương tự, Raimund Titsch trung hậu cũng đã phải lòng một nữ thợ máy. Đây cũng là một cuộc tình ôn nhu, thầm kín và khó bề trọn vẹn. Còn về phần Oberscharführer Hujar, đích thân Amon đã lệnh cho gã chấm dứt trò hề ấy. Vậy là Albert đưa cô gái đi dạo trong rừng, và trong niềm hối tiếc đầy trìu mến, dành cho cô một viên đạn vào sau gáy.

Thần chết dường như luôn lởn vởn quanh những mối tình SS. Henry Rosner, nghệ sĩ violin, và em trai Leopold, nghệ sĩ accordion, rải rắc những giai điệu thành Vienna quanh bàn ăn tối của Goeth, biết rõ điều ấy. Tối nọ, một sĩ quan Waffen SS cao gầy tóc hoa râm đến ăn tối ở nhà Amon, và sau khi uống khá rượu, liên tục đòi anh em Rosner chơi nhạc phẩm Hungary “Chủ nhật buồn”. Bài ca là sự tuôn trào cảm xúc của một chàng trai sắp tự tử vì tình. Cảm xúc cực đoan ấy chính là thứ, Henry để ý thấy, lôi cuốn lính SS mỗi lúc nghỉ ngơi. Kỳ thực, từ những năm ba mươi, bài hát đã gặp nhiều tai tiếng - chính quyền Hungary, Ba Lan và Czechoslovakia xem xét cấm phổ biến bởi xem nó là căn nguyên của một làn sóng tự tử vì thất tình. Thanh niên đôi khi vẫn trích lời bài hát trong thư tuyệt mệnh trước khi gí súng vào đầu và bóp cò. Từ lâu, nó đã bị Phòng Tuyên truyền của Đế chế cấm lưu hành. Giờ đây, vị khách cao lớn, lịch lãm nọ, con cái nếu có cũng đến tuổi thiếu niên và cũng đang ngây ngất trong thứ tình yêu mới lớn, liên tục đề nghị anh em nhà Rosner chơi bài “Chủ nhật buồn”. Và dù điều này bị tiến sĩ Goebbels nghiêm cấm, chẳng ai ở miền Nam Ba Lan xa xôi này lại định tranh cãi với một sĩ quan SS ôm hồi ức đau thương về một cuộc tình.

Sau khi vị khách yêu cầu bài hát bốn năm lần, một ý tưởng kỳ dị chiếm lĩnh đầu óc Henry. Trong nguồn gốc nguyên thủy của nó, âm nhạc luôn có ma thuật. Và không ai ở châu Âu hiểu rõ quyền năng của vĩ cầm hơn một nghệ sĩ Do Thái Cracow như Henry, người xuất thân từ một gia tộc nơi âm nhạc là sản phẩm của di truyền hơn là giáo dục, cũng như vị trí cohen, hay giáo sĩ truyền thừa. Khi ấy Henry chợt nhận ra, và như sau này anh kể lại - “Lạy Chúa, ví thử ta có quyền năng, biết đâu thằng chó chết này sẽ tự sát.”

Bài hát cấm kỵ đã trở nên hợp pháp trong phòng ăn của Amon sau nhiều lần trình diễn; và nay Henry tuyên chiến với nó, Leopold song tấu cùng anh, vững dạ vì ánh mắt u uẩn gần như cảm kích viên sĩ quan đẹp trai dành cho họ. Henry toát mồ hôi, cảm thấy việc mình cò cưa tên SS đến với cái chết quá đỗi lộ liễu và bất kỳ lúc nào Amon cũng có thể phát hiện và lôi anh ra ngoài hành quyết. Về màn trình diễn của Henry, ta không nên hỏi anh chơi hay hay dở. Anh chơi như lên đồng. Có duy nhất một người, viên sĩ quan, là nhận thấy, hưởng ứng, và, giữa trận huyên náo say sưa của Bosch và Scherner, Czurda và Amon, tiếp tục từ chỗ mình nhìn thẳng vào mắt Henry, như sẽ bật dậy bất kỳ lúc nào và nói, “Tất nhiên, thưa quý vị. Anh bạn nhạc công violin hoàn toàn đúng. Không lý gì ta phải chịu đựng mãi nỗi đau này.”

Anh em Rosner tiếp tục lặp lại bài hát đến độ Amon ngày thường sẽ phải quát lên, “Đủ rồi!” Rốt cuộc vị khách đứng dậy bỏ ra ban công. Henry biết mình đã làm xong tất cả những gì có thể. Họ chuyển sang chơi von Suppé và Lehar, xóa dấu vết bằng một khúc operetta nồng đậm. Vị khách vẫn đứng một mình ngoài ban công và nửa giờ sau làm gián đoạn cuộc vui bằng cách tự bắn vào đầu mình.

Tình dục ở Płaszów là thế. Chấy rận và hối hả bên trong rào thép gai; chết chóc và điên dại rình mò lân cận. Giữa khung cảnh ấy, Josef Bau và Rebecca Tannenbaum theo đuổi điệu nghi vũ của ái tình.

*

Mùa tuyết năm ấy Płaszów trải qua một thay đổi về danh phận ảnh hưởng tới mọi cặp tình nhân sau hàng rào. Vào đầu tháng Một năm 1944, nơi này được biên chế thành Konzentrationslager (Trại Tập trung) dưới quyền Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS của tướng Oswald Pohl ở Oranienburg, ngoại ô Berlin. Các trại con của Płaszów - như Emalia của Schindler - nay cũng do Oranienburg quản lý. Các trùm cảnh sát, Scherner và Czurda, mất quyền điều hành trực tiếp. Lệ phí thuê lao động tù nhân của Oskar và Madritsch không nộp cho phố Pomorska nữa, mà đi lên văn phòng của tướng Richard Glücks, Cục trưởng Cục D (phụ trách trại tập trung) của Pohl. Nếu muốn được ưu ái, giờ Oskar không chỉ phải đến Płaszów phỉnh phờ Amon, không chỉ phải khoản đãi Julian Scherner, mà còn phải tiếp cận một số nhân vật trong bộ máy hành chính đồ sộ của Oranienburg.

Oskar sớm tranh thủ cơ hội lên Berlin gặp gỡ những người sẽ phụ trách hồ sơ của ông. Khởi đầu Oranienburg cũng là trại tập trung. Giờ nó đã bành trướng ra thành một chuỗi doanh trại hành chính. Văn phòng Cục D điều phối mọi mặt đời sống và cái chết của tù nhân. Cục trưởng, Richard Glücks, còn chịu trách nhiệm, trên cơ sở tham khảo Pohl, xác lập sự cân bằng giữa số lao động với ứng viên cho phòng hơi ngạt, cho phương trình với X là số lao động khổ sai còn Y là số người đoản mệnh hơn.

Glücks thiết lập quy trình cho mọi tình huống, và từ chỗ у trút xuống cơn mưa chỉ thị soạn thảo bằng bộ từ vựng gây tê liệt của người lên kế hoạch, kẻ nhào nặn văn bản, tay chuyên gia khách quan.

Văn phòng Hành chính và Kinh tế SS

Cục trưởng

Cục D (Trại tập trung)

D1-AZ: 14fl-Ot-S

GEH TGB NO 453-44

Gửi Commandant của các Trại tập trung

Da, Sah, Bu, Mau, Slo, Neu, Au I-III,

Gr-Ro, Natz, Stu, Rav, Herz, A-L-Bels,

Gruppenl. D. Riga, Gruppenl. D. Cracow (Płaszów).

Số tờ trình của các Commandant kiến nghị phạt roi với các vụ phá hoại của tù nhân trong các ngành sản xuất phục vụ chiến tranh đang gia tăng.

Tôi đề nghị thời gian tới với mọi vụ phá hoại có chứng cứ rõ ràng (có báo cáo của ban quản lý gửi kèm), trại phải kiến nghị án tử hình treo cổ. Án tử hình phải được thực thi trước sự chứng kiến của toàn bộ thành viên tổ, nhóm lao động liên quan. Lý do tử hình phải được công khai nhằm mục đích răn đe.

(đã ký)

Obersturmführer SS

*

Tại tòa pháp đình đáng sợ này, có văn bản quy định tóc tù nhân dài bao nhiêu thì được xem là có giá trị kinh tế để “sản xuất bít tất sợi tóc cho thủy thủ tàu ngầm và ủng lót nỉ tóc cho ngành đường sắt”, lẫn văn bản lập luận xem mỗi trường hợp tử vong có cần tám cơ quan khác nhau lập tờ khai hay chỉ cần một thông báo để đính vào hồ sơ cá nhân ngay sau khi cập nhật thẻ chỉ mục.

Herr Oskar Schindler từ Cracow đến nơi này để trao đổi về cơ sở công nghiệp nhỏ bé của mình ở Zablocie. Một nhân vật tầm trung, một cán bộ nhân sự mang hàm sĩ quan, được giao xử lý trường hợp của ông.

Oskar không lấy thế làm phiền. Có nhiều công ty sử dụng tù nhân Do Thái còn lớn hơn ông. Các đại gia như Krupp hay I. G. Farben. Nhà máy cáp tại Płaszów. Walter C. Toebbens, doanh nhân Warsaw, kẻ suýt bị Himmler tống vào Wehrmacht, cũng thuê nhiều nhân công hơn Herr Schindler. Rồi các nhà máy luyện kim tại Stalowa Wola, các xưởng máy bay ở Budzyn và Zakopane, các cơ sở của Steyour-Daimler-Puch bên Radom.

Hồ sơ về Emalia nằm trên bàn của tay cán bộ nhân sự. Tôi hy vọng, y nói cụt lủn, ông không định mở rộng quy mô trại. Làm vậy kiểu gì cũng gây ra dịch sốt phát ban.

Oskar mau mắn bác bỏ ý tưởng đó. Điều ông quan tâm là tính ổn định lâu dài của nguồn nhân lực. Ông đã thảo luận việc này với một người bạn, đại tá Erich Lange. Cái tên, Oskar nhận thấy, đã tác động đến viên sĩ quan. Oskar đưa ra một bức thư từ viên đại tá cho tay cán bộ đọc. Căn phòng chìm trong im lặng - chỉ có tiếng bút lẹt xẹt, tiếng giấy loạt xoạt, tiếng nói chuyện khẽ khàng, trịnh trọng vang lên ở các phòng bên, như thể chẳng ai biết nơi đây là cốt lõi của một mạng lưới những tiếng kêu gào.

Đại tá Lange là người có thế lực, Chánh văn phòng Tổng cục Quân giới thuộc Bộ Tổng tư lệnh ở Berlin. Oskar quen ông ta trong một bữa tiệc tại văn phòng tướng Schindler ở Cracow. Họ có cảm tình với nhau gần như ngay lập tức. Điều này vẫn hay xảy ra ở các bữa tiệc - hai cá nhân cảm nhận được hơi hướng phản kháng chế độ của người kia và rút ra một góc thăm dò nhau trước khi xác lập tình bằng hữu.

Erich Lange thấy kinh hoàng trước những trại lao động ở Ba Lan - chẳng hạn các cơ sở của I. G. Farben, nơi đốc công áp dụng “nhịp điệu lao động” của SS và bắt tù nhân phải chạy khi bốc dỡ xi măng; nơi xác người chết đói, chết gục bị ném xuống hào chôn cáp và phủ xi măng lên trên. “Các ngươi đến đây không phải để sống mà để vùi thây dưới bê tông,” một viên quản đốc tuyên bố với người mới đến. Lange nghe được chuyện này, và choáng váng.

Trước lá thư gửi Oranienburg, Lange đã gọi một số cuộc điện thoại, cả điện và thư đều nhằm thúc đẩy cùng một đề xuất: Herr Schindler, với những bộ đồ ăn cá nhân và đạn chống tăng 45 mm, được Cục đánh giá là có đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc. Ông đã xây dựng được một đội ngũ lao động lành nghề và không gì được phép làm gián đoạn công việc họ đang thực thi dưới sự giám sát của Herr Direktor Schindler.

Lá thư tác động mạnh đến tay cán bộ nhân sự. Y sẽ thành thực với Herr Schindler. Hiện không có kế hoạch thay đổi vị thế hay điều chỉnh dân số ở Zablocie. Tuy vậy, Herr Direklor phải hiểu rằng tình cảnh của dân Do Thái, kể cả lao động lành nghề trong ngành quân giới, luôn tiềm ẩn rủi ro. Đơn cử ngay các doanh nghiệp của SS. Ostindustrie sử dụng tù nhân cho xưởng than bùn, nhà máy bàn chải, cơ sở luyện kim ở Lublin, nhà máy thiết bị ở Radom, xưởng lông thú ở Trawniki. Trong khi đó các phân hiệu SS khác không ngừng bắn giết nhân lực, khiến Osti coi như sập tiệm toàn diện. Tương tự, các lò sát sinh không bao giờ giữ lại đủ tỉ lệ tù nhân cho các nhà máy. Đó chẳng qua là chuyện thường xuyên trao đổi thông tin, nhưng cái bọn ngoài thực địa ấy cứng đầu lắm. “Tất nhiên,” tay cán bộ nhân sự gõ gõ bức thư rồi nói, “tôi sẽ làm tất cả những gì có thể.”

“Tôi hiểu chứ.” Oskar nói và ngước nhìn tay cán bộ SS bằng nụ cười rạng rỡ quen thuộc. “Nếu có cách nào để tôi bày tỏ lòng biết ơn của mình…”

Sau cùng, Oskar rời Oranienburg với ít nhất vài lời đảm bảo rằng khu trại sân sau của ông ở Cracow sẽ tiếp tục tồn tại.

*

Vị thế mới của Płaszów tác động đến những đôi tình nhân qua sự ngăn cách mang tính trừng giới giữa nam và nữ - theo đúng quy định trong một loạt chỉ thị từ Văn phòng Hành chính và Kinh tế. Hàng rào giữa trại nam và nữ, hàng rào ngoại vi, lẫn hàng rào quanh khu nhà xưởng đều dẫn điện. Hiệu điện thế, khoảng cách giữa các dây thép gai, số dây dẫn và trụ cách điện đều được quy định cụ thể. Amon và cộng sự nhanh chóng nhận ra công dụng răn đe của hệ thống này. Giờ đây chúng có thể bắt tù nhân đứng hai mươi bốn tiếng giữa lớp rào ngoài dẫn điện và lớp rào trong thông thường. Nếu lảo đảo vì kiệt sức, họ biết sau lưng mình vài tấc là nguồn điện hàng trăm volt. Mundek Korn đã nếm mùi đứng giữa hành lang hẹp này một ngày đêm sau khi dẫn nhóm lao động của mình về trại khuyết mất một người.

Nhưng có lẽ đáng sợ hơn nguy cơ ngã vào hàng rào là việc dòng điện liên tục hoạt động từ khi hết phiên điểm danh tối đến tận giờ kèn báo sáng, như một hào nước giữa nam và nữ. Thời giờ gặp gỡ đã rút lại chỉ còn vài phút lộn xộn ngắn ngủi trên Appellplatz, trước khi có lệnh xếp hàng. Mỗi đôi tình nhân tự chế ra một giai điệu, huýt lên, rồi căng tai tìm kiếm câu trả lời giữa một rừng tín hiệu. Rebecca và Josef cũng có một mật hiệu như thế. Quy định từ Văn phòng SS của tướng Pohl đã buộc tù nhân Płaszów phải áp dụng chiến thuật phối ngẫu của loài chim. Và cứ như thế, cuộc tình lễ mạo của Rebecca và Josef tiếp diễn.

Cho đến khi Josef kiếm được một chiếc váy của người đã chết từ kho quần áo. Sau khi điểm danh tại hàng tù nam, anh sẽ lẻn vào nhà vệ sinh, mặc váy và trùm chiếc mũ bonnet lên đầu. Rồi anh nhập vào hàng tù nữ. Mái tóc ngắn sẽ chẳng khiến tên lính SS nào chú ý, vì phần lớn phụ nữ đều xén tóc ngắn cho khỏi chấy. Vậy là, cùng với hơn 13.000 nữ tù, anh lẻn vào trại nữ và bầu bạn với Rebecca suốt đêm tại lán số 57.

Tại lán Rebecca, các bà các mẹ tin lời Josef. Nếu anh muốn tìm hiểu cô theo phong tục cổ truyền, họ sẵn sàng đảm nhiệm vai trò truyền thống của các giám phụ. Bản thân Josef là một món quà đối với họ, cho họ sống lại những lễ nghi tiền chiến. Từ những chiếc giường bốn tầng, họ coi sóc đôi trẻ cho đến khi tất cả thiếp đi. Nếu có ai nghĩ bụng, thời buổi này cần gì phải câu nệ bọn trẻ làm gì lúc canh khuya, thì họ cũng không nói ra lời. Kỳ thực, hai phụ nữ lớn tuổi còn lèn trên một tầng chật chội cho Josef có chỗ ngủ riêng. Sự bất tiện, mùi hôi lẫn nguy cơ lây chấy từ người nằm cạnh, trong ý thức tự tôn của họ những cái đó có hề gì nếu so với việc nam nữ tình tự phải được tuân thủ theo phong tục.

Tới cuối đông, Josef, tay đeo băng của Phòng Xây dựng, đi ra dải tuyết thanh khiết đến lạ kỳ nằm giữa lớp rào trong và lần rào ngoài dẫn điện, với cây thước trên tay và, dưới sự quan sát của lính gác trên tháp canh có mái, vờ như đang đo đạc mảnh đất hoang này cho việc xây dựng.

Dưới chân hàng cột bê tông chi chít trụ sứ cách điện, vừa trồi lên những bông hoa li ti đầu tiên của năm mới. Ve vẩy cây thước thép, anh ngắt hoa nhét vào áo khoác. Anh ôm chùm hoa băng qua trại, lên phố Jerozolimska. Đúng lúc anh đi ngang qua biệt thự của Amon, ngực căng phồng hoa, thì Amon xuất hiện trên ngưỡng cửa, và lừng lững đi xuống. Dừng bước, đứng sững lại, là cách phản ứng tối nguy hiểm khi gặp Amon. Nhưng đã trót dừng chân, Josef như đóng băng ở đó. Anh ngỡ rằng trái tim anh vừa chân thành và nồng nhiệt hiến dâng cho nàng Rebecca mồ côi sắp trở thành một mục tiêu khác của Amon.

Nhưng khi Amon đi qua mặt anh, không để ý đến anh và không phản ứng khi thấy anh đứng đấy với cây thước vu vơ trên tay, Josef Bau kết luận đó là thiên ý. Không ai thoát khỏi Amon trừ phi đó là định mệnh. Có hôm Amon, chỉnh tề trong bộ đồ xạ thủ, bất ngờ xuống trại từ cổng sau và bắt gặp cô gái nhà Warrenhaupt thơ thẩn trong chiếc limousine dưới ga ra, ngắm mình qua gương chiếu hậu. Cửa kính xe cô phải lau chùi vẫn chưa hết ố. Gã đã giết cô vì tội ấy. Rồi hai mẹ con bị gã bắt gặp qua cửa sổ bếp. Họ gọt khoai tây quá chậm. Gã nhoài người qua bậu cửa và bắn cả hai. Lần này, trước cửa nhà gã là một kẻ gã thù ghét, một tên thợ vẽ Do Thái đang yêu, tay đu đưa cây thước thép. Nhưng gã bỏ qua. Bau cảm thấy cơn thôi thúc phải xác thực vận may phi thường này bằng một hành động dứt khoát. Hôn nhân, dĩ nhiên, là hành động dứt khoát hơn cả.

Anh quay lại tòa nhà quản trị, leo lên văn phòng của Stern tìm Rebecca và cầu hôn cô. Rebecca hoan hỉ lẫn âu lo khi thấy vẻ gấp gáp xuất hiện trong cuộc tình của họ.

Tối hôm ấy, lại trong chiếc váy của người chết, anh lại đến gặp mẹ và hội đồng giám phụ ở Lán 57. Họ chỉ đợi một giáo sĩ xuất hiện. Nhưng nếu có giáo sĩ nhập trại, họ cũng chỉ lưu lại vài ngày, trước khi lên đường đến Auschwitz - khiến những ai muốn họ hành lễ kiddushinnissutin cũng không kịp tìm gặp, để yêu cầu họ, trước khi bước vào lò thiêu, thực hiện lần cuối vai trò giáo sĩ của mình.

Josef thành hôn với Rebecca vào một đêm Chủ nhật tháng Hai rét tê người. Không có giáo sĩ. Bà Bau mẹ Josef hành lễ cho họ. Là tín đồ Cải cách, họ không cần tới bản ketubah[5] viết bằng tiếng Aramaic. Ai đó ở xưởng của bác thợ kim hoàn Wulkan đã đánh cho họ một đôi nhẫn từ chiếc thìa bạc bà Bau giấu trên xà nhà. Rebecca lượn quanh Josef bảy lần còn Josef lấy chân giẫm nát thủy tinh - một cái bóng đèn cháy lấy từ Phòng Xây dựng.

Tân lang và tân nương được ưu tiên một giường ở tầng trên cùng. Bà con lấy chăn làm rèm để họ được riêng tư. Đôi trẻ trèo lên giường trong bóng tối, khi quanh họ rộ lên những câu đùa thô tục. Trong các đám cưới ở Ba Lan, luôn có một khoảng thời gian tạm đình khi ái tình trần tục được phép lên tiếng. Nếu quan khách không muốn tự mình nói những lời bỡn cợt, họ có thể thuê một anh hề đám cưới. Những người phụ nữ hồi thập niên hai mươi ba mươi còn nhíu mày trước anh hề chợt nhả và đám đàn ông cười hô hố, họa hoằn mới cho phép bản thân, trên tư cách phụ nữ trưởng thành, được cười vui đôi chút, đêm nay đã thế vai mọi anh hề đám cưới vắng mặt hay đã chết của miền Nam Ba Lan.

Josef và Rebecca bên nhau chưa được mười phút thì đèn trong trại bật sáng. Nhìn qua tấm chăn, Josef thấy Untersturmführer Scheidt đi tuần dọc lối đi. Trong Josef ngập tràn nỗi khiếp sợ quen thuộc về định mệnh. Chúng đã phát hiện ra anh vắng mặt, và cử một trong những kẻ đáng sợ nhất tới lùng sục lều của mẹ anh. Hôm đó Amon làm ngơ anh chỉ để hôm nay Scheidt, kẻ động tay là bắn, có cơ hội giết anh đúng đêm tân hôn!

Anh biết rằng cả nhóm phụ nữ sẽ bị liên lụy - mẹ anh, vợ anh, các nhân chứng, tác giả những câu đùa tinh quái nhất. Anh lầm rầm xin lỗi và xin họ tha thứ. Rebecca bảo anh yên lặng. Cô hạ tấm rèm chân xuống. Đang đêm thế này, cô đoán, Scheidt sẽ không leo lên tầng trên cùng trừ phi có gì khả nghi. Các bà giường dưới chuyển vài chiếc gối rơm nhỏ lên cho cô. Có thể Josef là người đạo diễn cuộc tìm hiểu này, nhưng giờ anh chính là đứa bé cần được che giấu. Rebecca đẩy anh vào sâu trong góc giường rồi lấy gối phủ lên. Cô dõi theo Scheidt đi qua bên dưới và rời lán bằng cửa sau. Đèn tắt. Sau tràng chọc ghẹo nhả nhớt cuối cùng, sự riêng tư được trả lại cho đôi trẻ.

Mới vài phút, còi báo động rú lên. Tất cả ngồi dậy trong bóng tối. Với Bau, như thế nghĩa là chúng quyết tâm hủy hoại cuộc hôn nhân trang trọng này. Chúng đã phát hiện ra giường anh trống không và quyết lùng anh bằng được.

Giữa lối đi tối tăm, đám phụ nữ đang hoang mang. Họ đều hiểu cả. Từ trên giường anh nghe thấy cả. Tình yêu truyền thống của anh sắp làm họ toi mạng. Alteste của lán này, người đã rất tạo điều kiện cho họ, sẽ bị bắn trước tiên, một khi chúng bật đèn và tóm được chú rể giữa mớ quần áo rách của đàn bà.

Josef Bau vơ vội quần áo. Anh hôn tân nương một cách chiếu lệ, tụt xuống sàn, rồi chạy khỏi lán. Trong bóng tối bên ngoài, tiếng còi báo động như xuyên thấu người anh. Anh chạy trên tuyết bẩn, áo khoác và tấm váy cũ cuộn lại dưới nách. Khi đèn chiếu tới, tháp canh sẽ phát hiện ra anh. Nhưng anh có ý tưởng điên rồ là mình sẽ nhanh hơn ánh đèn, thậm chí sẽ vượt được rào nhân lúc dòng điện đổi chiều. Một khi về đến trại nam, anh có thể bịa chuyện bị ỉa chảy, đi vệ sinh và bị ngất, đến khi có còi báo động mới tỉnh lại.

Kẻ cá có bị điện giật, Josef tự nhủ khi chạy hết tốc lực, anh cũng không thể khai ra mình sang trại nữ gặp ai. Cắm đầu lao tới hàng rào tử thần, anh đâu biết rằng kịch bản như trong lớp học sẽ diễn ra trên Appellplatz, và Rebecca sẽ, kiểu gì cũng vậy, buộc phải bước lên.

Hàng rào giữa trại tù nam và nữ ở Płaszów có chín dây dẫn điện. Josef Bau phóng người lên cao để chân đạp vào dây thứ ba, còn tay khi vươn ra có thể bám vào dây thứ hai từ trên xuống. Anh hình dung ra mình leo qua rào nhanh như chuột. Trên thực tế, anh hạ cánh giữa lưới dây và lơ lửng trên đó. Anh cứ ngỡ cái lạnh của kim loại trên tay là tín hiệu đầu tiên của dòng điện. Nhưng chẳng có dòng điện nào. Và không có ánh đèn. Căng người trên hàng rào, Josef Bau không cố suy đoán xem tại sao không có điện. Anh leo lên đỉnh và nhảy sang trại nam. Mình có vợ rồi, anh tự nhủ. Anh lẻn vào nhà vệ sinh cạnh buồng giặt. “Tôi bị tiêu chảy dữ dội. Herr Oberscharführer.” Anh hổn hển giữa mùi xú uế. Amon không thấy anh cái hôm hái hoa… đêm động phòng với sự kiên nhẫn bất ngờ, hai lần bị gián đoạn… Scheidt và còi báo động… đèn pha và rào điện hỏng đột ngột - lảo đảo, hào hển, anh tự hỏi mình có chịu nổi cuộc đời đầy rẫy mơ hồ này không. Như tất cả, anh muốn một sự cứu rỗi rõ ràng hơn.

Anh lò dò bước ra, một trong những người cuối cùng đứng vào hàng. Anh run lẩy bẩy, song tin chắc Alteste sẽ bao che cho mình. “Vâng, Herr Untersturmführer, tôi đã cho phép Häftling Bau đi vệ sinh.”

Hóa ra chúng không tìm anh. Chúng tìm ba thanh niên Zionist, vừa tẩu thoát bằng cách trốn trên xe hàng của xưởng nệm, nơi sản xuất nệm cỏ biển cho Wehrmacht.

❀ ❀ ❀

[1] Một nhân vật trào phúng nổi tiếng của văn học Czech đầu thế kỷ 20.

[2] Tên của Amon Goeth (tiếng Đức là Göth) toàn nguyên âm mở (a, o, ö).

[3] Người lớn tuổi, bậc trưởng lão.

[4] Lấy ý tứ tứ câu đầu trong bài thơ “To His Coy Mistress" của Andrew Marvell.

[5] Bản hôn thú theo phong tục Do Thái.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.