Danh Sách Của Schindler

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31

❊ ❊ ❊

Trong bất cứ thảo luận nào về Schindler, đến một lúc nào đấy, các bạn bè sống sót của Herr Direktor sẽ chớp mắt, lắc đầu và bắt đầu một công việc gần như toán học là tìm tổng những động cơ của ông. Vì một trong những cảm xúc phổ biến nhất từ những người Do Thái của Schindler là “Không hiểu sao ông ấy lại làm vậy”. Có thể nói rằng đầu tiên Oskar là một con bạc, một kẻ đa cảm yêu chuộng tính minh bạch và đơn giản khi hành thiện; rằng bản chất Oskar là một kẻ vô chính phủ thích chơi khăm chế độ; và rằng sau nết tận tình hưởng lạc là sự sẵn sàng phẫn nộ, phản ứng và không khuất phục trước sự man rợ của nhân tính. Nhưng tất cả, dù chẻ ra ghép lại thế nào, cũng không giải thích nổi sự lì lợm của Oskar, vào mùa thu năm 1944, trong việc thu xếp nơi trú ẩn cuối cùng cho những người sắp tốt nghiệp Emalia.

Và không chỉ cho họ. Đầu tháng Chín, ông lái xe sang Podgórze gặp Madritsch, khi đó đang sử dụng hơn ba ngàn nhân công ở nhà máy quân phục của mình. Cơ sở này cũng sẽ bị giải thể. Madritsch sẽ nhận lại chỗ máy khâu, còn công nhân của ông sẽ biến mất. Nếu cùng đặt vấn đề, ta có thể cứu được hơn bốn ngàn người. Của tôi và của anh. Chúng ta có thể đưa họ đến nơi an toàn. Dưới mạn Moravia.

Madritsch sẽ luôn xứng đáng với sự kính trọng của các tù nhân sống sót. Bánh mì và gà tuồn lậu vào nhà máy đều do ông lấy tiền túi ra trả, với sự mạo hiểm thường trực. Có lẽ ông được đánh giá là điềm tĩnh hơn Oskar. Không phù phiếm và không bị những nỗi ám ảnh đeo đuổi. Ông cũng chưa bị bắt bao giờ. Nhưng sự nhân hậu của ông đã vượt ngưỡng an toàn, và nếu không mưu trí và quyết liệt, cuộc đời ông có lẽ đã kết thúc ở Auschwitz.

Giờ đây Oskar vẽ ra trước mắt ông hình ảnh một trại Madritsch-Schindler, đâu đó trên cao nguyên Jeseniks; một thôn trang công nghiệp khói tỏa yên bình.

Ý tưởng đó hấp dẫn Madritsch nhưng ông chưa vội nhận lời. Ông hiểu dù thất bại trên chiến trường, con quái vật SS chẳng những không nguôi đi, mà còn hung hãn hơn. Đau thay, ông đã đúng khi tin rằng, tù nhân ở Płaszów sẽ bị các trại sát nhân dưới miền Tây nuốt chửng. Bởi đâu chỉ mình Oskar ương ngạnh và điên rồ, Sở Chỉ huy SS và các đặc vụ chiến trường sáng giá của nó - các Commandant, Trưởng trại tập trung - cũng không chịu kém.

Tuy nhiên, ông cũng chưa từ chối. Ông cần thời gian suy nghĩ. Dù không nói ra với Oskar, nhưng có lẽ Madritsch e sợ việc chung chạ với một kẻ táo tợn và ma mãnh như Herr Schindler.

Không có câu trả lời rõ ràng từ Madritsch, Oskar đành lên đường. Ông đi Berlin và mời đại tá Erich Lange ăn tối. Tôi có thể chuyển hẳn sang sản xuất đạn pháo, ông bảo Lange. Tôi có thể đưa các máy móc hạng nặng về.

Lange là nhân vật mấu chốt. Người đảm bảo các hợp đồng; người viết những bức thư giới thiệu nhiệt tình mà Oskar cần cho Ủy ban Di tản và các quan chức Đức tại Moravia. Về sau, khi nhận xét về viên sĩ quan âm trầm này, Oskar khẳng định ông ta thường xuyên hỗ trợ mình. Lange vẫn đang ở giai đoạn cực cùng tuyệt vọng và ghê tởm về đạo lý điển hình ở nhiều cá nhân làm việc trong nhưng không phải lúc nào cũng vì chế độ. Sẽ làm được thôi, Lange bảo, nhưng tốn kém đấy. Không phải cho tôi. Cho những kẻ khác.

Qua Lange, Oskar nói chuyện với một viên chức thuộc Ủy ban Di tản của OKH trên phố Bendler. Người này cho biết, nhiều khả năng kế hoạch di tản sẽ được chuẩn y nguyên tắc. Nhưng có một trở ngại lớn. Viên Toàn quyền kiêm Gauleiter[1] của Moravia, cai trị từ Lâu đài Liberec, theo đuổi chính sách cấm cửa các trại lao động Do Thái khỏi tỉnh mình. Cả SS lẫn Tổng cục Quân giới đều chưa thành công trong việc thuyết phục ông ta thay đổi thái độ. Người thích hợp để phá thế bế tắc này, y nói, là một kỹ sư Wehrmacht trung niên, làm việc tại văn phòng Troppau của Tổng cục Quân giới, tên là Sussmuth. Oskar cũng có thể nhờ ông ta tìm giúp địa điểm tái lập nhà máy tại Moravia. Trong khi đó, Herr Schindler có thể trông cậy sự ủng hộ của Ủy ban Di tản. “Nhưng chắc ngài cũng hiểu, xét sức ép hiện nay, và ảnh hưởng của cuộc chiến lên cuộc sống tiện nghi của họ, họ sẽ phản hồi nhanh hơn nếu ngài đối đãi tử tế với họ một chút. Đám dân nghèo thành thị bọn tôi vốn khan thịt nguội, xì gà, rượu, vải vóc, cà phê… đại khái như vậy.”

Tay viên chức nọ có vẻ nghĩ rằng Oskar tha theo một nửa sản lượng thời bình của Ba Lan. Kỳ thực, để biện được một gói quà cho các thành viên Ủy ban, Oskar buộc phải mua hàng xa xỉ phẩm theo giá chợ đen Berlin. Nhân viên tiếp tân ở khách sạn Aldon mua giúp Oskar thứ rượu schnapp hảo hạng với giá khuyến mại 80 RM một chai. Mà gửi cho các quý nhân ở Ủy ban thì không thể dưới một tá. Cà phê đắt như vàng, và xì gà Havana thì giá trên trời. Oskar mua số lượng lớn và bỏ vào giỏ. Các quý nhân chắc cũng cần động lực để thuyết phục ngài Toàn quyền Moravia.

Trong khi Oskar đang ngược xuôi chạy vạy, Amon Goeth bị bắt.

*

Hẳn đã có kẻ cáo giác gã. Một thuộc cấp đố kỵ, hoặc một công dân trách nhiệm đã từng đến tư dinh và choáng váng trước thói xa hoa hưởng lạc của gã. Một điều tra viên SS cao cấp tên Eckert bắt đầu tra xét việc làm ăn của Amon. Những phát súng gã bắn từ ban công không phải là cái ông ta quan tâm. Nhưng các hành vi biển thủ và buôn bán chợ đen thì có, cũng như cáo buộc của một số thuộc cấp về việc bị gã đối xử tàn nhẫn.

Amon đang về thăm ông bố làm xuất bản ở Vienna thì bị SS bắt giữ. SS cũng khám xét căn hộ của Hauptsturmführer Goeth trong thành phố và phát hiện một số tiền khoảng 80.000 RM mà Amon không thể giải thích hợp lý. Họ còn tìm thấy gần một triệu điếu thuốc lá giấu trên trần nhà. Căn hộ thành Vienna của Amon có vẻ giống kho hàng hơn là một chốn nghỉ chân.

Thoạt tiên người ta có thể ngạc nhiên khi thấy SS - hay đúng hơn là Cục 5 của Văn phòng An ninh Trung ương - lại muốn bắt giữ một công bộc mẫn cán như Hauptsturmführer Goeth. Nhưng cơ quan này đã điều tra những hiện tượng bất thường ở Buchenwald để quy tội cho Koch, viên Commandant ở đó. Họ cũng săn lùng chứng cứ cho vụ bắt giữ Rudolf Höss[2] nổi tiếng, và đã thẩm vấn một cô gái Do Thái thành Vienna bị nghi là có bầu với ngôi sao của hệ thống trại tập trung. Do vậy Amon, có mặt và phẫn nộ khi bị khám nhà, chẳng có mấy cơ sở để mong được miễn trừ.

Gã bị đưa đến nhà tù SS ở Breslau chờ điều tra xét xử. Họ thể hiện sự vô can trong cách gã điều hành Płaszów bằng việc đến tư dinh gã thẩm vấn Helen Hirsch với lý do tình nghi cô can dự vào hành vi gian lận của Amon. Trong những tháng tiếp đó, hai lần cô bị đưa xuống xà lim dưới trại lính SS ở Płaszów để điều tra. Họ tra khảo cô về các đầu mối chợ đen của Amon - tay chân của gã là ai, gã quản lý xưởng kim hoàn, tiệm may và xưởng bọc nệm của Płaszów ra sao. Không ai đánh đập hoặc đe dọa cô. Nhưng họ đoan chắc rằng cô là một phần tử trong băng nhóm vẫn hành hạ cô. Nếu có bao giờ ao ước một sự giải thoát huy hoàng và không tưởng, Helen hẳn cũng chẳng dám nghĩ tới kịch bản Amon bị chính đồng bọn bắt giữ. Nhưng cô cảm thấy mất dần lý trí trong phòng hỏi cung, khi họ, bằng luật lệ của mình, muốn xích cô vào một giuộc với Amon.

Có lẽ Chilowicz giúp được các ông, cô nói. Nhưng Chilowicz chết rồi.

Cảnh sát là nghề của họ, và sau một thời gian, họ xác định cô chẳng biết gì để khai ngoài chút thông tin về những bữa tiệc ê hề của Goeth. Họ có thể hỏi cô về những vết sẹo, nhưng biết không thể quy tội bạo dâm cho Amon. Khi điều tra về bạo dâm ở trại Sachsenhausen, họ đã bị lính gác có vũ trang lùa ra khỏi cửa. Ở Buchenwald họ kiếm được một hạ sĩ quan làm nhân chứng chống lại viên Commandant, nhưng người này đã chết trong xà lim. Trưởng ban điều tra của SS ra lệnh lấy mẫu thuốc độc từ dạ dày viên hạ sĩ quan SS ra thử nghiệm với bốn tù nhân Nga. Ông ta chứng kiến họ giãy chết, và có bằng chứng chống lại viên Commandant và tay bác sĩ của trại. Mặc dù ông ta buộc được tội sát nhân và bạo dâm cho y, đó là một thứ công lý quái gở. Trên hết, nó khiến đội ngũ quản trại đoàn kết và thủ tiêu nhân chứng. Do vậy điều tra viên tại Cục 5 không tra hỏi Helen về thương tích của cô. Họ tiếp tục theo đuổi tội danh biển thủ, và cuối cùng buông tha cho cô.

Họ cũng thẩm vấn cả Mietek Pemper. Anh đủ khôn ngoan để không khai nhiều về Amon, đặc biệt là về tội ác với loài người của gã. Anh không biết gì về việc gã gian lận ngoài những lời đồn đại. Anh đóng vai người đánh máy trung dung và tốt tính, chỉ chuyên gõ các văn bản không mật. “Herr Commandant không bao giờ trao đổi những việc đó với tôi.” anh liên tục kêu nài. Nhưng sau màn kịch ấy chắc anh cũng chung niềm ngỡ ngàng tột độ với Helen Hirsch. Nếu có sự kiện nào hé mở cho anh một con đường sống rõ ràng nhất, thì đấy là việc Amon bị bắt. Bởi không có gì hạn định sinh mệnh anh chắc chắn hơn kịch bản này: khi quân Nga tới Tarnow, Amon sẽ đọc chính tả những bức thư cuối cùng trước khi kết liễu người đánh máy. Điều làm Mietek lo lắng, bởi vậy, là họ sẽ thả Amon ra quá sớm.

Có điều, họ không chỉ quan tâm đến chuyện đầu cơ của Amon. Viên thẩm phán SS xét hỏi Pemper đã được Oberscharführer Lorenz Landsdorfer tiết lộ rằng Hauptsturmführer Goeth đã cho gã thư ký Do Thái đánh máy bản hướng dẫn và kế hoạch ứng phó mà trại lính Płaszów phải triển khai nếu bị du kích tấn công. Amon, nhằm giải thích cho Pemper cách trình bày, đã cho gã xem bản sao những kế hoạch tương tự của các trại tập trung khác. Viên thẩm phán SS lấy làm quan ngại về việc tiết lộ tài liệu mật cho một tù nhân Do Thái đến mức ra lệnh bắt Pemper.

Pemper trải qua hai tuần thê thảm trong xà lim dưới trại lính SS. Anh không bị tra tấn, nhưng bị hỏi cung thường xuyên bởi các điều tra viên Cục 5 và hai thẩm phán SS. Anh ngỡ như đọc được trong mắt họ kết luận rằng an toàn nhất là bắn anh. Và một hôm khi bị thẩm vấn về kế hoạch ứng phó khẩn cấp của Płaszów, Pemper hỏi lại, “Các ông giữ tôi làm gì? Tù nào chả là tù. Đằng nào tôi cũng chịu án chung thân rồi.” Lập luận ấy được tính toán nhằm chấm dứt câu chuyện: hoặc là được phóng thích, hoặc nhận một viên đạn. Kết thúc phiên hỏi cung, Pemper trải qua vài tiếng đồng hồ thấp thỏm cho đến khi cửa xà lim mở ra. Anh được trả về lán. Tuy nhiên, đây chưa phải là lần cuối anh bị thẩm vấn về Commandant Goeth.

Dường như sau vụ bắt giữ, thuộc cấp của Amon không vội vàng bảo chứng cho gã. Tất cả đều thận trọng, Và chờ đợi. Bosch, kẻ đã uống vô khối rượu của Amon, bảo Untersturmführer John rằng hối lộ những điều tra viên cứng rắn của Cục 5 là điều rất mạo hiểm. Về phần các thượng cấp của Amon, Sherner đã ra đi, bị giao nhiệm vụ săn du kích và cuối cùng sẽ thiệt mạng trong vụ phục kích ở rừng Niepolomice. Amon đang nằm trong tay Oranienburg, những kẻ chưa bao giờ ăn tối tại nhà gã - hoặc, nếu đã từng, thì cũng bị sốc hoặc sinh lòng đố kỵ.

Sau khi được SS trả tự do, Helen Hirsch, giờ đây làm việc cho viên Commandant mới, Hauptsturmführer Büscher, nhận được một lá thư nhã nhặn của Amon nhờ cô thu xếp một bọc quần áo, vài cuốn tiểu thuyết tình cảm và trinh thám, cùng ít rượu để gã giải sầu trong xà lim. Cứ như thư của họ hàng, cô nghĩ. “Vui lòng chuẩn bị giùm tôi những thứ sau,” lá thư mở đầu, và kết thúc bằng “Mong sớm gặp lại cô.”

*

Trong khi đó Oskar đã xuống phố chợ Troppau tìm gặp kỹ sư Sussmuth. Ông mang theo rượu và kim cương, nhưng lần này không cần thiết. Sussmuth cho biết ông ta đã đề xuất thiết lập một số trại lao động Do Thái ở các thị trấn ven Moravia nhằm cung cấp hàng hóa cho Tổng cục Quân giới. Tất nhiên, những trại này sẽ chịu sự quản lý tập trung của Auschwitz hoặc Gröss-Rosen, vì phạm vi ảnh hưởng của hai trại lớn này bao trùm biên giới Ba Lan-Czechoslovakia. Nhưng ở những trại nhỏ này sẽ an toàn hơn một đại nghĩa địa như Auschwitz. Đương nhiên Sussmuth vẫn chưa thành công. Lâu đài Liberec đã chà đạp lên đề xuất này. Ông ta không có đòn bẩy cần thiết. Oskar - với sự ủng hộ từ đại tá Lange và các thành viên Ủy ban Di tản - có thể là đòn bẩy ấy.

Sussmuth có tại văn phòng một danh sách những địa điểm thích hợp để tiếp nhận các nhà máy di tản từ vùng chiến sự. Gần Zwittau quê Oskar, ven một làng tên gọi Brinnlitz, là một nhà máy dệt lớn thuộc sở hữu của anh em nhà Hoffman. Ở thành Vienna quê nhà, họ kinh doanh bơ và pho mát, nhưng đã theo quân viễn chinh tới Sudetenland (cũng như Oskar tới Cracow) và trở thành đại gia ngành dệt. Nguyên một cánh nhà máy không hoạt động, chỉ để làm kho chứa các máy kéo sợi lỗi thời. Nơi này nằm trong phạm vi cung ứng của ga Zwittau, nơi em rể Schindler quản lý kho bãi. Và có một đường ray chạy tới sát cổng. Anh em nhà này thuộc loại cơ hội, Sussmuth mỉm cười. Họ có hậu thuẫn của đảng Quốc xã địa phương - cả Hội đồng tỉnh và lãnh đạo quận đều trong túi họ. Nhưng anh đã có Lange chống lưng. Tôi sẽ viết cho Berlin ngay, và đề xuất sử dụng cơ sở của Hoffman, Sussmuth hứa.

Oskar biết ngôi làng Đức Brinnlitz từ thời thơ ấu. Dấu ấn chủng tộc được thể hiện ngay từ cái tên, vì dân Czech sẽ gọi nó là Brnenec, cũng như Zwittau là Zvitava với người Czech. Cư dân Brinnlitz sẽ chẳng thích thú gì với việc có hơn nghìn tù nhân Do Thái dọn đến đây. Dân Zwittau, một phần là công nhân nhà máy của Hoffman, cũng chẳng ưa gì việc cái ao làng công nghiệp tù đọng của mình bị ô nhiễm sắc tộc khi chiến tranh sắp đến hồi kết thúc.

Dẫu sao, Oskar vẫn lái xe đến ngó qua địa điểm này. Ông không đi cửa trước, vì sợ sẽ đánh động người rắn hơn trong hai anh em nhà Hoffman, đang là Chủ tịch Công ty. Ông vào được khu nhà phụ mà không bị hỏi han gì. Đây là một nhà xưởng kiểu cũ, xây hai tầng quanh một khoảnh sân. Tầng trệt trần cao, chất đầy máy cũ và các thùng len. Tầng trên có lẽ định dành cho văn phòng và các máy móc hạng nhẹ. Sàn này không chịu nổi sức nặng của các máy ép cỡ lớn. Tầng dưới có thể làm xưởng mới của DEF, làm văn phòng, và căn hộ của Herr Direktor ở một góc. Tầng trên sẽ là nơi ở cho tù nhân.

Địa điểm mới làm Oskar phấn chấn. Ông trở về Cracow, háo hức được bắt tay vào việc, được tiêu những món tiền cần thiết, và tính đặt lại vấn đề với Madritsch. Bởi Sussmuth có thể kiếm chỗ - thậm chí cả mặt bằng sẵn có ở Brinnlitz - cho Madritsch.

Khi về nhà máy, ông thấy một máy bay ném bom của quân Đồng minh, bị tiêm kích của Luftwaffe bắn hạ, đã đâm xuống hai lán cuối dãy của nhà tù Emalia. Phần thân cháy đen nằm méo mó trong đống đổ nát của hai căn lán bị san bằng. Chỉ còn một nhóm nhỏ tù nhân ở lại kết thúc sản xuất và duy trì nhà máy. Họ đã chứng kiến nó bốc cháy và lao xuống. Trong đó có hai người, đều chết cháy. Người của Luftwaffe đưa xác đi bảo Adam Garde rằng đó là một chiếc Stirling, và hai phi công là người Úc. Một người vẫn giữ cuốn Kinh Thánh tiếng Anh cháy sém, có lẽ đã cầm nó trong tay khi lao xuống. Hai người khác nhảy dù xuống ngoại thành. Quân Đức tìm được một, đã chết vì thương tích, người vẫn đeo dù. Người kia được du kích giải cứu và giấu đi. Nhiệm vụ của các phi công Úc này là thả đồ tiếp tế cho du kích ở rừng rậm phía Đông Cracow.

Nếu Oskar chờ đợi một sự xác thực, thì đây là cái ông cần. Việc có người lặn lội từ những thị trấn vô danh tận hoang mạc Úc châu hẻo lánh đến đây để đẩy nhanh cái kết của Cracow. Ông liền gọi điện cho viên quản lý đầu máy ở văn phòng chủ tịch Ostbahn và mời ông ta ăn tối để bàn về nhu cầu thuê toa chở hàng của DEF.

*

Một tuần sau khi Oskar gặp Sussmuth, Ủy ban Quân giới Berlin ra chỉ thị cho Toàn quyền Moravia rằng nhà máy quân giới của Oskar Schindler sẽ chuyển đến xưởng phụ thuộc nhà máy dệt của Hoffman. Phủ Toàn quyền không thể làm gì hơn ngoài việc trì hoãn thủ tục giấy tờ, Sussmuth cho Oskar biết qua điện thoại. Nhưng riêng Hoffman và các đảng viên Quốc xã vùng Zwittau đã nhóm họp và thông qua nghị quyết phản đối việc Oskar xâm phạm Moravia. Kreisleiter[3] tại Zwittau gửi thư lên Berlin cáo buộc tù nhân Do Thái ở Ba Lan là hiểm họa đối với sức khỏe người dân Đức ở Moravia. Sốt phát ban nhiều khả năng sẽ xuất hiện ở đây lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại; trong khi cơ sở vũ khí bé nhỏ của Oskar, giá trị đối với công cuộc chiến tranh còn rất mơ hồ, sẽ thành mục tiêu ném bom của Đồng minh và liên lụy đến nhà máy quan trọng của Hoffman nằm kề bên. Số tội phạm Do Thái trong trại của Schindler cũng sẽ áp đảo số cư dân tử tế ít ỏi của Brinnlitz, và thành một khối ung nhọt trên sườn núi Zwittau trung thực.

Sự phản đối này hoàn toàn vô ích, vì nó đi thẳng đến văn phòng của Erich Lange ở Berlin. Khiếu nại gửi đến Troppau thì bị Sussmuth chính trực im đi. Tuy vậy ở quê nhà Oskar vẫn xuất hiện trên tường dòng chữ “LŨ TỘI PHẠM DO THÁI CÚT ĐI”.

Oskar tiếp tục tiêu tiền. Ông chi cho Ủy ban Di tản Cracow để sớm có giấy phép di chuyển máy móc. Sở Kinh tế Cracow cần được động viên để giải tỏa các khoản thế chấp ngân hàng. Tiền mặt lúc này không được chuộng, nên ông trả bằng hàng hóa - từng cân chè, từng đôi giày da, từng tấm thảm, từng gói cà phê, từng hộp cá. Ông quần đảo suốt chiều trên những con phố nhỏ quanh Quảng trường Cracow và mặc cả với những cái giá trên trời để mua bất cứ thứ gì đám quan lại thèm muốn. Nếu không, ông dám chắc, chúng sẽ cho ông đợi đến khi tù nhân Do Thái cuối cùng của ông đã vào Auschwitz.

Chính Sussmuth tiết lộ với ông, đám người ở Zwittau đã viết cho Tổng cục Quân giới tố cáo Oskar buôn bán chợ đen. Nếu họ đã viết cho tôi, Sussmuth, anh có thể cá rằng thư này cũng sẽ đến tay trùm cảnh sát Moravia Obersturmführer Otto Rasch. Anh nên ra mắt Rasch và cho ông ta thấy mình dễ mến ra sao.

Oskar biết Rasch từ thời ông ta là trùm cảnh sát SS tại Katowice. Tình cờ Rasch lại là bạn với chủ tịch Công ty Ferrum AG ở Sosnowiec, đối tác bán sắt cho Oskar. Khi lao xuống Brno hòng đi trước những kẻ tố cáo mình một bước, Oskar đâu có trông đợi vào một mối liên hệ mong manh là bạn bè chung. Ông mang theo một viên kim cương tuyệt mỹ, và bằng cách nào đó đã giới thiệu nó với viên sĩ quan. Khi băng qua mặt bàn và dừng lại bên Rasch, nó đã thay Oskar vỗ yên mặt trận Brno.

Sau này Oskar ước tính ông đã tiêu 100.000 RM - gần 40.000 dollar - để bôi trơn việc chuyển nhà máy về Brinnlitz. Hiếm có ai trong số những người sống sót hoài nghi con số này, tuy nhiên một số lắc đầu và nói, “Không, hơn! Phải hơn thế nhiều.”

*

Ông soạn một văn bản gọi là danh sách chuẩn bị và gửi lên Tòa nhà Quản trị. Trong đó có trên một nghìn cái tên - toàn bộ tù nhân tại nhà tù sân sau của Emalia, và cả những tên mới. Helen Hirsch là cái tên mới tinh trong danh sách, và Amon chẳng còn ở đó mà phản đối.

Và danh sách sẽ còn mở rộng nếu Madritsch đồng ý dọn đến Moravia cùng Oskar. Bởi vậy Oskar kiên trì tranh thủ Titsch, đồng minh của ông trong việc thuyết phục Julius Madritsch. Những ai gần gũi với Titsch ở nhà máy của Madritsch biết Oskar đang lên danh sách, và họ có thể có tên trong đó. Titsch không giấu giếm gì họ: Cố mà chui vào đó. Ở vương quốc giấy tờ của Płaszów, vài chục trang danh sách của Oskar là những trang duy nhất dẫn tới tương lai.

Nhưng Madritsch vẫn chưa quyết có liên minh với Oskar không, có bổ sung ba ngàn lao động của ông vào danh sách không.

Một lần nữa, tồn tại sự mơ hồ rất thích hợp với một huyền thoại xung quanh sự ra đời của bản danh sách. Việc bản danh sách có thật hay không thì không có gì mơ hồ cả - bản sao của nó ngày nay vẫn được lưu trữ ở Yad Vashem. Và không có gì mù mờ, như chúng ta sẽ thấy, xung quanh những cái tên được Oskar và Titsch nhớ ra vào phút chót và đính kèm vào cuối văn bản chính thức. Những cái tên trong danh sách đều xác định. Nhưng hoàn cảnh là mảnh đất màu mỡ cho huyền thoại. Vấn đề là người ta ghi nhớ bản danh sách mãnh liệt đến mức làm nó nhòa đi dưới chính sức nóng ấy. Nó là cái thiện tuyệt đích. Nó là sự sống. Còn xung quanh cái lề chật hẹp của nó là vực sâu thăm thẳm.

Một số người có tên trong danh sách kể rằng có một bữa tiệc ở tư dinh của Goeth, một cuộc tái ngộ của các sĩ quan SS và doanh nhân để kỷ niệm quãng thời gian tốt đẹp ở đây. Một số cho rằng Goeth cũng có mặt; nhưng do SS không cho phép đóng tiền bảo lãnh, điều này là không thể. Số khác tin rằng bữa tiệc diễn ra ở căn hộ của Oskar bên trên nhà máy. Oskar đã gây những cuộc tiệc tùng tuyệt hảo tại đây suốt hơn hai năm qua. Một tù nhân Emalia nhớ lại phiên gác đêm năm 1944, khi Oskar từ trên lầu đi xuống lúc một giờ sáng để trốn tránh sự náo nhiệt, và mang theo hai chiếc bánh, hai trăm điếu thuốc và một chai rượu cho anh bạn gác đêm.

Buổi dạ tiệc tốt nghiệp của Płaszów, dù diễn ra ở đâu, cũng có một bác sĩ Blancke, Franz Bosch, và theo một số người, cả Oberführer Julian Scherner, đang tạm nghỉ công việc săn lùng du kích. Madritsch và Titsch cũng có mặt. Sau này Titsch tiết lộ chính ở buổi tiệc này Madritsch đã lần đầu tiên thông báo với Oskar rằng mình sẽ không chuyển tới Moravia. “Tôi đã làm tất cả những gì có thể cho người Do Thái,” Madritsch nói. Và ông không nói ngoa. Nhưng lần này ý ông đã quyết, dù Titsch đã cố thuyết phục ông mấy ngày qua.

Madritsch là người chính trực. Sau này ông sẽ được tôn vinh một cách xứng đáng. Chỉ là ông không tin vào giải pháp Moravia. Nếu tin, mọi tín hiệu đều cho thấy ông sẽ theo đuổi nó.

Người ta còn biết bữa tiệc diễn ra trong sự khẩn trương, bởi tối hôm ấy Schindler phải nộp bản danh sách. Đây là tình tiết được xác thực qua lời kể của tất cả những người sống sót. Họ chỉ có thể thuật lại và bồi thêm chi tiết nếu được nghe từ chính miệng Oskar, người có thói quen thêu hoa dệt gấm khi kể chuyện. Nhưng vào đầu thập niên 1960 chính Titsch đã khẳng định chuyện này cơ bản là xác thực. Có lẽ viên Commandant tạm quyền tại Płaszów, một Hauptsturmführer tên là Büscher, đã bảo Oskar, “Đùa thế đủ rồi, Oskar! Chúng ta phải hoàn tất giấy tờ và việc vận chuyển.” Cũng có thể Ostbahn đã đặt thời hạn dựa trên thời gian khả dụng của phương tiện vận tải.

Do đó, cuối danh sách của Oskar, Titsch phải gõ bổ sung bên dưới chữ ký, tên các tù nhân của Madritsch. Họ thêm vào gần bảy mươi cái tên, dựa trên trí nhớ của cả hai. Trong số đó có tên nhà Feigenbaum - Cô con gái bị ung thư xương vô phương cứu chữa; có cậu con trai Lutek tay nghề sửa máy khâu còn bập bõm. Giờ đây, qua bàn tay vội vàng của Titsch, họ trở thành công nhân sản xuất đạn dược lành nghề. Trong căn hộ, giữa tiếng hát hò trò chuyện râm ran, cười nói ầm ĩ và màn sương khói thuốc, ở một góc, Oskar và Titsch vật lộn với những cái tên, căng óc tìm cách đánh vần một cái họ Ba Lan.

Cuối cùng, Oskar phải giữ tay Titsch lại. Nhiều quá rồi, ông bạn. Con số này đã đủ làm chúng chần chừ. Titsch vẫn vắt óc nhớ thêm, và sáng hôm sau sẽ thức dậy đây ăn năn vì một cái tên đến với ông quá muộn. Nhưng ông cũng đã tới hạn, kiệt sức vì việc này. Điều ông vừa làm gần đến mức báng bổ với việc tái sinh con người chỉ bằng cách nghĩ đến họ. Ông không thấy miễn cưỡng khi làm vậy. Chính sự thật mà nó phản ánh về thế giới này - chính đó là điều khiến không khí nặng nề trong căn hộ của Schindler trở nên ngạt thở với Titsch.

Tuy nhiên, bản danh sách lại bị lợi dụng bởi tay thư ký nhân sự, Marcel Goldberg. Büscher, viên Commandant mới, có mặt chỉ để giải thể trại giam, chẳng quan tâm đến chuyện ai có tên trong danh sách, miễn là số lượng có giới hạn nhất định. Do vậy, Goldberg có cơ hội thao túng ở vòng ngoài. Tù nhân đều biết, Goldberg là loại ăn tiền. Nhà Dresner biết. Juda Dresner - bác cô bé Genia áo đỏ, chồng bà Dresner từng bị từ chối không cho trốn trong tường, cha của Janek và cô thiếu nữ Danka - Juda Dresner biết rõ. “Ông ấy hối lộ Goldberg,” cả gia đình giải thích đơn giản như vậy về việc tại sao họ lọt vào danh sách của Schindler. Họ không bao giờ biết ông phải trả những gì. Bác thợ kim hoàn Wulkan hẳn cũng lo được suất cho mình, cho vợ và con trai bằng cách đó. Poldek Pfefferberg biết đến bản danh sách từ một hạ sĩ quan SS tên gọi Hans Schreiber. Schreiber, một thanh niên trạc hai lăm, cũng có ác danh ở Płaszów chẳng kém ai, nhưng Pfefferberg ít nhiều chiếm được cảm tình của gã theo một cách khá phổ biến ở khắp chế độ này trong quan hệ cá nhân giữa tù nhân và nhân viên SS. Mọi sự bắt đầu một hôm khi Pfefferberg, là trưởng nhóm ở lán, chịu trách nhiệm lau cửa sổ. Schreiber đi kiểm tra thấy vết ố và bắt đầu dọa nạt Poldek theo kiểu thường là khúc dạo đầu cho một vụ hành quyết. Pfefferberg nổi điên và bảo Schreiber rằng cả ông lẫn tôi đều thừa biết cái cửa rất sạch rồi, và nếu ông muốn kiếm cớ bắn tôi thì làm mẹ nó đi cho xong. Cơn bột phát ấy, trái với lẽ thường, khiến Schreiber thấy thú vị, và sau này thỉnh thoảng lại vẫy Pfefferberg ra hỏi thăm sức khỏe hai vợ chồng, đôi khi còn gửi cho Mila quả táo. Mùa hè 1944, Poldek cầu xin gã cứu Mila khỏi chuyến tàu toàn phụ nữ từ Płaszów đến địa ngục Stutthof, ven biển Baltic. Mila đã xếp hàng lên tàu thì Schreiber vung vẩy tờ lệnh xuất hiện và gọi tên cô. Một lần khác, vào Chủ nhật, gã đến lán của Pfefferberg, say khướt và nức nở, trước mặt Poldek cùng mấy tù nhân khác, về “những điều khủng khiếp” gã gây ra ở Płaszów. Gã bảo sẽ chuộc tội bằng cách xung phong ra Mặt trận phía Đông. Rốt cuộc, gã làm thế thật.

Lần này gã mách Poldek rằng Schindler có bản danh sách và Poldek cần làm tất cả những gì có thể để có tên trong đó. Poldek xuống Tòa nhà Quản trị để xin Goldberg đưa tên anh và Mila vào danh sách. Hơn một năm rưỡi qua, Schindler vẫn hay đến thăm Poldek ở ga ra của trại và luôn hứa sẽ cứu anh ra. Tuy nhiên Poldek đã trở thành một thợ hàn lành nghề tới mức đám quản lý, những người rất cần cho ra lò sản phẩm chất lượng cao để bảo toàn tính mạng bản thân, không đời nào chịu nhả anh. Giờ đây Goldberg nắm danh sách trong tay - y đã tự ghi tên mình vào đó - và anh bạn cũ của Oskar, từng thường xuyên là khách ở căn hộ trên phố Straszewskiego, hy vọng sẽ có tên trong danh sách vì chút tình cố cựu với Oskar. “Chú mày có kim cương không?” Goldberg hỏi Pfefferberg.

“Ông đùa đấy à?” Poldek hỏi.

“Cái danh sách này,” Goldberg, kẻ ngẫu nhiên vớ được quyền lực tối thượng, đáp, “nó chỉ nhận kim cương thôi.”

Giờ đây khi Hauptsturmführer Goeth, người yêu nhạc thành Vienna, đã vào tù, hai anh em nhà Rosner, nghệ sĩ cung đình, có thể tự do vận động để có tên trong danh sách. Dolek Horowitz, trước đây từng thu xếp cho vợ con đến Emalia, cũng thuyết phục được Goldberg đưa tên ông, vợ ông, con trai ông và con gái nhỏ của ông vào. Trước giờ Horowitz vẫn làm việc ở kho hàng chính của Płaszów và tranh thủ giấu được chút của nả. Giờ đây nó rơi vào túi Marcel Goldberg.

Trong số những cái tên có anh em nhà Bejski, Uri và Moshe, danh nghĩa là thợ sửa máy và thợ vẽ. Uri am hiểu vũ khí còn Moshe có tài làm giả giấy tờ. Hoàn cảnh của bản danh sách mù mờ đến nỗi khó xác định được đây có phải nguyên nhân khiến họ được đưa vào hay không.

Josef Bau, chàng rể trọng lễ nghi, về sau sẽ được đưa vào mà anh không hề biết. Goldberg chủ định bưng bít thông tin về bản danh sách. Xét tính cách của chàng trai, có thể phỏng đoán rằng nếu Bau chủ động đặt vấn đề với Goldberg thì anh sẽ đòi phải có cả mẹ và vợ đi cùng. Về sau khi anh phát hiện ra chỉ mình có tên đi Brinnlitz thì đã quá muộn.

Về phần Stern, Herr Direktor đã ghi tên ông vào ngay từ đầu. Ông là đức Cha xưng tội duy nhất của Oskar từ trước đến nay, và ý kiến của Stern có ảnh hưởng rất lớn đến ông.

Từ 1 tháng Mười, không tù nhân Do Thái nào được phép rời Płaszów để tới nhà máy cáp hay vì bất kỳ mục đích nào khác. Đồng thời, các trưởng nhóm ở trại tù Ba Lan bắt đầu bố trí canh gác để ngăn việc tù Do Thái đánh đổi bánh mì. Giá bánh mì lậu lên cao đến mức khó lòng biểu thị bằng złoty. Trước đây, một tấm áo khoác có thể đổi được một ổ, một chiếc áo lót sạch được 250 gam. Giờ đây - như với Goldberg, nó được tính bằng kim cương.

Tuần đầu tháng Mười, Oskar và Bankier có việc đến Płaszów và, như thường lệ, rẽ vào thăm Stern ở Phòng Xây dựng. Từ văn phòng cũ của Amon đi xuống cuối hành lang mới đến chỗ Stern. Chưa bao giờ họ có thể trao đổi tại đây thoải mái như thế. Stern kể cho Schindler về tình hình lạm phát phi mã của bánh mì đen. Oskar quay sang Bankier. “Nhớ chuyển cho Weichert 50.000 złoty,” Oskar lầm bầm.

Bác sĩ Michael Weichert là chủ tịch của Cộng đồng Tương thân Do Thái trước đây, nay là Văn phòng Cứu trợ Do Thái. Ông và văn phòng được phép hoạt động chỉ để làm màu và phần khác do ông có quan hệ mật thiết với Hội Chữ thập đỏ Đức. Mặc dù nhiều người Do Thái Ba Lan đối xử với ông bằng một sự hoài nghi dễ hiểu, và mặc dù chính sự hoài nghi này đã đưa ông ra tòa, sau chiến tranh - rồi ông được trắng án - Weichert đích thực là người thích hợp để nhanh chóng kiếm được 50.000 zł bánh mì và đưa vào Płaszów.

Cuộc đối thoại của Stern và Oskar tiếp tục. Đoạn 50.000 złoty chỉ là tiểu tiết trong câu chuyện giữa họ về thời loạn lạc và việc Amon đang hưởng thú ở tù tại Breslau ra sao.

Đến cuối tuần, bánh mì chợ đen từ thành phố được tuồn vào trại trong xe chở vải, than hoặc sắt vụn. Trong vòng một ngày, bánh mì đã về lại giá cũ.

Đó là trường hợp điển hình về sự thông đồng giữa Oskar và Stern, và sau này còn nhiều vụ khác.

❀ ❀ ❀

[1] Thủ lĩnh đảng Quốc xã ở cấp tỉnh/bang.

[2] Trại trưởng Auschwitz.

[3] Thủ lĩnh Đảng Quốc xã ở cấp địa phương (quận, huyện).

DANH SÁCH CỦA SCHINDLER Schindler’s List ebook©MotSAch —★— TVE-4U©amylee Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2018
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Thomas Keneally

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.