Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 44 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mở Đầu

❊ ❊ ❊

Mùa thu, 1943

Trong cái lạnh sâu thẳm cuối mùa thu Ba Lan, một người đàn ông trẻ, cao lớn, mặc áo khoác đắt tiền, bên trong là bộ dạ phục hai hàng cúc, ve áo đính huy hiệu hình Hakenkreuz (chữ thập ngoặc) viền vàng trên nền men sứ đen, bước ra từ một khu căn hộ thời thượng trên phố Straszewskiego, ven khu phố cổ của Cracow, và nhìn thấy người tài xế đang đứng đợi, hơi thở tỏa khói, bên cánh cửa mở sẵn của chiếc limousine hiệu Adler đồ sộ và sáng bóng dù giữa xứ sở tối tăm này.

“Cẩn thận vỉa hè nhé, Herr[1] Schindler,” người tài xế nhắc. “Trời buốt giá như lòng mụ góa ấy.”

Câu thoại nhỏ giữa mùa đông ấy báo hiệu chúng ta có thể yên tâm. Người đàn ông trẻ, cao lớn nọ, cho đến cuối đời, sẽ luôn mặc áo vét hai hàng cúc, sẽ - là một dạng kỹ sư - luôn được hưởng thụ những cỗ xe hoành tráng, sẽ - mặc dù là người Đức, thậm chí vào thời điểm này của lịch sử còn là một người Đức có máu mặt - luôn là mẫu người mà bác tài người Ba Lan có thể yên tâm buông ra một câu đùa xuề xòa, quê kệch.

Nhưng ta sẽ không thể hiểu toàn bộ câu chuyện chỉ bằng vài gạch đầu dòng về tính cách giản đơn như vậy. Bởi đây là câu chuyện về chiến thắng thực tế của cái thiện trước cái ác, một chiến thắng không mơ hồ, có thể cân đong đo đếm hết sức rõ ràng. Khi tiếp cận nhân tính từ phía bên kia - khi ghi chép những thắng lợi có thể dự báo và định lượng mà cái ác nói chung thường giành được - không khó tỏ ra sâu sắc, châm biếm, cay độc, và không khó tránh khỏi cái bẫy tầm phào. Cũng không khó phản ánh tính tất yếu của việc cái ác chiếm lĩnh tất cả những gì mà ta có thể gọi là da thịt câu chuyện, mặc dù, đến hồi kết, cái thiện có thể giành được dăm thứ hão huyền như phẩm giá và tự tri. Sự tàn ác trong nhân tính là tài liệu của người kể chuyện, tội lỗi nguyên thủy là nước ối của sử gia. Nhưng viết về đạo đức là một nhiệm vụ đầy mạo hiểm.

“Đạo đức” kỳ thực là một từ nguy hiểm, buộc ta phải giải thích ngay lập tức; Herr Oskar Schindler, người đang mạo hiểm đôi giày bóng loáng trên vỉa hè đóng băng trong khu phố cổ thanh lịch này của Cracow, không phải là một nhân vật đạo đức theo nghĩa truyền thống của từ ấy. Ở thành phố này, ông vừa có một căn nhà dành cho nhân tình người Đức, vừa có mối quan hệ lâu dài với cô thư ký người Ba Lan. Vợ ông, Emilie, chủ yếu sống ở quê nhà tại Moravia, tuy thỉnh thoảng có sang Ba Lan thăm chồng. Cũng phải nói rằng, với tất cả đàn bà của mình, ông là một người tình lịch thiệp và hào phóng. Nhưng chiếu theo cách hiểu thông thường về “đạo đức”, điều đó cũng không thể bào chữa cho ông được.

Tương tự, ông hay uống rượu. Đôi khi ông uống chỉ vì khoái ý; còn lại là với đối tác, giới quan chức, đám sĩ quan SS, vì những thành quả hữu hình hơn. Như một số ít người, ông có khả năng uống mà không say, vẫn giữ mình lọc lõi và tỉnh táo. Tuy vậy, điều này - trong định nghĩa hẹp của luân lý - cũng không thể bào chữa cho chuyện ông say sưa. Và dù có đầy đủ tài liệu chứng minh thành tích của Herr Schindler, một đặc điểm của tính mơ hồ ở ông là ông đã làm ăn trong khuôn khổ hay chí ít là dựa trên sức mạnh của một âm mưu đồi bại và man rợ, một âm mưu đã gieo rắc khắp châu Âu những trại tập trung đa dạng nhưng nhất quán về mức độ phi nhân tính, và đã tạo nên một xứ sở ngầm, không ai nhắc đến, của những tù nhân. Vì vậy, có lẽ tốt hơn hết là nên bắt đầu bằng một tình huống thể hiện sơ bộ tư cách đạo đức kỳ lạ của Herr Schindler, và bằng những địa điểm, những đối tác mà nó đã dắt ông tìm đến.

Tới cuối phố Straszewskiego, chiếc xe đi dưới cái bóng đồ sộ của Lâu đài Wawel, nơi viên luật sư con cưng của Đảng Quốc xã, Hans Frank, cai trị Lãnh thổ Ba Lan thuộc Đức[2]. Như cung điện của mọi kẻ đại ác, ở đây không hề có ánh đèn. Cả Herr Schindler lẫn người lái xe đều không ngước nhìn bức tường thành khi chiếc xe rẽ về hướng Đông Nam, chạy ra sông. Đến cầu Podgórze, toán lính gác, được bố trí trên con sông Vistula đóng băng để ngăn chặn quân du kích và những kẻ vi phạm lệnh giới nghiêm qua lại Podgórze và Cracow, đã rất quen với chiếc xe, với khuôn mặt Herr Schindler, và với tấm Passierschein[3] của bác tài trình ra. Herr Schindler thường xuyên qua lại trạm kiểm soát này, từ nhà máy của ông (nơi ông cũng có một căn hộ) vào thành phố có công chuyện, hoặc từ căn hộ trên phố Straszewskiego ra nhà máy ở quận ngoại ô Zablocie. Họ cũng đã quen với việc gặp ông sau khi trời tối, ăn vận trang trọng hoặc bán-trang-trọng, trên đường đến một bữa tối, một buổi tiệc, một phòng ngủ; có thể là, như tối nay chẳng hạn, ra khỏi thành phố mười ki lô mét, đến trại lao động cưỡng bức ở Płaszów, để ăn tối với Hauptsturmführer SS Amon Goeth, một kẻ trụy lạc ở địa vị cao. Herr Schindler có tiếng là người hào phóng tặng rượu vào dịp Giáng sinh, nhờ đó cỗ xe được phép ra vùng ngoại ô của Podgórze mà không phải chờ đợi gì nhiều.

Chắc chắn rằng đến thời điểm này trong đời mình, dù là người thích rượu ngon nhắm tốt, Herr Schindler đi ăn bữa tối nay ở tư dinh của Commandant (Trại trưởng) Goeth với tâm lý chán ghét hơn là mong đợi. Thật ra chưa có lần nào ngồi ăn uống với Amon lại không phải là một điều ghê tởm. Thế nhưng niềm căm ghét của Herr Schindler lại có tính khiêu khích, một cảm giác hả hê, cổ xưa của lòng khinh miệt - tương tự như, trong hội họa thời Trung cổ, thái độ của chính nghĩa trước tà ác. Cảm giác ấy đang kích thích Oskar thay vì làm ông sờn lòng. Ngồi giữa nội thất bọc da đen của chiếc Adler, khi cỗ xe chạy dọc đường xe điện qua nơi mới đây hãy còn là ghetto[4] Do Thái, Herr Schindler, như mọi lần, đốt thuốc liên hồi. Nhưng ông hút một cách tự chủ. Đôi tay không bao giờ có dấu hiệu căng thẳng; ông là người lịch lãm. Tác phong của ông cho thấy ông biết rõ điếu thuốc và chai cognac tiếp theo sẽ từ đầu đến. Chỉ ông mới có thể cho ta biết ông có phải viện đến sự trợ giúp của rượu khi chạy qua làng Prokocim tối tăm, câm lặng, và nhìn thấy, trên đường sắt đi Lwów, một đoàn tàu chở gia súc đang đỗ, trên các toa có thể chở binh lính, tù nhân, thậm chí là - dù ít có khả năng này - gia súc.

Đến vùng nông thôn, có lẽ cách trung tâm thành phố mười cây số, chiếc Adler rẽ phải vào con đường mang cái tên đầy châm biếm là Jerozolimska[5]. Trong cái đêm khắp nơi phủ đầy sương giá này, Herr Schindler nhìn thấy hiện lên dưới chân đồi, đầu tiên là một giáo đường Do Thái đổ nát, rồi hình hài mờ mờ của nơi mà hồi ấy đã tồn tại như thành Jerusalem: Trại Lao động Cưỡng bức Płaszów, thị trấn-trại lính của 20.000 người Do Thái luôn thấp thỏm. Toán lính Ukraine và Waffen SS canh cổng lịch thiệp chào Herr Schindler, vì ở đây họ biết rõ ông chẳng kém gì ở cầu Podgórze.

Đi ngang khu nhà Quản giáo, chiếc Adler chuyển sang một con đường nhà tù lát bằng những tấm bia mộ Do Thái. Nơi này hai năm trước vẫn là nghĩa trang Do Thái. Commandant Goeth, một thi sĩ tự phong, đã đưa bất kỳ ẩn dụ sẵn có nào vào quá trình xây dựng khu trại. Phép ẩn dụ mang hình hài những tấm bia vỡ nát này chạy dọc chiều dài của trại, tách nó làm đôi, nhưng không vươn về phía Đông tới tận tư dinh của Commandant Goeth.

Bên phải, sau dãy nhà của lính gác, là một nhà tang lễ Do Thái cũ. Sự hiện diện của nó như một tuyên bố rằng mọi cái chết tại đây đều là tự nhiên, vì sức khỏe hao mòn, và rằng tất cả đều được khâm liệm. Thật ra nơi này đang là chuồng ngựa của viên Commandant. Mặc dù đã quen với cảnh tượng này, có khả năng Herr Schindler vẫn phản ứng bằng một tiếng ho khẽ đượm màu trào phúng. Phải nói thật rằng, nếu ta phản ứng trước mọi điều trào phúng của châu Âu đương thời, nếu để những thứ đó vào lòng, nó sẽ trở nên một phần gánh nặng trong ta. Nhưng Herr Schindler là người sở hữu một năng lực phi thường trong việc mang theo hành trang ấy.

Tối hôm ấy, một người tù tên là Poldek Pfefferberg cũng trên đường đến tư dinh của viên Commandant. Lisiek, cậu cần vụ mười chín tuổi của viên Commandant, đã tìm đến khu nhà giam của Pfefferberg với giấy phép do một sĩ quan SS ký. Vấn đề của cậu là bồn tắm của Herr Commandant có một vết ố cứng đầu, và Lisiek sợ sẽ ăn đòn vì nó khi Commandant Goeth đi tắm buổi sáng. Pfefferberg, thầy giáo cũ của Lisiek ở trường trung học tại Podgórze, làm việc ở ga ra của khu trại, nơi có thuốc tẩy. Vậy là anh dắt Lisiek xuống ga ra, nhặt một cây lau sàn cùng một can dung dịch tẩy rửa. Tiếp cận biệt thự của viên Commandant là một việc luôn tiềm ẩn nhiều bất trắc, song cũng kèm theo cơ hội nhận được thức ăn từ Helen Hirsch, người hầu Do Thái bị ngược đãi của Goeth, một cô gái hào phóng, và cũng là học trò cũ của Pfefferberg.

Khi chiếc Adler của Herr Schindler còn cách tòa biệt thự 100 mét, lũ chó đã sủa vang - con chó săn sói Great Dane[6] và tất cả những con khác được Amon nuôi trong chuồng trước nhà. Tòa nhà được xây vuông vắn, có tầng áp mái. Cửa sổ tầng trên nhìn ra ban công. Một hàng hiên có lan can bao quanh nhà. Amon Goeth thích ngồi ngoài trời vào mùa hè. Từ khi đến Płaszów, gã đã tăng cân. Đến hè sang năm, gã sẽ thành một tín đồ thờ thần mặt trời béo múp. Nhưng giữa phiên bản này của thành Jerusalem, sẽ chẳng có ai giễu cợt gã.

Tối nay một viên Unterscharführer (trung sĩ) SS đi găng trắng được bố trí ở cửa. Anh ta giơ tay chào rồi dẫn Herr Schindler vào nhà. Trong sảnh, cậu cần vụ người Ukraine, Ivan, cất áo khoác và mũ phớt cho Herr Schindler. Schinder khẽ đập tay lên túi ngực để biết chắc mình có mang quà cho chủ nhân: một hộp thuốc lá mạ vàng, hàng chợ đen. Amon kiếm được rất khá ngoài chức trách của gã, nhất là từ đồ kim hoàn tịch thu được. Một món quà dưới mức mạ vàng sẽ làm gã phật ý.

Trên ngưỡng hai cánh cửa dẫn vào phòng ăn, anh em nhà Rosner đang song tấu, Henry chơi violin, Leo chơi accordion. Theo lệnh Goeth, họ đã trút bỏ bộ đồ rách rưới của xưởng sơn trong trại, nơi họ làm việc ban ngày, để khoác lên bộ dạ phục họ cất dưới trại giam dành riêng cho những dịp này. Oskar Schindler biết, cho dù viên Commandant hân thưởng tài năng của họ, chưa bao giờ anh em Rosner chơi đàn trong biệt thự với tâm lý thoải mái. Họ đã chứng kiến Amon quá nhiều. Họ rõ gã hành xử thất thường và có thiên hướng giết người tùy hứng. Họ chơi một cách cẩn trọng và hy vọng tiếng đàn của mình sẽ không, đột nhiên và không rõ nguyên do, làm gã phật ý.

Bữa tiệc hôm ấy có bảy người. Ngoài Schindler và chủ nhân, còn Julian Scherner, trùm SS vùng Cracow, và Rolf Czurda, trưởng phân cục Cracow của SD, Lực lượng An ninh của Heydrich[7] quá cố. Scherner là Oberführer - hàm giữa Đại tá và Chuẩn tướng của SS, nhưng không có hàm tương đương trong quân đội; Czurda là Obersturmbannführer, ngang Trung tá. Bản thân Goeth là Hauptsturmführer, hay Đại úy. Hôm nay Scherner và Czurda là đại quý khách, vì trại này thuộc phạm vi quản hạt của họ. Cả hai đều tương đối nhiều tuổi hơn Commandant Goeth, và trùm cảnh sát SS Scherner nhìn khá đứng tuổi với cặp kính, cái đầu hói và thân hình hơi phì nộn. Tuy vậy, nếu xét đến lối sống trác táng của viên sĩ quan đàn em thì khoảng cách tuổi tác giữa y và Amon xem ra không lớn lắm.

Người lớn tuổi nhất trong bọn là Herr Franz Bosch, một cựu binh từ Thế chiến I, hiện quản lý nhiều công xưởng khác nhau, hợp pháp lẫn bất hợp pháp, trong trại Płaszów. Y đồng thời là “cố vấn kinh tế” của Julian Scherner và sở hữu cổ phần ở khắp nơi trong thành phố.

Oskar khinh bỉ Bosch lẫn hai trùm cảnh sát, Scherner và Czurda. Cộng tác với họ, tuy vậy, lại là điều rất quan trọng cho sự tồn tại của nhà máy đặc biệt của ông tại Zablocie, bởi vậy ông thường xuyên quà cáp cho họ. Vị khách duy nhất mà Oskar có cảm tình là Julius Madritsch, chủ nhà máy quân phục Madritsch ở trại Płaszów, và quản lý của ông ta, Raimund Titsch, Madritsch trẻ hơn Oskar và Commandant Goeth độ một hai tuổi. Ông ta là người giỏi làm ăn nhưng phúc hậu, và nếu bị chất vấn về sự tồn tại của nhà máy sinh lời của mình trong trại này, sẽ lập luận rằng nó tạo việc làm cho gần bốn nghìn tù nhân và giúp họ thoát khỏi lò sát sinh. Raimund Titsch, một người đàn ông ngoài bốn mươi, thanh mảnh, kín đáo, dễ rời tiệc sớm, là quản lý của Madritsch. Ông chuyển lậu hàng xe thực phẩm vào trại cho tù nhân (một hành động phiêu lưu có thể mang đến một chuyến lưu trú chết người ở nhà tù Montelupich của SS, nếu không thì cũng là Auschwitz), và tán thành quan điểm của Madritsch.

Đó là bộ sậu khách quen trong những bữa tối tại tư dinh của Herr Commandant Goeth. Bốn khách nữ, tóc uốn cầu kỳ, váy áo đắt tiền, trẻ hơn tất cả đám đàn ông. Họ là gái điếm hạng sang người Đức và Ba Lan tại Cracow. Vài người là khách thường xuyên ở đây. Con số bốn là để hai sĩ quan cấp tá có lựa chọn cho nhu cầu nam nhi của mình. Nhân tình người Đức của Goeth, Majola, thường lưu lại căn hộ của cô ta trong thành phố mỗi lần Amon có tiệc tùng. Cô nàng xem đây là những cuộc tụ tập của cánh đàn ông, và do đó tổn thương đến sự nhạy cảm của mình.

Chuyện hai trùm cảnh sát và viên Commandant thích Oskar theo cách của mình là điều chắc chắn. Tuy nhiên, họ vẫn thấy con người này có chút gì kỳ quái. Có lẽ họ sẵn lòng quy kết một phần cho gốc gác của Schindler. Hắn ta là dân Đức Sudeten[8] - so với họ cũng như Arkansas so với Manhattan, Liverpool so với Cambridge. Có dấu hiệu cho thấy tư tưởng của hắn có vấn đề, dù là người rất chịu chi, là nguồn cung dồi dào những mặt hàng khan hiếm, tửu lượng cao, óc hài hước hơi chậm và đôi khi ồn ào. Hắn là loại người ta mỉm cười gật đầu chào mỗi khi thấy ở các cuộc giao tế, nhưng nhảy dựng lên rồi làm ầm ĩ về hắn lại là không cần thiết, thậm chí không khôn ngoan.

Nhiều khả năng ba sĩ quan SS nhận thấy sự xuất hiện của Oskar Schindler vì vẻ phấn khích bất ngờ ở bốn cô gái. Người quen của Oskar hồi ấy đều nhắc đến sức hấp dẫn tự nhiên như nam châm của ông, đặc biệt là với phụ nữ, những đối tượng mà với họ Herr Schindler luôn thành công một cách bất tận và bất chính. Hai trùm cảnh sát, Czurda và Scherner, lúc này hẳn đã chuyển sự chú ý sang Schindler như để kiềm chế không chú ý đến các cô gái. Goeth cũng tiến đến bắt tay ông. Viên Commandant cao ngang Schindler, và ấn tượng rằng gã béo bất thường so với độ tuổi ngoài ba mươi càng trở nên nổi bật và chiều cao ấy, một chiều cao thể thao khiến phần béo phì như bị cấy vào cơ thể gã một cách phi tự nhiên. Khuôn mặt gần như không khiếm khuyết trừ hơi rượu trong ánh mắt. Viên Commandant uống thứ rượu bản xứ hơi quá đà.

Gã, dù vậy, không đến nỗi như Herr Bosch, chuyên gia kinh tế của Płaszów và SS. Herr Bosch có cái mũi đỏ tía; nguồn oxy lẽ ra thuộc về các mạch máu trên mặt y từ nhiều năm nay đã bị mang ra nuôi lưỡi lửa xanh của ngần ấy rượu cồn. Schindler gật đầu chào, biết tối nay Bosch sẽ, như thường lệ, đặt hàng mình.

“Hãy chào mừng nhà công nghiệp của chúng ta,” Goeth lớn tiếng, rồi trịnh trọng giới thiệu Schindler với các cô gái. Trong lúc đó, anh em nhà Rosner tấu nhạc của Strauss, ánh mắt Henry chỉ vơ vẩn giữa các dây đàn và góc phòng trống trải nhất, còn Leo cúi mặt mỉm cười với những phím accordion.

Đến lượt các cô gái được giới thiệu với Herr Schindler. Khi hôn những bàn tay họ chìa ra, Schindler thấy tội nghiệp những cô gái mua vui ở Cracow này, vì ông biết sau đây - khi màn đét-và-cù bắt đầu - đét có thể sẽ lằn và cù sẽ khoét thịt. Nhưng hiện tại, Hauptsturmführer Amon Goeth, một kẻ bạo dâm khi say, vẫn là một quý ông thành Vienna mẫu mực.

Màn trò chuyện trước bữa ăn không có gì đặc biệt. Họ nói về chiến tranh, và trong khi trùm SD Czurda lãnh trách nhiệm trấn an một cô gái Đức cao ráo rằng Crimea được phòng thủ vững chắc, trùm SS Scherner kể cho cô khác chuyện người quen của у thời ở Hamburg, một anh chàng tử tế, một viên Oberscharführer SS, bị thổi bay cả hai chân khi du kích đánh bom một nhà hàng tại Czestochowa. Schindler bàn chuyện nhà máy với Madritsch và Titsch. Giữa ba doanh nhân này có một tình bạn thực sự. Schindler biết tay Titsch bé nhỏ nọ đã mua trái phép một lượng lớn bánh mì chợ đen cho tù nhân tại nhà máy quân phục của Madritsch, và phần lớn số tiền này do Madritsch thu xếp. Đây là một nghĩa cử rất nhỏ bé, bởi vì, theo quan điểm của Herr Schindler, lợi nhuận ở Ba Lan thừa sức thỏa mãn một nhà tư bản tham lam nhất đồng thời trang trải chi phí mua thêm bánh mì trái phép. Với Schindler, các đơn hàng với Rüstungsinspektion, Tổng cục Quân giới - cơ quan đấu thầu và ký hợp đồng sản xuất mọi mặt hàng quân đội Đức cần - hậu hĩnh tới mức ông đã vượt qua khát vọng phải thành đạt trong mắt cha mình. Đáng buồn thay, Madritsch, Titsch và bản thân ông, Oskar Schindler, là những người duy nhất ông biết thường xuyên chi tiền mua bánh mì chợ đen.

Gần đến giờ Goeth mời họ vào bàn ăn, Herr Bosch đến gần Schindler, và như dự đoán, nắm lấy khuỷu tay rồi dẫn ông ra cửa, nơi hai nhạc công trình tấu, như thể nghĩ rằng giai điệu hoàn hảo của anh em Rosner sẽ che đậy nội dung câu chuyện. “Làm ăn tốt hả,” Bosch hỏi.

Schindler mỉm cười. “Ông biết mà, phải không, Herr Bosch?”

“Tôi biết,” Bosch đáp. Tất nhiên Bosch đã đọc những bản tin chính thức của Ủy ban Quân giới, thông báo những hợp đồng được giao cho nhà máy của Schindler.

“Tôi tự hỏi,” Bosch nói, hơi nghiêng đầu, “trước tình hình ăn nên làm ra hiện nay, nói cho cùng cũng dựa trên thành công chung của chúng ta trên một loạt các Mặt trận… tôi tự hỏi, không biết ông có sẵn lòng cho một cử chỉ hào hiệp. Không có gì to tát hết. Một cử chỉ thôi.”

“Tất nhiên,” Schindler đáp. Ông thấy buồn nôn khi bị lợi dụng, nhưng đồng thời cũng có một cảm giác hưng phấn rất gần với khoái trá. Đã hai lần Văn phòng của trùm cảnh sát Scherner dùng ảnh hưởng của mình để giúp Oskar Schindler khỏi bị vào tù. Nay thuộc hạ của y lại tích lũy món nợ để phải làm vậy một lần nữa.

“Nhà dì tôi ở Bremen vừa bị trúng bom, khổ thân bà cụ,” Bosch nói. “Sạch sẽ! Từ giường cưới đến tủ bếp - tất cả đám đồ sứ Meissen của cụ. Tôi tự hỏi, liệu ông có thể dành cho cụ một ít đồ bếp được không. Có thể thêm một hai cái liễn - loại liễn nấu xúp cỡ lớn mà ông cho ra lò ở DEF ấy.”

Deutsche Emailwaren Fabrik (Nhà máy Đồ dùng tráng men Đức) là tên doanh nghiệp đang phát đạt của Herr Schindler. Người Đức gọi tắt là DEF, nhưng dân Ba Lan và Do Thái có một cách gọi tắt khác, là Emalia.

Herr Schindler đáp, “Tôi nghĩ cái đó có thể thu xếp được. Ông muốn hàng được gửi thẳng cho cụ hay là qua chỗ ông?”

Bosch thậm chí không cười. “Qua chỗ tôi chứ, Oskar. Tôi muốn gửi kèm một tấm thiệp nhỏ.”

“Tất nhiên.”

“Vậy cứ thế nhé. Coi như sáu tá tất cả mọi thứ - bát xúp, đĩa, cốc cà phê. Và nửa tá nồi hầm kia nữa.”

Herr Schindler, quai hàm nhướng lên, bật cười thật tình, tuy có hơi mỏi mệt. Nhưng khi lên tiếng, giọng ông vẫn ân cần. Mà quả có thế thật. Riêng chuyện quà cáp ông luôn rất phóng tay. Chỉ là hình như Bosch phải gánh chịu các loại họ hàng bị trúng bom hơi thường xuyên.

Oskar lẩm bẩm, “Nhà dì ông có phải trại mồ côi không đấy?”

Bosch lại nhìn vào mắt ông; gã say này không biết lần tránh là gì. “Bà cụ già rồi và chẳng có của nả gì. Cái gì không dùng đến, bà ấy có thể đem đổi.”

“Tôi sẽ nhắc thư ký lo chuyện này.”

“Em gái Ba Lan ấy hả?” Bosch hỏi. “Ngon mắt nhỉ?”

“Ngon mắt thật,” Schindler tán thành.

Bosch toan huýt sáo, nhưng độ căng của đôi môi đã bị hủy hoại bởi thứ rượu độ cồn cao, và âm thanh phát ra chỉ như một tiếng phì khe khẽ. “Vợ ông,” y nói, kiểu giữa đàn ông với nhau, “hẳn là một nữ thánh.”

“Đúng vậy,” Herr Schindler thừa nhận cụt lủn. Bosch muốn xin đồ bếp thì được thôi, nhưng đề cập đến vợ ông thì miễn cho.

“Này ông,” Bosch nói. “Làm thế nào mà ông yên được với bà ấy? Chắc chắn bà ấy biết… nhưng xem ra ông kiểm soát bà ấy rất giỏi.”

Vẻ hài hước trên mặt Schindler tan biến hoàn toàn. Thay vào đó là sự chán ghét lộ liễu. Tiếng gầm dữ dội khe khẽ phát ra từ ông, mặc dù vậy, vẫn không khác giọng Schindler lúc bình thường.

“Tôi không bao giờ nói chuyện riêng tư,” ông nói.

Bosch cuống quýt. “Xin lỗi. Tôi không định…” Y líu ríu xin lỗi. Cảm tình của Herr Schindler đối với Her Bosch chưa đủ để giải thích cho y, trong cái đêm muộn này của đời mình, rằng đấy không phải là chuyện ai kiểm soát ai, rằng thảm họa hôn nhân của Schindler thực ra là trường hợp một tính cách khổ hạnh - của Frau Emilie Schindler - và một tính cách phóng túng - của Herr Oskar Schindler - đã tự nguyện ràng buộc lẫn nhau bất chấp mọi lời can gián. Những cơn giận của Oskar đối với Bosch còn sâu xa hơn là chính ông sẽ tự thừa nhận. Emilie rất giống người mẹ quá cố của ông, Frau Louisa Schindler. Herr Schindler cha đã ruồng bỏ bà vào năm 1935. Vậy nên Oskar có một cảm giác vô thức rằng khi đùa cợt về cuộc hôn nhân giữa ông và Emilie, Bosch đồng thời đã hạ thấp phẩm giá cuộc hôn nhân của cha mẹ ông.

Y vẫn tiếp tục tuôn ra những lời xin lỗi. Bosch, kẻ thọc tay vào mọi ngăn kéo tính tiền ở Cracow, lúc này đang vã mồ hôi vì sợ mất oan sáu tá bộ đồ bếp.

Các vị khách được mời vào bàn. Người hầu gái mang xúp hành lên và lấy phần cho từng người. Trong khi khách khứa ăn uống và trò chuyện, hai anh em nhà Rosner tiếp tục chơi đàn, tiến lại gần thực khách hơn, song vẫn giữ khoảng cách để không ảnh hưởng tới việc đi lại của cô hầu gái hay của Ivan và Petr, hai cậu cần vụ người Ukraine của Goeth. Herr Schindler, ngồi giữa cô gái cao ráo mà Scherner đã chấm và một cô gái Ba Lan nói tiếng Đức, nhỏ xương, mặt mũi ưa nhìn, nhận thấy cả hai đều quan sát người hầu gái. Cô mặc trang phục nội trợ truyền thống, váy đen, tạp dề trắng. Trên tay cô không đeo ngôi sao sáu cánh, lưng cô cũng không có vệt sơn vàng. Nhưng nhìn cô vẫn rõ ra người Do Thái. Điều thu hút sự chú ý của các cô gái khác là tình trạng của khuôn mặt cô. Viền xương hàm cô bầm tím, và chúng ta hẳn sẽ nghĩ rằng Goeth không biết hổ thẹn là gì mới để người hầu xuất hiện trong tình trạng như vậy trước quan khách đến từ Cracow. Các cô gái và Herr Schindler đều thấy, ngoài vết thương ở mặt, còn một vết tím đáng sợ hơn, và không phải lúc nào cũng được cổ áo che lấp, ở nơi tiếp giáp giữa bờ vai và cái cổ thanh mảnh của cô.

Không những không mặc kệ cô gái ở hậu trường không một lời giải thích, Amon Goeth còn xoay ghế về phía cô, ngoắc tay ra hiệu cho cô, rồi phô bày cô cho quan khách đang tề tựu. Đã sáu tuần nay Herr Schindler chưa viếng thăm căn nhà này, song những nguồn tin của ông cho biết, quan hệ giữa Goeth và cô gái đã biến thái theo hướng này. Khi có khách, gã lấy cô ra làm đề tài chuyện gẫu. Gã chỉ giấu cô đi khi có thượng cấp từ ngoài Cracow đến thăm.

“Thưa quý bà quý ông,” gã nói, bắt chước giọng người dẫn chương trình giả vờ say khướt của quán cabaret[9], “xin hân hạnh giới thiệu Lena. Sau năm tháng được tôi rèn giũa, nay cô ả đã thông thạo cả nấu nướng lẫn phép tắc.”

“Nhìn mặt là thấy,” Cô gái cao ráo nói, “cô nàng vừa đụng độ với đồ đạc dưới bếp.”

“Và còn có thể đụng lần nữa,” Goeth thoải mái cười khùng khục. “Phải. Lần nữa. Có không hả, Lena?”

“Hắn rất phũ với đàn bà,” tay trùm SS nói và nháy mắt với bạn tình cao ráo của mình. Dụng ý của Scherner chưa hẳn đã là không tử tế, bởi y không nói đàn bà Do Thái mà là đàn bà nói chung. Khi Goeth nhớ ra Lena là người Do Thái cũng là lúc cô phải nhận thêm những đòn trừng phạt, hoặc công khai, trước mặt thực khách, hoặc sau đấy, khi bạn bè của viên Commandant đã ra về. Scherner, là cấp trên của Goeth, có thể ra lệnh cho viên Commandant ngừng đánh đập cô. Nhưng thế sẽ là bất nhã và làm hỏng không khí thân mật của những bữa tiệc ở tư dinh của Amon. Scherner đến đây không phải với tư cách thượng cấp, mà như một bằng hữu, một đối tác, một bạn rượu, một người thưởng thức đàn bà. Amon là kẻ kỳ quái, nhưng không ai có thể gây cuộc tiệc tùng khéo được như gã.

Tiếp đến là cá trích xốt, sau đó tới chân giò lợn, dưới bàn tay nấu nướng và bày biện tuyệt hảo của Lena. Họ uống một loại vang đỏ Hungary khá nặng kèm với món thịt. Anh em nhà Rosner chuyển sang một điệu czardas nồng nhiệt, và không khí trong phòng ăn quánh lại, tất cả sĩ quan đều cởi áo quân phục. Câu chuyện tiếp tục xoay quanh các hợp đồng chiến tranh. Họ hỏi han Madritsch, nhà sản xuất quân phục, về nhà máy của ông ở Tarnow. Nó làm ăn với những đơn đặt hàng của Tổng cục Quân giới có khá như cái trong trại Płaszów này không? Madritsch quay sang hỏi Titsch, viên quản lý gầy gò và khắc khổ của mình. Goeth bỗng nhiên có vẻ tự lự, như người đang dở bữa tối chợt nhớ ra một việc cấp bách phải xử lý lúc chiều, giờ đang giục giã mình từ bóng tối của phòng làm việc.

Các cô gái Cracow bắt đầu thấy chán. Cô gái Ba Lan nhỏ xương, môi bóng, chắc độ hai mươi, khéo chỉ mười tám, đặt tay lên tay áo bên phải của Herr Schindler. “Ông không phải lính à?” cô thì thầm. “Ông mà mặc quân phục chắc oách lắm.” Mọi người bật cười khúc khích - kể cả Madritsch. Hồi 1940 ông từng mặc áo lính một thời gian cho đến khi được giải ngũ, vì tài năng quản lý của ông rất cần thiết cho công cuộc chiến tranh. Nhưng Herr Schindler là người rất có thế lực nên chưa bao giờ bị Wehrmacht[10]đe dọa. Madritsch cười, vẻ hiểu biết. “Quý vị nghe không?” Oberführer Scherner hỏi cả bàn. “Tiểu thư đây vừa hình dung ra nhà công nghiệp của chúng ta mặc áo lính. Binh nhì Schindler, hả? Ngồi xúc cơm trong cặp lồng với cái chăn khoác trên vai. Tít tận Kharkov.”

Xét phong thái lịch lãm với y phục may đo của Herr Schindler, bức tranh ấy quả là kỳ quái, và chính Schindler cũng phải bật cười.

“Vụ này đã xảy ra với…” Bosch nói, cố gắng búng tay; “xảy ra với… tên thằng cha ở Warsaw ấy là gì nhỉ?”

“Toebbens,” Goeth nói, bất ngờ bừng tỉnh. “Xảy ra với Toebbens. Suýt nữa.”

Tay trùm SD, Czurda, nói, “Ừ, đúng rồi. Vụ đấy Toebbens suýt chết.” Toebbens là một nhà công nghiệp tại Warsaw. Lớn hơn Schindler, lớn hơn Madritsch. Hết sức thành đạt. “Heini,” Czurda nói (Heini tức là Heinrich Himmler), “tới Warsaw, bảo đảm quân giới ở đó. Đuổi bọn chó Do Thái khỏi nhà máy của Toebbens đi, đăng lính cho Toebbens tống hắn ra Mặt trận. Mặt trận! Rồi Heini bảo các đồng nghiệp của tôi trên ấy. Lấy kính hiển vi ra soi sổ sách của hắn cho ta!”

Toebbens là con cưng của Tổng cục Quân giới, cơ quan đã ưu ái y bằng nhiều hợp đồng quân sự và được y ưu ái lại bằng quà cáp. Sự phản đối của Tổng cục Quân giới đã cứu mạng Toebbens, Scherner trịnh trọng tuyên bố với cả bàn, rồi nghiêng người về phía trước và nháy mắt lộ liễu với Schindler. “Không đời nào xảy ra ở Cracow nhé, Oskar. Tụi này quá yêu mến ông.”

Đột nhiên, như thể để biểu lộ tình cảm nồng ấm cả bàn dành cho Herr Schindler nhà công nghiệp, Goeth đứng dậy và ngâm nga một bản nhạc không lời, hòa cùng giai điệu của vở Madame Butterfly mà hai nghệ sĩ bảnh bao nhà Rosner đang trình tấu một cách cần mẫn, như mọi người thợ thủ công của mọi nhà máy bị uy hiếp, ở mọi ghetto bị uy hiếp.

Lúc này Pfefferberg với Lisiek, cậu cần vụ, đang ở trên gác, trong phòng tắm của Goeth, cố đánh cho sạch vết ố trong bồn tắm. Họ có thể nghe thấy tiếng nhạc của hai anh em Rosner, những tràng cười và câu chuyện. Lúc này dưới nhà đã chuyển sang uống cà phê; cô gái thâm tím Lena đã mang khay lên cho khách rồi rút lui xuống bếp mà không bị xâm hại gì.

Madritsch và Titsch mau chóng kết thúc ly cà phê và rút lui. Schindler chuẩn bị theo gót họ. Cô gái Ba Lan nhỏ nhắn có ý phản đối, nhưng đây không phải là ngôi nhà dành cho ông. Tại nhà Goeth chẳng có gì là cấm kỵ, nhưng Oskar nhận ra rằng hiểu biết hậu trường của mình về giới hạn hành xử của SS ở Ba Lan sẽ rọi một thứ ánh sáng buồn nôn lên mỗi lời ta nói, mỗi cốc ta uống tại đây, chưa kể đến mỗi lời mời mọc giao hoan. Cho dù có dắt một cô gái lên gác, ta cũng không thể quên rằng Bosch và Scherner và Goeth đang là anh em chung khoái lạc với mình, đang - ngoài cầu thang hay trong phòng tắm hay trên phòng ngủ - thực hiện những động tác tương tự. Herr Schindler, tuy không phải là thầy tu, thà làm thầy tu còn hơn hưởng thụ một người đàn bà tại tư gia của Goeth.

Ông nói chuyện với Scherner qua mặt cô gái, về chiến sự, về thổ phỉ Ba Lan, về nguy cơ sắp có một mùa đông rét mướt. Để cô gái hiểu rằng Scherner với ông là anh em, mà ông không bao giờ giành gái của anh em. Nhưng ông vẫn hôn tay cô lúc chào tạm biệt. Ông trông thấy Goeth, mặc độc sơ mi, sắp biến mất sau cánh cửa phòng ăn và hướng lên cầu thang, với sự nâng đỡ của một trong những cô gái kề cận gã trong bữa tối. Oskar cáo lỗi mọi người và đuổi theo viên Commandant. Ông chìa tay ra, đặt lên vai Goeth. Ánh mắt gã gắng gượng tập trung vào ông. “Kìa,” gã khề khà. “Về à, Oskar?”

“Tôi phải về nhà,” Oskar nói. Ở nhà có Ingrid, nhân tình người Đức của ông.

“Ông đúng là đồ ngựa giống,” Goeth nói.

“Còn thua ông xa,” Schindler đáp.

“Không, ông nói đúng. Tôi là thần trên đỉnh Olympus mẹ nó rồi. Bọn tôi đang đi… bọn tôi đang đi đâu nhỉ?” Gã ngoảnh sang cô gái nhưng tự trả lời. “Bọn tôi đang đi xuống bếp xem Lena dọn dẹp có tử tế không.”

“Không,” cô gái bật cười. “Không xuống bếp đâu.” Cô lái gã về phía cầu thang. Đây là ý tốt của cô - xuất phát từ tình chị em - muốn bảo vệ cô gái mảnh mai, bầm tím trong nhà bếp.

Schindler dõi theo họ - gã sĩ quan đồ sộ, cô gái mảnh mai đang dìu gã - loạng choạng, xiêu vẹo đi lên cầu thang. Trông Goeth như một kẻ sẽ ngủ thẳng cẳng đến trưa hôm sau, nhưng Oskar biết thể chất đáng kinh ngạc và đồng hồ sinh học của gã. Goeth thậm chí có thể quyết định dậy lúc ba giờ sáng để viết thư cho cha gã ở Vienna. Đến bây giờ, khi mới ngủ một tiếng, gã sẽ có mặt ngoài ban công, súng trường trên tay, sẵn sàng bắn bất kỳ tù nhân nào trễ nải.

Khi cô gái và Goeth lên đến chiếu nghỉ đầu tiên, Schindler bèn lẻn vào hành lang và đi xuống nhà dưới.

Pfefferberg và Lisiek nghe thấy tiếng viên Commandant, sớm hơn họ nghĩ đáng kể, bước vào phòng ngủ và làu bàu với cô gái gã vừa đem lên gác. Trong im lặng, họ nhặt nhạnh dụng cụ lau chùi, lẻn sang phòng ngủ và cố gắng chuồn đi qua cửa hông. Vẫn đang đứng và thấy họ trên đường tẩu thoát, Goeth rụt lại khi nhìn thấy cây lau nhà, ngỡ rằng họ định ám sát gã. Tuy nhiên, khi Lisiek bước lên và bắt đầu run rẩy trình bẩm, viên Commandant hiểu ra họ chỉ là tù nhân.

“Herr Commandant,” Lisiek nói, hổn hển vì một nỗi sợ hãi dễ hiểu, “tôi xin phép được báo cáo rằng trong bồn tắm của ngài có một vết ố…”

“À,” Amon nói. “Thế nên mi bèn gọi chuyên gia.” Gã ra hiệu cho cậu bé. “Lại đây, cưng.”

Lisiek nhích lại gần và bị táng một đòn dữ dội đến nỗi cậu ngã sóng soài dưới gầm giường. Amon nhắc lại lời mời, như thể chuyện gã nói năng âu yếm với tù nhân sẽ làm cô gái thích thú. Cậu trai Lisiek đứng dậy và lảo đảo lại gần viên Commandant để ăn một lượt đòn nữa. Trong khi cậu bé bò dậy lần hai, Pfefferberg, một tù nhân giàu kinh nghiệm, đã chuẩn bị tinh thần đón nhận bất cứ chuyện gì - rằng họ sẽ bị Ivan áp giải xuống vườn và bắn luôn. Tuy nhiên viên Commandant chỉ gầm thét đuổi họ ra, và họ tuân lệnh ngay lập tức.

Mấy ngày sau, Pfefferberg, khi nghe tin Lisiek bị Amon bắn chết, liền nghĩ ngay đến vụ nhà tắm. Kỳ thực sự việc lại vì một nguyên nhân hoàn toàn khác - lỗi của Lisiek là đã thắng xe ngựa cho Herr Bosch mà không xin phép trước.

Trong nhà bếp, cô hầu gái, tên thật là Helen Hirsch (cô luôn nói rằng Goeth gọi cô là Lena vì lười), ngẩng lên và phát hiện ra một vị khách tối nay đứng trên ngưỡng cửa. Cô đặt khay thịt vụn trên tay xuống, rồi luống cuống giật mình đứng nghiêm. “Herr…” Cô nhìn chiếc áo dạ phục của ông để tìm từ thích hợp. “Herr Direktor, tôi chỉ đang cất riêng xương ra cho đàn chó của Herr Commandant.”

“Coi nào, coi nào,” Herr Schindler nói. “Cô không có nghĩa vụ phải báo cáo với tôi, Fraulein[11] Hirsch.”

Ông đi vòng qua bàn. Ông không có vẻ gì là rình mò cô, nhưng cái cô sợ là ý định của ông. Tuy Amon thích đánh đập cô, dòng máu Do Thái luôn giúp cô thoát khỏi việc bị xâm phạm tình dục lộ liễu. Nhưng có những người Đức không kén chọn về chủng tộc như Amon. Ngữ điệu của người này, dầu vậy, hoàn toàn xa lạ với cô, khác cả những sĩ quan hay hạ sĩ quan SS vẫn xuống bếp để phàn nàn về Amon.

“Cô không biết tôi ư?” ông hỏi, như một ngôi sao bóng đá, hoặc một nhạc công vĩ cầm, ý thức về sự nổi tiếng của bản thân bị tổn thương vì người ta không nhận ra mình. “Tôi là Schindler.”

Cô cúi đầu. “Herr Direktor,” cô đáp. “Tất nhiên, tôi đã nghe nói… Ông cũng từng đến đây rồi. Tôi nhớ rồi…”

Ông ôm lấy cô. Ông cảm nhận rõ ràng sự căng thẳng của cơ thể cô, khi môi ông chạm vào má cô.

Ông thì thầm. “Không phải cái hôn kiểu ấy đâu. Tôi hôn cô vì thương xót, nếu như cô muốn biết.”

Cô không nén nổi trào nước mắt. Lúc này Herr Direktor Schindler hôn mạnh lên trán cô, theo kiểu chào tạm biệt của người Ba Lan ngoài ga tàu, một cái bập môi âm vang thành tiếng kiểu Đông Âu. Cô thấy ông cũng bắt đầu ứa lệ. “Cái hôn ấy là tôi gửi đến cho cô từ…” Ông vẫy tay, ám chỉ một tộc người trung thực ở đâu đó ngoài kia, trong bóng tối, ngủ giường tầng hoặc trốn trong rừng, những người mà cô - bằng cách hứng chịu những đòn trừng phạt từ Hauptsturmführer Goeth - đang gánh đỡ một phần áp lực.

Herr Schindler buông cô ra, lấy từ trong túi ra một thanh kẹo lớn. Bản thân sự xa xỉ của nó đã có vẻ sặc mùi tiền chiến.

“Cô cất đi,” ông khuyên.

“Ở đây tôi có đủ thức ăn,” cô nói, như thể lòng tự tôn không cho phép ông nghĩ rằng cô đang chết đói. Thức ăn, thật ra, là điều có ít lo lắng nhất. Cô biết mình sẽ không sống sót nổi trong nhà Amon, nhưng không phải vì thiếu ăn.

“Nếu cô không ăn, thì đem đổi.” Herr Schindler nói. “Mà sao không ăn cho khỏe?” Ông lùi lại và ngắm cô. “Itzhak Stern đã kể cho tôi về cô.”

“Herr Schindler,” cô nghẹn ngào. Cô gục đầu xuống và khóc nhỏ nhẹ, chắt chiu trong vài giây. “Herr Schindler, hắn thích đánh tôi trước mặt những người đàn bà ấy. Ngày đầu tiên tôi ở đây, hắn đánh tôi vì tôi trót đổ xương thừa đi sau bữa tối. Hắn xuống tầng hầm lúc nửa đêm và hỏi tôi xương đâu. Để cho chó, ông biết đấy. Đó là lần đầu tiên hắn đánh tôi. Tôi bảo hắn… tôi không biết tại sao mình lại nói vậy; bây giờ tôi sẽ không bao giờ nói thế nữa… Tại sao ông lại đánh tôi? Hắn bảo, Lúc này tao đánh mày vì mày hỏi tại sao tao lại đánh mày.”

Cô lắc đầu và nhún vai, như thể tự trách mình nói quá nhiều. Cô không muốn kể thêm nữa, cô không thể thuật lại lịch sử những lần bị trừng phạt, những lần nếm mùi nắm đấm của viên Hauptsturmführer.

Herr Schindler cúi xuống bên cô, như thể giãi bày. “Hoàn cảnh của cô thật kinh khủng, Helen,” ông nói.

“Chẳng sao đâu,” cô nói. “Tôi đã chấp nhận rồi.”

“Chấp nhận?”

“Một ngày nào đó, hắn sẽ bắn tôi.”

Schindler lắc đầu, và cô cảm thấy cử chỉ động viên ấy quá đỗi hời hợt để có thể cho cô hy vọng. Đột nhiên, ngoại hình ăn sung mặc sướng của Herr Schindler trở thành một sự khiêu khích. “Vì lòng kính Chúa, Herr Direktor, tôi thấy nhiều rồi. Hôm thứ Hai, chúng tôi lên mái nhà để khoét băng, thằng bé Lisiek và tôi. Rồi chúng tôi thấy Herr Commandant bước ra cửa chính, theo bậc cấp đi ra hiên nhà, ngay bên dưới chúng tôi. Đứng trên thềm, hắn rút súng bắn một người phụ nữ đi ngang qua. Một phụ nữ tay ôm bọc đồ. Xuyên cổ họng. Một phụ nữ trên đường đi đâu đó. Ông thử nghĩ xem. Bà ấy không béo hơn hay gầy hơn hay chậm hơn hay nhanh hơn bất kỳ ai. Tôi chịu không hiểu nổi bà ấy đã làm gì nên nỗi. Càng biết Herr Commandant, ông càng hiểu rằng không có một bộ quy tắc nào để tuân theo hết. Ông không thể tự nhủ, Nếu mình tuân thủ những quy tắc này, mình sẽ an toàn…”

Schindler cầm lấy tay cô và siết chặt nó để nhấn mạnh. “Nghe này, Helen Hirsch thân mến, bất chấp tất cả, ở đây vẫn tốt hơn Majdanek hay Auschwitz. Nếu cô có thể giữ gìn sức khỏe…”

Cô nói, “Tôi cứ tưởng ở bếp của Herr Commandant, điều đó sẽ dễ dàng. Khi tôi được điều lên đây từ bếp ăn của trại, các chị em đều ghen tị.”

Môi cô nhếch một nụ cười đáng thương.

Schindler liền cao giọng. Như thể phát biểu một định luật vật lý. “Hắn sẽ không giết cô đâu, bởi vì hắn quá thưởng thức cô, Helen thân mến. Hắn thưởng thức cô đến nỗi hắn không cho cô đeo Ngôi sao. Hắn không muốn ai biết hắn đang thưởng thức một người Do Thái. Hắn bắn người đàn bà khi đứng trước thềm vì bà ấy chẳng có ý nghĩa gì với hắn, vì bà ấy chỉ là một trong cả chuỗi những con người, không làm gã phật ý hay hài lòng. Cô hiểu không. Còn cô thì… điều này chẳng hay ho gì, Helen. Nhưng đời là vậy.”

Đã có người bảo cô như thế. Leo John, phó của viên Commandant. John là một Untersturmführer SS - tương đương Thiếu úy SS. “Hắn sẽ không giết cô đâu,” John từng nói, “cho đến phút chót, Lena, bởi hắn tìm thấy ở cô quá nhiều khoái cảm.” Những lời ấy, từ John, không tác động mạnh đến thế. Herr Schindler vừa khoác cho cô cái án phải tồn tại trong đau đớn.

Dường như ông nhận ra cô bị choáng. Ông thì thầm những lời khích lệ. Ông sẽ gặp lại cô. Ông sẽ tìm cách cứu cô ra. Ra đâu? cô hỏi. Ra khỏi ngôi nhà này, ông giải thích; về nhà máy của tôi, ông nói. Chắc cô đã nghe nói về nhà máy của tôi. Tôi có một nhà máy đồ tráng men.

“Phải rồi,” cô nói, giống như một đứa trẻ khu ổ chuột nói về Riviera[12]. “Emalia của Schindler. Tôi biết.”

“Giữ gìn sức khỏe nhé,” ông nhắc lại. Dường như ông biết đó là điều then chốt. Dường như ông xuất phát từ một dự báo về những ý định trong tương lai - của Himmler, của Frank - khi nói ra điều đó.

“Được rồi,” cô nhượng bộ.

Cô quay lưng lại ông và đi đến gần tủ đồ sứ, lôi nó từ sát tường ra, vận dụng một sức mạnh làm Herr Schindler kinh ngạc khi xuất phát từ một cô gái yếu đuối như thế. Cô dỡ một viên gạch ở mảng tường nằm sau cái tủ. Và mang ra một cuộn tiền - tiền złoty Ba Lan do quân Đức chiếm đóng phát hành.

“Tôi có một đứa em gái ở bếp ăn của trại này,” cô nói. “Tôi muốn ông dùng món tiền này để mua lại nó, nếu có bao giờ nó bị đưa lên xe gia súc. Tôi tin ông thường biết trước về những chuyện như vậy.”

“Tôi sẽ coi đó là việc của mình,” Schindler đáp, nhưng với vẻ thoải mái, không phải như một lời hứa trang trọng. “Bao nhiêu đây?”

“Bốn ngàn złoty.”

Ông nhận một cách lơ đãng, món tiền lận lưng của cô, rồi nhét vào túi áo. Trong tay ông, nó vẫn an toàn hơn là trong hốc tường sau tủ đồ sứ của Amon Goeth.

Câu chuyện về Oskar Schindler bắt đầu như thế đấy, với lắm hiểm nguy, với những tên Quốc xã Gothic[13], với sự trụy lạc của SS, với một cô gái mảnh mai bị ngược đãi, và với một nhân vật của trí tưởng tượng, không rõ vì đâu cũng quen thuộc như hình tượng ả gái điếm có tấm lòng vàng: tay người Đức tốt bụng.

Một mặt, Oskar xác định nhiệm vụ của mình là phải hiểu rõ bộ mặt thật của chế độ, bộ mặt hung bạo đằng sau tấm mạng chuẩn mực hành chính. Ông hiểu, nghĩa là, sớm hơn gần như tất cả dám hiểu, Sonderbehandlung nghĩa là gì; rằng mặc dù trên giấy tờ nó là “Quy chế đối xử đặc biệt”, nó đồng nghĩa với những kim tự tháp xác chết xanh nhợt[14] tại Bełżec, Sobibor, Treblinka, và tại khu phức hợp phía Đông Cracow, mà người Ba Lan gọi là Oświęcim-Brzezinka, nhưng sẽ được phương Tây biết đến bằng cái tên tiếng Đức, Auschwitz-Birkenau.

Mặt khác, ông là một doanh nhân, một con buôn từ bản chất, và ông không công khai nhổ vào mặt chế độ. Ông đã góp phần giảm bớt những kim tự tháp kia, và dù không biết năm nay rồi năm sau chúng sẽ gia tăng về kích cỡ và số lượng, và vượt quá đỉnh Matterhorn ra sao, nhưng ông biết ngọn núi ấy rồi sẽ xuất hiện. Tuy không thể dự đoán những thay đổi hành chính sẽ xảy đến trong quá trình hình thành của nó, ông vẫn xác định rằng sẽ luôn có chỗ và có nhu cầu cho lao động Do Thái. Bởi thế, lần viếng thăm Helen Hirsch, ông mới dặn đi dặn lại, “Giữ gìn sức khỏe”. Ông biết rõ, và ngoài kia, trong màn đêm tăm tối của Arbeitslager (Trại lao động) Płaszów, những người Do Thái trằn trọc tỉnh giấc và tự hứa hẹn với mình, rằng không một chế độ nào - vì như vậy là đi ngược xu thế - sẵn lòng vứt bỏ một nguồn lao động không công dồi dào. Chỉ những ai suy kiệt, ho ra máu, gục ngã vì kiết lỵ mới bị đẩy lên tàu đi Auschwitz. Chính Herr Schindler từng nghe thấy tù nhân, khi đứng giữa Appellplatz (Sân tập trung) của trại lao động Płaszów, vào ca điểm danh buổi sáng, lầm rầm, “Ít ra tôi vẫn còn sức khỏe,” bằng một ngữ điệu mà trong cuộc sống bình thường chỉ có người cao tuổi mới dùng.

Vậy đấy, cái đêm đông này, nó là buổi ban đầu mà cũng là chặng cuối trong nỗ lực thực dụng của Herr Schindler hòng cứu rỗi một số sinh mạng. Ông đã dấn quá sâu; ông đã vi phạm pháp luật Đế chế đến mức thừa sức lĩnh nhiều án treo cổ hay chặt đầu, hoặc bị vận tải đến khu lán tạm bợ ở Auschwitz hay Gröss-Rosen. Nhưng ông vẫn chưa biết cái giá thực sự cho điều đó. Dù đã tiêu cả một gia tài, ông vẫn chưa hình dung được mức độ của những gì mình sẽ còn phải trả.

Để không cưỡng ép niềm tin của độc giả quá sớm, câu chuyện bắt đầu từ một cử chỉ nhân ái bình thường - một cái hôn, một giọng nói vỗ về, một thanh chocolate. Helen Hirsch không bao giờ thấy lại bốn ngàn złoty của mình nữa - không phải dưới dạng đếm được và cầm được trên tay. Nhưng đến hôm nay, việc Oskar rất không chính xác về tiền bạc, đối với cô chỉ là điều nhỏ nhặt.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Đức: ông, ngài.

[2] Nguyên văn: Government General of Poland, vùng lãnh thổ của Ba Lan do Đức Quốc xã kiểm soát trong Thế chiến II, Phát xít Đức xem đây như một lãnh thổ tự trị của Đế chế thứ ba. Khu vực này bao gồm các thành phố lớn như Warsaw, Kraków và Lviv.

[3] Giấy thông hành.

[4] Khu định cư bị cô lập, có tường bao của người Do Thái trong một thành phố.

[5] Tiếng Ba Lan: Jerusalem.

[6] Giống chó Đức, có kích thước rất lớn, cao tới 80 cm.

[7] Reinhard Heydrich, nhân vật đầu não phụ trách an ninh của chính quyền phát xít, người thành lập Lực lượng An ninh SD (Sicherheitsdienst), đóng vai trò chủ chốt trong các kế hoạch thanh trừng người Do Thái.

[8] Người gốc Đức nói tiếng Đức cư trú ở phía Bắc, Tây và Tây Nam của Czechoslovakia.

[9] Quán rượu có các trò hát múa để mua vui.

[10] Tên gọi quân đội Đức đương thời.

[11] Tiếng Đức (cũ, ít dùng): cô, dùng với người phụ nữ chưa chồng.

[12] Vùng bờ biển Địa Trung Hải từ Marseille, Pháp đến La Spezia, Ý, nổi tiếng về khí hậu và vẻ đẹp.

[13] Có lẽ Keneally chơi chữ. Tính từ gothic vừa nghĩa là man rợ, vừa gần âm với tên của Goeth.

[14] Cyanotic, một thuật ngữ y học chỉ hiện tượng mất màu và ngả xanh của da người do thiếu ôxy.

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.