Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

❊ ❊ ❊

Herr Oskar Schindler dạo ấy, người ngày ngày xuống ngựa giữa sân Emalia, vẫn là nhà tài phiệt điển hình. Ông có vẻ đẹp trai hào nhoáng như các minh tinh George Sanders và Curt Jürgens, hai người luôn được ví với ông. Trang phục kỵ sĩ của ông là đồ may đo; ủng đi ngựa bóng loáng. Nhìn ông rõ ra kẻ chỉ biết đến lợi nhuận.

Thế nhưng từ cuộc rong chơi điền dã trở về ông sẽ lên gác và đối diện với loại hóa đơn hoang đường ngay cả với một doanh nghiệp có lịch sử kỳ lạ như DEF.

Mỗi chuyến bánh mì từ lò ở Płaszów đưa đến nhà máy trên phố Lipowa, Zablocie, cỡ vài trăm ổ, giao hàng hai lần một tuần, thi thoảng thêm vào nửa xe củ cải làm màu. Những chuyến xe thùng cao song chở nhẹ ấy chắc chắn sẽ được khai khống lên nhiều lần trên sổ sách của Commandant Goeth, và những tay chân thân tín như Chilowicz sẽ thay mặt Herr Hauptsturmführer bán ra chợ đen khoản chênh lệch giữa lô hàng thật sự đến được phố Lipowa và những chuyến xe ma dồi dào mà Goeth ghi trên giấy tờ. Nếu chỉ trông vào Amon, thì chín trăm tù nhân của Oskar chắc chỉ được ba phần tư kilo bánh mì một tuần và ba ngày một bát súp. Trực tiếp và thông qua viên quản lý, Oskar chi 50.000 zł mỗi tháng mua thực phẩm chợ đen cho bếp ăn trong trại. Và có những tuần ông phải kiếm thêm hơn ba nghìn ổ bánh mì. Ông vào thành phố, nói chuyện với giám sát người Đức của các tiệm bánh lớn, đem theo trong va li tiền mặt và vài ba chai rượu.

Oskar hình như không nhận ra rằng, trên khắp Ba Lan mùa hè năm ấy, ông là một trong những nhà vô địch về nuôi ăn tù nhân trái phép; rằng quầng mây tà ác đáng lẽ theo chính sách của SS phải bao trùm các đại công xưởng tử vong và các trại lao động cưỡng bức quây rào thép gai lại vắng mặt trên phố Lipowa một cách lộ liễu và mạo hiểm.

Mùa hè năm ấy, một loạt sự kiện xảy ra đã củng cố truyền kỳ về Schindler và niềm tin gần như tôn giáo của nhiều tù nhân Płaszów và toàn thể cư dân ở Emalia, rằng Oskar chính là đấng cứu khổ cứu nạn.

Mỗi khi một trại con được thành lập, các quan chức cấp cao từ trại mẹ, tức Lager, sẽ đến thị sát nhằm đảm bảo tinh thần làm việc của lao động khổ sai được khuyến khích một cách quyết liệt và gương mẫu nhất. Không rõ nhân vật nào của Płaszów đã đến thị sát Emalia, nhưng một số tù nhân và chính Oskar luôn khẳng định rằng trong số đó có Goeth. Và nếu không phải Goeth thì cũng là Leo John, hoặc Scheidt. Hoặc Josef Neuschel, đệ tử ruột của Goeth. Không có gì bất công khi gắn những cái tên này với nỗ lực “khuyến khích tinh thần lao động một cách quyết liệt và gương mẫu”. Bất kể là ai, chúng đã từng, trong lịch sử Płaszów, thực hiện hoặc dung túng những hành vi tàn bạo. Lần này, đến Emalia, chúng phát hiện giữa sân một người tù tên Lamus đang đẩy xe cút kít quá chậm. Sau này Oskar khẳng định kẻ đi thị sát hôm đó chính là Goeth, thấy Lamus đang ì ạch, và quay sang viên hạ sĩ quan trẻ là Grün - một đệ tử ruột khác của Goeth, vệ sĩ và cựu đô vật. Chắc chắn y được lệnh hành quyết Lamus.

Vậy là Grün giải Lamus đi, trong khi đoàn thanh tra tiếp tục thị sát các khu khác ở trại mới. Một người ở xưởng cơ khí đã chạy lên Văn phòng của Herr Direktor báo tin. Oskar sầm sập lao xuống cầu thang, còn nhanh hơn cái lần cô Regina Perlman viếng thăm, và xuống đến sân vừa đúng lúc Grün đang bắt Lamus dựa vào tường.

Oskar hét lên, Ở đây không thế được. Anh mà bắn thì công nhân của tôi chẳng còn hồn vía nào làm việc nữa. Tôi có nhiều hợp đồng chiến tranh quan trọng phải đáp ứng, vân vân. Đây là lập luận quen thuộc của Schindler, kèm theo ám chỉ rằng nếu Grün làm ảnh hưởng tới công việc tại Emalia thì tên y sẽ đến tai những quan chức cấp cao quen biết Oskar.

Grün là kẻ ranh mãnh. Y biết đoàn thanh tra đã vào xưởng sản xuất, nơi đây tiếng thình thịch của máy ép kim loại và tiếng gầm gào của máy tiện sẽ át mọi âm thanh mà y quyết định tạo ra, hoặc không. Đối với những kẻ như Goeth hay John, Lamus chẳng là gì và sẽ không ai truy cứu chuyện này. “Làm vậy thì tôi được gì?” tên lính SS hỏi Oskar. “Một lít rưỡi vodka được chứ?” ông đáp.

Với Grün đấy là một món hời. Cái giá của việc ôm súng máy cả ngày trong mỗi đợt Aktion, những đợt hành quyết tập thể hằng ngày ở miền Đông - của việc bắn chết hàng trăm người - là nửa lít vodka. Đồng đội của y xếp hàng nhận nhiệm vụ để có thể mang phần thưởng ấy về bếp ăn mỗi tối. Trong khi Herr Direktor cho y gấp ba chỉ để bỏ qua một trường hợp.

“Tôi chưa thấy chai rượu,” y bảo. Herr Schindler đã kịp huých Lamus rời khỏi bức tường, và đẩy anh đi khuất. “Biến đi!” Grün quát với theo anh chàng đẩy xe cút kít. “Thị sát xong,” Oskar nói, “anh cứ rẽ qua văn phòng tôi mà lấy.”

Oskar cũng thực hiện một giao dịch tương tự khi Gestapo đột kích căn hộ của một người giả mạo giấy tờ, và phát hiện trong mớ căn cước giả đã hoặc sắp hoàn thiện một bộ giấy tờ Aryan của nhà Wohlfeiler - bố, mẹ, và ba đứa con vị thành niên, tất cả đều làm việc ở trại của Schindler. Hai tên Gestapo đến phố Lipowa bắt người đi thẩm vấn, quy trình sẽ dẫn họ, qua nhà tù Montelupich, tới Chujowa Górka. Ba giờ sau khi bước vào văn phòng của Oskar, cả hai ra về, lảo đảo xuống cầu thang, mặt mũi rạng rỡ với vẻ thân thiện nhất thời của cognac và, ai cũng đoán ra, một khoản lót tay. Bộ căn cước bị tịch thu nằm lại trên bàn Oskar, ông nhặt chúng lên và ném vào trong lò.

Tiếp đến, anh em nhà Danziger, thủ phạm làm hỏng chiếc máy ép kim loại vào thứ Sáu. Hai gã trai thật thà, ngơ ngác, chưa thạo việc, giương cặp mắt nông dân ngây ngốc nhìn cỗ máy họ vừa phá hỏng một cách rầm rĩ. Khi đó Herr Direktor đi vắng, và ai đó - một tên gián điệp, Oskar quả quyết - đã tố cáo anh em Danziger với ban quản lý Płaszów. Họ bị bắt đi khỏi Emalia, và án treo cổ họ được loan báo trong buổi điểm danh đầu sáng ở Płaszów. Tối nay, cư dân Płaszów sẽ chứng kiến phiên hành quyết hai kẻ phá hoại. Tất nhiên, tiêu chí đầu tiên đưa anh em Danziger đến với giá treo cổ là mùi Do Thái chính thống tỏa ra từ họ.

Oskar đi công chuyện ở Sosnowiec trở về lúc ba giờ chiều thứ Bảy, ba tiếng trước giờ hành hình. Tin tức về bản án chờ ông trên bàn làm việc. Ông chạy xe ngay đến Płaszów, mang theo cognac và một ít xúc xích kielbasa hảo hạng. Ông đậu xe cạnh tòa nhà quản trị và tìm thấy Goeth trong văn phòng. Ông nhẹ nhõm vì không phải gián đoạn giấc ngủ trưa của viên Commandant. Không ai biết nội dung thỏa thuận giữa họ chiều hôm ấy, trong căn phòng tương tự của Torquemada[1], nơi Goeth cho gắn vòng sắt lên tường để xích tù nhân khi muốn giáo huấn họ. Tuy nhiên, khó mà tin được, chỉ cognac và xúc xích đã thỏa mãn được Amon. Dù sao chăng nữa, cuộc gặp gỡ đã làm nguôi ngoai mối quan ngại của gã về sự toàn vẹn của các cỗ máy ép kim loại của Đế chế, và đến sáu giờ, giờ hành quyết, anh em Danziger đã ngồi trên băng sau chiếc limousine sang trọng của Oskar để trở về mái tranh nghèo yêu dấu Emalia.

Những thắng lợi này, tất nhiên, chỉ là cục bộ. Đặc trưng của các bạo chúa, Oskar biết, là khoan hồng cũng vô cớ như khi kết án. Emil Krautwirt, ban ngày là kỹ sư ở nhà máy máy sưởi bên ngoài Emalia, là một tù nhân trong trại của Oskar. Anh còn trẻ, tốt nghiệp cuối thập niên ba mươi. Krautwirt, như các bạn tù khác ở Emalia, gọi đó là trại của Schindler; nhưng qua việc bắt Krautwirt đến Płaszów treo cổ làm gương, SS đã cho thấy ai mới thật sự là chủ nhân khu trại, ít nhất là trên một số khía cạnh trong sự tồn tại của nó.

Trong số ít ỏi những cư dân Płaszów sống sót đến ngày Hòa bình, vụ treo cổ kỹ sư Krautwirt là chuyện đầu tiên, bên cạnh những khổ đau tủi nhục thầm kín của bản thân, mà họ sẽ nhắc đến. SS luôn rất tiết kiệm khi xây đài hành hình, và ở Płaszów giá treo cổ đơn giản là một hàng cột thấp dài, thiếu đi vẻ uy nghi của các đoạn đầu đài trong lịch sử, của máy chém hồi Cách mạng Pháp, đài treo cổ thời Elizabeth và vẻ oai nghiêm cao vời của cột treo cổ nhà tù tại sân sau các đồn cảnh sát Viễn Tây. Ra đời giữa thời bình, cột treo cổ của Płaszów và Auschwitz khiến người ta khiếp sợ không phải vì vẻ uy nghiêm mà chính từ sự bình thường của chúng. Nhưng các bà mẹ Płaszów sẽ nhận ra, kể cả bằng một kết cấu đơn sơ như thế, những đứa trẻ lên năm vẫn có thể phải chứng kiến quá nhiều từ một vụ hành hình khi đứng giữa đám đông tù nhân trên Appellplatz. Một cậu bé mười sáu tuổi tên là Haubenstock bị treo cổ cùng Krautwirt. Krautwirt bị kết án vì viết thư cho các phần tử bạo loạn ở Cracow. Nhưng với Haubenstock, tội danh của cậu là hát “Volga Volga”, “Kalinka Maya”, và những bài hát Nga bị cấm khác nhằm, án tử hình ghi rõ, lôi kéo lính gác Ukraine về với chủ nghĩa Bolshevik.

Một trong những quy định của lễ hành quyết ở Płaszów là im lặng. Khác những vụ treo cổ vui như ngày hội thời trước, bản án được thi hành trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. Tù nhân đứng thành hàng, dưới sự giám sát của những kẻ biết rõ quyền hạn của mình: Hujar và John; Scheidt và Grün; các hạ sĩ quan Landsdorfer, Amthor, va Grimm, Ritschek và Schreiber; các nữ quản giáo vừa được SS điều tới Płaszów, cả hai đều thiện nghệ với dùi cui - Alice Orlowski và Luise Danz. Dưới sự giám sát ấy những lời cầu xin của tử tù được lắng nghe trong im lặng.

Ban đầu kỹ sư Krauwirt có vẻ bị choáng và không nói gì, nhưng cậu bé thì có. Cậu mếu máo phân trần với Hauptsturmführer, kẻ đứng cạnh giá treo cổ. “Cháu không phải Cộng sản, Herr Commandant. Cháu ghét Cộng sản. Cháu chỉ hát thôi. Mấy bài hát bình thường.” Đao phủ, một gã đồ tể ở Cracow, được xá tội cũ với điều kiện gã nhận việc này, bắt Haubenstock đứng lên ghế, rồi tròng thòng lọng qua cổ cậu. Gã biết Amon muốn treo cổ cậu trước, để đỡ phải nghe cậu lèo nhèo. Khi gã đồ tể đạp đổ chiếc ghế dưới chân Haubenstock, dây đứt, và cậu trai, tím tái và ho sặc, thòng lọng vẫn thắt trên cổ, bò bốn chân tay đến chỗ Goeth, tiếp tục van xin, giúi đầu vào mắt cá viên Commandant và bấu chặt chân gã. Đây là tột đỉnh của sự thuần phục; một lần nữa nó ban cho Goeth cái vương quyền gã đã hưởng dụng trong vài tháng kích động vừa qua. Amon, giữa Appellplatz đầy những khuôn miệng há hốc song không phát ra âm thanh nào ngoài một tiếng xì khe khẽ như gió thì thào trên cồn cát, rút súng ra khỏi bao, đạp cậu bé ra xa, và bắn vào đầu cậu.

Khi chàng kỹ sư Krautwirt tội nghiệp chứng kiến cảnh hành quyết cậu bé, anh lấy ra một lưỡi dao cạo giấu trong túi, và tự cắt cổ tay. Những người tù hàng đầu thấy rõ vết thương Krautwirt tự gây ra ở hai tay là trí mạng. Nhưng Goeth vẫn ra lệnh cho đao phủ thi hành án. Cả người đẫm máu từ vết thương của Krautwirt, hai lính Ukraine nhấc anh lên giá treo cổ, ở đó anh vừa chảy máu ồng ộc từ hai cổ tay, vừa chết ngạt trước mắt người Do Thái miền Nam Ba Lan.

*

Theo lẽ tự nhiên một phần tâm thức con người vẫn tin những màn trình diễn man rợ ấy sẽ là cuối cùng, rằng sẽ có sự nghịch chuyển về phương pháp và thái độ, kể cả ở Amon, không thì cũng ở đám quan lại vô hình cao cao tại thượng - nơi có cửa sổ kiểu Pháp, sàn nhà bóng loáng, nhìn xuống quảng trường có các bà lão bán hoa - những kẻ hoạch định phân nửa những gì đã xảy ra ở Płaszów và dung túng nửa còn lại.

Lần thứ hai bác sĩ Sedlacek tới Cracow, Oskar và vị nha sĩ lên một kế sách mà có lẽ trong mắt một người hướng nội hơn Schindler sẽ bị xem là ngây thơ. Oskar gợi ý với Sedlececk rằng một nguyên nhân khiến Amon tàn bạo như vậy là bởi thứ rượu tồi gã uống, hàng chục lít cái gọi là cognac địa phương ấy đã bào mòn nhận thức vốn đã lệch lạc của gã về báo ứng. Họ nên dùng một phần tiền bác sĩ Sedlacek giao cho Oskar để mua một thùng cognac hảo hạng - một mặt hàng không rẻ và dễ kiếm ở Ba Lan thời hậu-Stalingrad. Oskar sẽ đem tặng Amon và luôn tiện gieo vào đầu gã ý tưởng kiểu gì rồi chiến tranh cũng sẽ kết thúc, và người ta sẽ điều tra hành động của từng cá nhân. Rất có thể chính bạn bè Amon sẽ nhớ những lần gã hành xử quá nhiệt thành.

Bản chất Oskar là vậy - tin rằng ta có thể đối ẩm với quỷ dữ và tác động tới sự cân bằng của cái ác bên một ly cognac. Chẳng phải vì ông e sợ những biện pháp khác quyết liệt hơn. Chẳng qua ông chưa từng nghĩ đến chúng. Ông luôn là con người của giao dịch.

Wachtmeister Oswald Bosko, người quản lý vòng ngoài ghetto trước đây, trái lại, là con người của lý tưởng. Sau cùng anh đã không chịu nổi cảnh làm việc trong hệ thống, nay hối lộ chỗ này, mai giấy tờ giả chỗ kia, lấy hàm cấp của mình ra bảo vệ cho chục đứa trẻ, trong khi cả trăm đứa khác bị giải ra khỏi cổng ghetto. Bosko đã đào ngũ khỏi đồn cảnh sát Podgórze, trốn vào rừng Niepolomice với quân du kích hòng chuộc lại lỗi lầm thuở bồng bột nhiệt tình đi theo phát xít mùa hè năm 1938. Sau cùng anh bị nhận diện ở một làng phía Tây Cracow, khi đóng giả làm nông dân Ba Lan, và bị xử bắn vì tội phản bội. Bosko, bởi vậy, sẽ trở thành kẻ tử vì đạo.

Bosko vào rừng vì không còn lựa chọn khác. Anh không có nguồn lực tài chính mà Oskar sử dụng để bôi trơn hệ thống. Nhưng điều đó cũng phù hợp với cá tính của mỗi người, nghĩa là người này chẳng có gì ngoài bộ quân phục và quân hàm bị vứt bỏ, còn người kia phải đảm bảo có trong tay tiền mặt và hàng hóa để đổi chác. Sẽ chẳng phải là ca tụng Bosko hay hạ thấp Schindler nếu nói rằng nhỡ Oskar có tử vì đạo thì cũng là tai nạn, vì một cuộc làm ăn bỗng phát sinh biến cố. Nhưng nhiều người đã sống sót - nhà Wohlfeiler, anh em Danziger, Lamus - nhờ cách làm của Oskar. Cũng chính nhờ cách làm ấy, mới có sự tồn tại không ai ngờ được của trại Emalia trên phố Lipowa, và tại đây, hầu như mọi ngày, một ngàn con người được an toàn, không sợ bắt bớ, và SS ở lại ngoài hàng rào. Ở đây không ai bị đánh đập, và xúp đủ đặc để duy trì sự sống. Tương xứng với bản chất của họ, lòng căm ghét về đạo đức của cả hai đảng viên, Bosko và Schindler, đều cao ngang nhau, mặc dù Bosko thể hiện bằng cách vứt bỏ bộ quân phục trên mắc áo ở Podgórze, trong khi Oskar cài tấm huy hiệu đảng cỡ đại lên áo rồi mang thứ rượu hảo hạng đi tặng gã Amon Goeth điên cuồng ở Płaszów.

*

Hôm đó là chiều muộn, Oskar và Goeth ngồi trong phòng khách trong tòa biệt thự trắng của Goeth. Nhân tình của Goeth, Majola, tới chơi - một phụ nữ nhỏ xương, làm thư ký ở nhà máy Wagner trong thành phố. Ngày thường cô không ở đây, giữa Płaszów đầy rẫy cực đoan này. Cô là người nhạy cảm, và tính cách này là căn nguyên dẫn tới lời đồn rằng Majola đã dọa không ngủ với Goeth nữa nếu gã tiếp tục tùy tiện hạ sát tù nhân. Nhưng chẳng ai biết điều đó có thật không hay chỉ là một liệu pháp tâm lý phát sinh từ đầu óc những tù nhân đang cố gắng một cách tuyệt vọng để làm mặt đất này dễ sống hơn.

Chiều hôm đấy Majola không lưu lại lâu. Cô biết họ sắp ngồi uống với nhau. Helen Hirsch, cô hầu gái xanh xao mặc áo đen của Amon, bưng các đồ nhắm cần thiết lên - bánh trái, canapé, xúc xích. Cô lảo đảo đi lại với vẻ kiệt sức. Đêm qua, Amon vừa đánh cô vì chuẩn bị đồ ăn cho Majola mà chưa xin phép; sáng nay gã bắt cô leo ba tầng cầu thang năm mươi lần thật nhanh vì một vết cứt ruồi ở một bức tranh trên hành lang. Cô đã nghe đồn về Herr Schindler nhưng hôm nay mới biết mặt. Chiều nay cô không tìm thấy chút an ủi nào từ cảnh hai gã đàn ông cao lớn ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn thấp, đầy vẻ anh em hòa hợp. Ở đây chẳng có gì khiến cô quan tâm nữa, vì cô nghĩ mình đã cầm chắc cái chết. Cô chỉ còn lo cho tính mạng của em gái, đang làm việc dưới bếp ăn tập thể của trại. Cô giấu một món tiền, với hy vọng nó sẽ giúp em cô sống sót. Nhưng cô tin rằng, chẳng món tiền hay giao dịch nào có thể xoay chuyển số phận của bản thân mình.

Cứ thế, họ uống thâu chiều đến tối. Khá lâu sau khi khúc “Lời ru” của Brahm trong màn dạ tấu của người tù Tosia Lieberman đã vỗ yên khu trại nữ và len lỏi qua lần vách gỗ vào đến trại nam, hai người vẫn còn uống tiếp. Buồng gan phi thường của họ sáng rực như lò nung. Và tới thời điểm thích hợp, Oskar nghiêng mình qua bàn và, hành động xuất phát từ một tình bằng hữu, bất chấp ngần ấy cognac, chẳng hề sâu hơn bề mặt làn da… Oskar nghiêng đầu về phía Amon và, ranh mãnh như loài yêu quái, bắt đầu dẫn dụ y kiềm chế.

Amon nghe cũng bùi tai. Oskar cảm giác gã bị hấp dẫn trước ý niệm về đức khoan hòa - một cám dỗ xứng với kẻ làm hoàng đế. Amon có thể hình dung ra cảnh một nô lệ ốm yếu đang đẩy xe, một tù nhân quay về từ nhà máy cáp, lảo đảo - với thái độ gian lận thật khó chấp nhận - mang theo ôm quần áo hoặc bó củi nhận từ cổng trại. Một cảm giác ấm áp kỳ lạ trỗi dậy trong lòng Amon, khi gã nghĩ rằng mình sẽ tha thứ cho tên lề mề, cho tay kịch sĩ khốn nạn ấy. Như Caligula có lẽ từng bị cám dỗ trước ý tưởng về một Caligula Nhân từ, hình ảnh Amon Nhân từ đã chiếm lĩnh trí tưởng tượng của viên Commandant một thời gian. Kỳ thực, đây sẽ luôn là điểm yếu của gã. Đêm nay, khí huyết quản gã vàng rực màu cognac và gần như toàn trại đã ngủ yên ngoài kia, rõ ràng Amon bị quyến rũ bởi lòng từ bi hơn là nỗi sợ bị báo thù. Nhưng sáng ra gã sẽ nhớ lời cảnh báo của Oskar và kết hợp nó với tin tức mối đe dọa từ Nga đang gia tăng trên mặt trận Kiev. Từ Płaszów đến Stalingrad là một khoảng cách khó hình dung nổi. Nhưng từ Płaszów đến Kiev thì có.

Vài ngày sau độ nhậu của Oskar với Amon, Emalia nhận được tin báo rằng cám dỗ kép kia đã tác động tới viên Commandant. Khi trở lại Budapest, bác sĩ Sedlacek sẽ báo cáo với Samu Springmann rằng Amon đã ngừng, ít ra là trước mắt, không giết người tùy tiện nữa. Và người đàn ông nhỏ nhẹ ấy, giữa vô vàn mối lo từ danh sách một loạt địa điểm, từ Dachau và Drancy phía Tây đến Sobibor và Bełżec phía Đông, có lúc đã hy vọng rằng cái lỗ ở Płaszów đã được bịt lại. Nhưng cơn đam mê khoan hồng ấy tan biến rất nhanh. Nếu quả có một thời kỳ hòa hoãn ngắn ngủi thì những ai sống sót và làm chứng về những ngày tháng ở Płaszów cũng chẳng ý thức được. Với họ những cuộc hạ sát ngắn gọn ấy dường như liên tiếp. Nếu Amon không xuất hiện trên ban công sáng nay hay sáng mai, không có nghĩa là ngày kia gã sẽ không xuất hiện. Sự vắng mặt tạm thời của gã là quá ít ngay cả với người tù hoang tưởng nhất để hy vọng về một thay đổi sâu xa trong bản chất viên Commandant. Và kiểu gì gã cũng sẽ tái xuất trên thềm, với chiếc mũ kiểu Áo gã vẫn đội khi sát nhân, tiếp tục tìm kiếm kẻ tội đồ mới qua ống nhòm.

*

Khi trở lại Budapest, bác sĩ Sedlacek không chỉ đem theo tin tức lạc quan quá mức về sự cải hóa của Amon, mà còn cả dữ liệu đáng tin cậy về trại Płaszów. Chiều nọ, một lính gác từ Emalia đến Płaszów triệu Stern tới Zablocie. Khi tới nơi, Stern được dẫn lên căn hộ mới của Oskar. Tại đây Schindler giới thiệu ông với hai nhân vật mặc vét đắt tiền. Người thứ nhất là Sedlacek, người kia là Do Thái nhưng mang hộ chiếu Thụy Sĩ, và tự giới thiệu tên mình là Babar. “Bạn thân mến,” Oskar bảo Stern, “tôi muốn ông viết ngay chiều nay, một báo cáo càng chi tiết càng tốt về tình hình Płaszów.” Stern chưa gặp Sedlacek hay Babar lần nào và cảm thấy Oskar đang sơ suất. Ông bẻ tay và lầm bầm rằng trước khi nhận một nhiệm vụ như thế, ông có lời muốn nói riêng với Herr Direktor.

Oskar thường nói Itzhak Stern không bao giờ đưa ra được một phát ngôn hay yêu cầu nào, trừ phi nó được ngụy trang dưới một mớ thuyết giảng về kinh Talmud và lễ tẩy trần. Song lần này ông khá thẳng thắn. “Ông nói xem, Herr Schindler,” Stern hỏi, “lẽ nào ông không thấy thế này là quá mạo hiểm?”

Oskar nổi khùng. Đến khi ông kiềm chế được thì hai người ở phòng bên chắc cũng nghe thấy. “Nếu mạo hiểm, ông nghĩ tôi có bảo ông làm không?” Rồi ông bình tĩnh lại rồi nói, “Bao giờ mà chẳng mạo hiểm. Cái đó ông còn rõ hơn tôi. Nhưng với hai người này thì không. Họ tin được.”

Sau cùng, Stern dành cả chiều để viết báo cáo. Là học giả, ông đã quen với lối hành văn chính xác. Tổ chức cứu trợ ở Budapest và nhóm Zionist ở Istanbul sẽ có được từ Stern một bản báo cáo đáng tin cậy. Nhân bản tóm lược của Stern với 1.700 trại lao động cưỡng bức lớn nhỏ khắp Ba Lan, ta sẽ có một bức tranh toàn cảnh làm cả thế giới choáng váng!

Sedlacek và Oskar muốn ở Stern nhiều hơn thế. Buổi sáng sau độ nhậu với Amon, Oskar lê buồng gan anh dũng của mình quay lại Płaszów trước giờ làm việc. Ngoài lời khuyên tiết chế mà Oskar thử rót vào tai Amon đêm trước, ông còn kiếm được giấy phép viết tay để mời hai “nhà công nghiệp anh em” đi tham quan cơ sở công nghiệp kiểu mẫu này. Sáng hôm ấy Oskar đưa họ tới tòa nhà quản trị màu xám, và yêu cầu Häftling (tù nhân) Itzhak Stern đưa họ tham quan một vòng. Ông bạn của Sedlacek, Babar, đem theo một chiếc máy ảnh cỡ nhỏ, cầm công khai trên tay. Nếu bị SS chặn lại, chắc ông ta sẽ hoan hỉ vì có cơ hội dừng lại để ba hoa năm phút về món đồ chơi vừa mua được khi đi công cán ở Brussels hay Stockholm.

Khi Oskar và hai vị khách Budapest bước ra từ tòa nhà quản trị, Oskar nắm lấy bờ vai thư lại gầy guộc của Stern. Bạn ông rất vui nếu được đi xem nhà xưởng và khu ăn ở của tù nhân, Oskar nói. Nhưng nếu Stern thấy họ có bỏ sót thứ gì, ông hãy cúi xuống và buộc dây giày.

Trên con đường lớn lát bằng bia mộ vỡ của Goeth, họ đi qua doanh trại SS. Ở đây, gần như ngay lập tức, tù nhân Stern thấy cần buộc dây giày. Bạn hữu của Sedlacek vội chớp lại hình ảnh các toán kéo xe chở đá từ mỏ lên đồi, trong khi Stern lúng túng, “Xin lỗi quý vị.” Thế nhưng ông lại nhẩn nha để họ có thời gian nhìn xuống và đọc kỹ từng mảnh bia mộ. Đây là Bluma Gemeinerowa (1859-1927); và kia là Matylde Liebeskind, mất năm 1912, thọ 90 tuổi; đấy là Rozia Groder, cô bé chết năm 1931, khi mới mười ba; còn có Sofia Rosner và Adolf Gottlieb, mất dưới thời Franz Josef. Stern muốn họ thấy rõ tên của những người quá cố đáng kính nay đã trở thành đá lót đường.

Tiếp tục hành trình, họ đi qua Puffhaus, khu nhà thổ toàn gái Ba Lan dành cho SS và lính Ukraine, trước khi đến mỏ đá, nơi các hầm khai thác chạy ngược vào vách đá vôi. Ở đây dây giày của Stern lại cần thắt nút; ông muốn họ ghi lại cảnh này. SS hủy hoại tù nhân tại vách núi này, vắt kiệt họ bằng búa và đục. Chẳng ai trong các hiệp thợ mỏ sứt sẹo ấy tỏ ra tò mò về ba vị khách sáng nay. Ivan, gã tài xế Ukraine của Amon Goeth, đang có phiên trực ở đây, còn đốc công là một gã tội phạm đầu nhọn người Đức tên gọi Erik. Gã sớm thể hiện năng khiếu sát hại toàn gia sau khi giết cả bố mẹ và em gái. Đáng ra gã đã bị treo cổ hay ít nhất cũng bị tống vào ngục, nếu SS không nhận ra có những kẻ còn phạm tội tày đình hơn giết cha, và nên dùng Erik làm công cụ trừng phạt chúng. Theo báo cáo của Stern, một bác sĩ Cracow tên gọi Edward Goldblatt được điều từ bệnh viện đến đây theo lệnh của bác sĩ SS Blancke và đệ tử Do Thái của ông ta, bác sĩ Leon Gross. Erik khoái thấy cảnh một người có văn hóa và chuyên môn phải đến mỏ đá làm việc và tỏ ra chân yếu tay mềm; và ở trường hợp Goldblatt, đòn roi bắt đầu ngay khi anh tỏ ra vụng về khi sử dụng búa và đục. Suốt nhiều ngày liền Erik cùng đám lính SS và Ukraine đánh đập Goldblatt. Viên bác sĩ phải làm việc với khuôn mặt sưng phồng gấp rưỡi bình thường và một bên mắt híp lại. Không ai rõ sai sót gì về kỹ thuật khai thác đá đã khiến Erik dành cho bác sĩ Goldblatt trận đòn sau chót. Khá lâu sau khi viên bác sĩ đã bất tỉnh, Erik mới cho mang anh đến Krankenstube, song bị bác sĩ Leon Gross từ chối tiếp nhận. Với sự hậu thuẫn y tế này, Erik và một tên lính SS tiếp tục đá viên bác sĩ đang nằm hấp hối và bị từ chối chữa trị trên thềm bệnh viện.

Stern cúi xuống buộc dây giày tại mỏ đá vì, như Oskar và một số khác ở Płaszów, ông tin ở một tương lai có những quan tòa sẽ hỏi, Việc này - một cách trực diện - xảy ra ở đâu?

Oskar có cơ hội giới thiệu toàn cảnh khu trại cho các đồng nghiệp, đưa họ lên tận Chujowa Górka và lô cốt Áo, nơi những cỗ xe cút kít vấy máu dùng để chở người chết vào rừng thản nhiên nằm ở lối vào lô cốt. Đã có hàng nghìn người bị vùi thây dưới những nấm mộ tập thể bên trong hoặc trên bìa những rặng thông phía Đông. Khi quân Nga từ phía Đông tràn xuống, cánh rừng này và những nạn nhân của nó sẽ rơi vào tay họ trước cả trại Płaszów đang sống và chết mòn.

Trên phương diện một kỳ quan công nghiệp, Płaszów sẽ khiến bất cứ khách tham quan nghiêm túc nào thất vọng. Amon, Bosch, Leo John, Josef Neuschel coi đây là một thành phố kiểu mẫu bởi chúng kiếm bộn tiền từ đó. Tất cả hẳn sẽ ngỡ ngàng nếu biết một trong những nguyên nhân duy trì mỏ vàng Płaszów lại chẳng phải là sự hài lòng của Tổng cục Quân giới trước thành tựu kinh tế của cơ sở này.

Kỳ thực điều thần kỳ kinh tế duy nhất tại Płaszów là gia tài khổng lồ của Amon và bè lũ. Người ngoài cuộc tỉnh táo nào cũng sẽ bất ngờ khi thấy các công xưởng của Płaszów được nhận hợp đồng, nếu xét cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu ở nơi này. Nhưng những tù nhân Zionist giảo hoạt ở Płaszów đã gây sức ép với người ngoài, những người có lòng tin như Oskar hay Madritsch, những người đến lượt mình sẽ gây sức ép lên Tổng cục Quân giới. Với quan điểm rằng cái đói và những vụ sát nhân lác đác ở Płaszów còn hơn là cầm chắc sự diệt chủng ở Auschwitz và Bełżec, Oskar sẵn lòng ngồi với đám kỹ sư và nhân viên xét thầu ở Tổng cục Quân giới của tướng Schindler. Họ sẽ nhăn mặt và nói, “Coi nào, Oskar! Thật hay đùa đấy?” Nhưng rốt cuộc họ cũng sẽ kiếm hợp đồng cho trại của Amon Goeth, hợp đồng làm xẻng từ sắt vụn ở nhà máy của Oskar, hợp đồng làm phễu từ thiếc vụn ở một nhà máy mứt bên Podgórze. Khả năng những lô xẻng và cán này được bàn giao đầy đủ cho Wehrmacht là thấp. Nhiều người trong số bạn bè của Oskar trong Tổng cục Quân giới hiểu rõ việc mình làm, rằng kéo dài tuổi thọ trại lao động-nô lệ Płaszów cũng đồng nghĩa với kéo dài sự sống cho một cơ số nô lệ. Với một số, điều đó thật khó nuốt trôi, bởi vì họ biết rõ sự đê tiện của Goeth, và lòng ái quốc truyền thống, nghiêm túc của họ bị lăng nhục bởi lối sống trụy lạc của Goeth ở miền quê ấy.

Điều oái oăm tuyệt đỉnh ở Trại Lao động Cưỡng bức Płaszów - nghĩa là một số nô lệ vì mục đích của bản thân họ mà mưu tính duy trì vương quốc của Amon - được thể hiện trong trường hợp của Roman Ginter. Ginter, trước là doanh nhân và nay là quản đốc ở xưởng kim loại nơi giáo sĩ Levartov vừa được giải cứu, một sáng nọ được gọi lên văn phòng Goeth và, khi vừa khép cửa, nếm ngay một trận mưa đòn. Vừa tẩn Ginter, Amon vừa lầm bầm chửi bới. Rồi gã lôi anh ra ngoài, xuống thềm, đến chỗ bức tường gần cửa trước. Tôi hỏi một câu được chứ? Ginter nói, lưng dựa vào tường, tùy tiện nhổ ra hai cái răng, tránh để Amon nghĩ mình đóng kịch, là kẻ hay than vãn. Đồ chó đẻ, Goeth gầm lên, mày chưa nộp mớ còng tay theo lệnh tao! Lịch bàn của tao ghi rõ rành rành, đồ con lợn a. Nhưng Herr Commandant, tôi xin phép được báo cáo rằng đơn hàng công ty đã được hoàn thành hôm qua. Tôi hỏi Herr Oberschaführer Neuschel phải làm gì tiếp theo, và ông ấy bảo mang lên văn phòng cho ngài, và tôi đã làm rồi.

Amon lôi anh chàng Ginter máu me bê bết trở lại văn phòng và gọi cho Neuschel. Dạ vâng, gã Neuschel trẻ tuổi ngơ ngác. Ngăn kéo bên phải, thứ hai từ trên xuống, thưa Herr Commandant. Goeth tìm và thấy mớ còng. Tí nữa thì tao giết nó, gã cằn nhằn tên đệ tử quê Vienna trẻ người nhưng không sáng dạ lắm này.

Chính anh chàng Roman Ginter, người bình thản nhổ hai chiếc răng xuống sàn tòa nhà quản trị xám xịt của Amon - chính gã Do Thái vô danh suýt chết oan và khiến Amon quở mắng Neuschel - là người mang giấy thông hành đặc biệt đến DEF tìm Oskar để bàn về nguyên liệu cho các xưởng ở Płaszów, chuyện phải có đủ sắt vụn nếu không thì toàn bộ nhân công xưởng cơ khí sẽ bị tống lên tàu đi Auschwitz. Do đó, trong khi Amon Goeth, với cây súng lục vung vẩy trên tay, đinh ninh gã điều hành Płaszów bằng thiên tài quản lý của mình, chính những tù nhân mồm đầy máu mới là người thực sự duy trì nó.

❀ ❀ ❀

[1] Tomás de Torquemada, thầy tu Tây Ban Nha cuối thế kỷ 15. Đại pháp quan của Tòa án Dị giáo.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.