Các Ủy viên Hội đồng Judenrat của Artur Rosenzweig, những người vẫn tự xem mình là người bảo hộ hơi thở, sức khỏe và khẩu phần bánh mì của cư dân ghetto, đã quán triệt với lực lượng cảnh sát Do Thái của ghetto rằng họ cũng là công bộc. Judenrat có xu hướng tuyển mộ những thanh niên nhiệt huyết và có chút học vấn. Dù trong mắt SS, OD chỉ như một lực lượng cảnh sát phụ trợ, và sẽ thực thi mệnh lệnh như mọi lực lượng cảnh sát khác, đây không phải là tôn chỉ của phần lớn các thành viên OD vào mùa hè năm 1941.
Không thể phủ nhận rằng theo thời gian tồn tại của ghetto, hình tượng OD ngày càng trở nên đáng ngờ, một kẻ tình nghi Do Thái gian. Một số nhân viên OD cung cấp thông tin cho quân kháng chiến và thách thức chế độ, nhưng có lẽ đa số nhận ra rằng sự sinh tồn của mình và gia đình ngày càng phụ thuộc vào mức độ hợp tác của họ với SS. Với người trung thực, OD rồi sẽ thành tha hóa. Với kẻ đểu cáng, đấy lại là cơ hội.
Nhưng những tháng đầu ở Cracow, đây có vẻ là một lực lượng ôn hòa. Có thể coi Leopold Pfefferberg là hình mẫu về sự mập mờ của những thành viên OD. Khi mọi hình thức giáo dục cho dân Do Thái, kể cả do Judenrat tổ chức, bị bãi bỏ vào tháng Mười hai năm 1940, Poldek được giao việc quản lý dòng người xếp hàng và xếp lịch hẹn tại văn phòng nhà ở của Judenrat. Việc này chỉ mang tính bán thời gian, nhưng nó cho anh vỏ bọc để được ít nhiều tự do đi lại ở Cracow. Tháng Ba năm 1941, OD được thành lập với mục đích danh nghĩa là bảo vệ người Do Thái đã vào ghetto Podgórze khỏi các thành phần khác trong thành phố. Poldek nhận lời đội chiếc mũ kêpi của OD. Anh tin rằng mình hiểu chức phận của OD - không chỉ duy trì cách hành xử lý trí trong bốn bức tường mà còn đưa tinh thần miễn cưỡng phục tùng của chủng tộc lên tới cái ngưỡng mà, trong lịch sử Do Thái ở châu Âu, có xu hướng hứa hẹn tầng lớp áp bức sẽ bỏ đi sớm hơn, sẽ chóng quên hơn, để giữa những khoảng lặng của sự lãng quên ấy, cuộc sống sẽ trở lại khả thi.
Đồng thời với việc đội chiếc mũ OD, Pfefferberg vẫn buôn hàng lậu - đồ da, trang sức, lông thú, tiền mặt - cả ở trong lẫn ngoài ghetto. Anh quen viên Wachtmeister ở cổng, Oswald Bosko, một viên cảnh sát có tư tưởng phản kháng chế độ đến mức làm ngơ cho họ tuồn nguyên liệu vào ghetto rồi đem thành phẩm - quần áo, rượu, đồ kim khí - ra bán ở Cracow, mà không thèm đòi hối lộ.
Mỗi lần rời ghetto, khi đã khuất mắt toán sĩ quan ở cổng và tụi Schmalzownicks (chỉ điểm) dật dờ, Pfefferberg tạt vào một ngõ vắng để tháo dải băng Do Thái đeo tay ra trước khi đi làm ăn ở Kazimierz hoặc trung tâm thành phố.
Trên tường trong thành phố và trên đầu hành khách chung chuyến tàu điện, anh sẽ bắt gặp những áp phích trong ngày: những quảng cáo dao cạo, những sắc lệnh mới nhất của Wavel về việc chứa chấp bọn trộm cướp Ba Lan, khẩu hiệu “DO THÁI - CHẤY RẬN - PHÁT BAN”, bức tranh minh họa một trinh nữ Ba Lan bố thí cho tên Do Thái mũi khoằm có cái bóng của chính Con Quỷ. “GIÚP DO THÁI TỨC LÀ GIÚP SATAN.” Hàng rau treo tranh dân Do Thái băm thịt chuột làm bánh, pha nước vào sữa, rắc chấy vào bột mì, nhồi bột bằng đôi chân bẩn thỉu. Sự hiện diện của ghetto đang được hợp thức hóa trên đường phố Cracow bằng tranh cổ động, bằng các dư luận viên của Bộ Tuyên truyền. Và Pfefferberg, với ngoại hình Aryan, sẽ bình thản đi dưới hàng áp phích, xách một va li đầy quần áo, trang sức hoặc tiền mặt.
Phi vụ oách nhất của Pfefferberg là vào năm ngoái, khi Toàn quyền Frank ra lệnh rút tờ 100 và 500 złoty khỏi lưu thông và buộc người dân phải gửi loại tiền mệnh giá này vào Quỹ Tín dụng Đế chế. Vì người Do Thái chỉ được đổi có 2.000 zł, tất cả số tiền tàng trữ bí mật - quá 2.000 và trái quy định - sẽ trở nên vô giá trị. Trừ phi, anh tìm được ai đó có ngoại hình Aryan và không đeo băng tay, sẵn sàng thay mặt anh gia nhập dòng người Ba Lan xếp hàng dài trước Ngân hàng Tín dụng Đế chế.
Pfefferberg và một anh bạn Zionist đã tập hợp của cư dân ghetto được vài trăm nghìn złoty thuộc hai mệnh giá bị cấm, chất đầy một va li mang đi, và quay về với loại tiền hợp lệ của vùng Chiếm đóng, chỉ trừ đi tiền hối lộ cho nhóm cảnh sát Ba Lan ở cổng.
Pfefferberg chính là mẫu cảnh sát như vậy. Hoàn hảo theo chuẩn mực của Chủ tịch Artur Rosenzweig; đáng lên án theo chuẩn mực của Pomorska.
*
Oskar viếng thăm ghetto vào tháng Tư - vừa do tò mò, vừa để gặp người thợ kim hoàn mà ông đặt làm hai chiếc nhẫn. Nơi này chật chội ngoài sức tưởng tượng của ông - hai gia đình vào một phòng, trừ phi anh may mắn có người quen ở Judenrat. Có mùi cống tắc, nhưng phụ nữ ngăn chặn dịch phát ban bằng cách miệt mài kì cọ và luộc quần áo ngoài sân. “Tình hình giờ khác rồi,” người thợ kim hoàn tiết lộ với Oskar. “OD vừa được phát dùi cui.” Do quyền quản lý ghetto, như mọi ghetto khác ở Ba Lan, vừa chuyển từ tay Toàn quyền Frank sang Cục 4B của Gestapo, người có thẩm quyền tối hậu với mọi vấn đề Do Thái ở Cracow hiện là Oberführer SS Julian Scherner, một người đàn ông hồ hởi, quãng bốn mươi lăm, năm mươi tuổi, với cái đầu hói, cặp kính dày, và trang phục dân sự, trông như một quan chức không có gì nổi bật. Oskar đã gặp y ở những bữa cocktail. Scherner nói rất nhiều - không phải về chiến tranh mà về làm ăn và đầu tư. Loại công chức như y nhan nhản trong hàng ngũ sĩ quan bậc trung của SS, một tay chơi, thích rượu ngon gái đẹp và của cải tịch biên. Đôi khi người ta bắt gặp nụ cười hí hửng vì quyền lực trên trời rơi xuống trên khóe miệng y, như một vệt mứt lem trên mỗi con nít. Đây là loại công chức luôn ham vui và vô cảm một cách đáng tin cậy. Oskar nhìn ra, Scherner thích bóc lột dân Do Thái hơn là giết họ và sẵn sàng lách luật để kiếm lời, song vẫn sẽ xuôi theo dòng chảy chính sách của SS, dù nó đi về đâu chăng nữa.
Từ Giáng sinh năm ngoái Oskar đã nhớ đến viên trùm cảnh sát, và gửi biếu nửa tá cognac. Với quyền hạn gia tăng, năm nay y sẽ đáng giá nhiều hơn.
Chính vì sự chuyển giao quyền lực này - SS không chỉ thực thi chính sách mà đã nắm cả quyền đặt ra chính sách - mà dưới ánh mặt trời tháng Sáu OD đã có thay đổi về bản chất. Oskar, chỉ từ những lần lái xe qua ghetto, đã biết đến một gương mặt mới, một cựu thợ lắp kính tên là Symche Spira, đại diện cho một thế lực mới trong OD. Xuất phát từ nguồn gốc Chính thống giáo, từ tiền sử bản thân lẫn trong bản chất, Spira căm ghét những nhân vật Do Thái tự do và Âu hóa vẫn đang hiện diện trong Hội đồng Judenrat. Y nhận lệnh không phải từ Artur Rosenzweig, mà từ Untersturmführer Brandt và tổng hành dinh SS bên kia sông. Sau những cuộc hội đàm với Brandt, y quay về ghetto với hiểu biết và quyền hạn gia tăng. Brandt yêu cầu y thành lập và chỉ huy Bộ phận Chính trị trong OD, và y đã chiêu mộ các chiến hữu của mình vào đây. Đồng phục của họ chuyển từ mũ kêpi và băng tay sang áo xám, quần kỵ binh, thắt lưng Sam Browne và ủng SS bóng loáng.
Bộ phận Chính trị của Spira sẽ vượt quá yêu cầu miễn cưỡng hợp tác và sẽ là tập hợp của những kẻ hám lợi, mang trong mình phức cảm và lòng hận thù sâu kín vì những lăng nhục về mặt xã hội và học thức mà ngày trước họ phải gánh chịu từ tầng lớp trung lưu Do Thái khả kính.
Ngoài Spira còn có Szymon Spitz và Marcel Zellinger, có Ignacy Diamond, David Gutter tay bán hàng, có Forster và Grüner và Landau. Họ dấn thân vào con đường sách nhiễu mọi người và cung cấp cho SS danh sách những đối tượng bất mãn, có tư tưởng nổi loạn ở ghetto.
Giờ đây Poldek Pfefferberg chỉ muốn đào ngũ. Có tin đồn rằng Gestapo sẽ bắt mọi nhân viên OD thề trung thành với Führer, kể từ đó họ sẽ chẳng còn cửa nào để bất phục tùng nữa. Poldek không muốn chung nghề với Spira áo xám, hay với Spitz và Zellinger, những tên chỉ điểm. Anh tìm đến bệnh viện ở góc phố Wegierska để xin ý kiến một thầy thuốc hòa nhã tên gọi Alexander Biberstein, bác sĩ chính thức của Judenrat. Marek, anh trai ông này, chính là Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng, và hiện đang ngồi trong nhà ngục tang tóc Montelupich vì vi phạm quy định tiền tệ, và âm mưu hối lộ nhà đương cục.
Pfefferberg van nài Biberstein cấp cho anh chứng nhận y tế để thoát khỏi OD. Vụ này khó đây, Biberstein nói. Trông Pfefferberg chẳng có vẻ gì là đau ốm. Giả vờ bị cao huyết áp là không khả thi rồi. Bác sĩ Biberstein chỉ dẫn anh về các triệu chứng của bệnh đau lưng. Pfefferberg bắt đầu đi làm với cái lưng còng và gậy chống.
Spira nổi điên. Lần đầu Pfefferberg đề nghị được rời OD, viên cảnh sát trưởng đã tuyên bố - như một thống lĩnh ngự lâm quân - rằng lối thoát duy nhất là trên tấm khiên[1]. Tại ghetto, Spira và đám chiến hữu con nít của y đang chơi trò Đội Tinh nhuệ. Họ là Quân đoàn Lê dương; là Cận vệ của Hoàng đế La Mã.
“Ta sẽ gửi anh đến bác sĩ của Gestapo,” Spira hét.
Biberstein, nắm được tâm lý hổ thẹn của chàng trai, đã luyện tập cho anh chu đáo. Poldek vượt qua bài kiểm tra của viên bác sĩ Gestapo và được giải ngũ do mắc căn bệnh có thể ngăn cản anh thực thi hiệu quả nhiệm vụ trấn áp đám đông. Spira, khi chia tay sĩ quan Pfefferberg, đã thể hiện thái độ hằn học đầy khinh miệt.
Hôm sau, Đức xâm lược Liên Xô. Oskar lén nghe được tin này qua BBC và hiểu rằng Kế hoạch Madagascar đến đây là kết thúc. Sẽ phải mất hàng năm để bố trí được tàu cho giải pháp này. Oskar cảm thấy sự kiện này đã thay đổi bản chất kế hoạch của SS, bởi giờ đây ở khắp mọi nơi các nhà kinh tế, kỹ sư, người lên kế hoạch di dân, cảnh sát mọi cấp bậc đang trang bị cho mình nếp tư duy mới, phù hợp không chỉ với cuộc chiến trường kỳ, mà với một nỗ lực hệ thống hơn nhằm xây dựng một đế chế hoàn mỹ về chủng tộc.
❀ ❀ ❀
[1] Binh lính thời xưa đặt người chết hoặc bị thương lên tấm khiên để khiêng đi.