Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3: Con Đường Họ Đi

❊ ❊ ❊

 Hiển nhiên lộ tuyến của cuộc thỉnh kinh không phải đúng hệt như con đường Tam Tạng pháp sư đã thực hiện trong lịch sử. Độc giả cũng có thể nhận định rằng hành trình ấy hoàn toàn hư cấu. Tuy nhiên, Tây Du Ký đã để lại chút manh mối để chúng ta biết sự thực thì Đường Tăng và các đồ đệ đã đi như thế nào sang Tây phương.

1. Những bước khởi đầu

Đó là những địa điểm mà Đường Tăng đã trải qua khi bắt đầu cuộc hành trình. Đầu tiên từ Tràng An đi về phía tây, “đi miết một, hai ngày ngựa không dừng bước, tới chùa Pháp Môn”. Chùa Pháp Môn nay thuộc huyện Phù Phong, tỉnh Thiểm Tây.

Rời chùa Pháp Môn, “Đi được vài ngày, thầy trò tới cổng thành Củng Châu.” Trong dòng chảy lịch sử Trung Quốc lại có hai địa danh mang tên Củng Châu. Một là Củng Châu đời Đường nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, tên châu bị phế bỏ ở niên hiệu Hi Ninh đời Tống; một là Củng Châu đời Bắc Tống nay thuộc tỉnh Cam Túc. Căn cứ vào lộ tuyến của Đường Tăng thì Củng Châu mà tác giả nói tới là thuộc Cam Túc. Một mật ngữ nho nhỏ để thấy Tây Du Ký không chỉ nói về chuyện xảy ra ở đời nhà Đường. Rời Củng Châu, “Hai ba ngày sau, lại đến Hà Châu Vệ, nơi biên giới của nhà Đại Đường”. Hà Châu Vệ cũng thuộc tỉnh Cam Túc, nhưng thật bất ngờ là nó chỉ được lập vào năm 1371. Trước đó, địa danh này chỉ có tên là Hà Châu, năm 1370, Chu Nguyên Chương sai Đặng Dũ đánh Hà Châu, thiết lập Hà Châu Vệ. Đây cũng là mở đầu cho việc thiết lập đơn vị hành chính Vệ ở các khu tiếp giáp với người Tạng, ứng với câu “biên giới của nhà Đại Đường”. Việc tác giả sử dụng cái tên triều Minh - Hà Châu Vệ lại hé mở ra ẩn ý như cách dùng tên Củng Châu đời Tống.

2. Nơi thu phục ba đồ đệ

Tôn Ngộ Không được Đường Tăng cứu khỏi núi Ngũ Hành. Núi này theo lời Lưu Bá Khâm thì được đổi tên thành núi Lưỡng Giới, “nửa bên đông thuộc nước Đại Đường, nửa bên tây thuộc nước Thát Đát”. Đây hẳn là cao nguyên Thanh Tạng ngày nay.

Trư Bát Giới được thu phục ở Cao Lão trang. Tên gian nhân Cao Tài thuật rằng: “Vùng này thuộc địa giới nước Ô Tư Tạng. Nơi đây là thôn Cao Lão, người trong thôn quá nửa là họ Cao”. Ô Tư Tạng chính là cái tên của Tây Tạng rất thông dụng ở thời nhà Minh.

Sa Tăng được thu phục ở sông Lưu Sa. Hồi 8 miêu tả địa danh ấy như sau:

Phía đông liền sa mạc,
Phía tây sát nước Phiên.
Ô Qua ở phía nam,
Thát Đát liền mạn bắc.

Kết hợp cái tên Lưu Sa (cát chảy) với tấm bia miêu tả:

Lưu Sa tám trăm dặm
Nước yếu sâu ba nghìn.
Lông ngỗng không nổi được,
Hoa lau cũng phải chìm.

Có thể thấy tác giả muốn nói sông Lưu Sa chính là sa mạc Taklamakan, tên Hán tự là Tháp Khắc Lạp Mã Can. Sa mạc này được ghi chép rộng 800 dặm, đúng như Tây Du Ký miêu tả về sông Lưu Sa, nó vốn thường được ví với biển cả, thường gọi là Tử vong hải (biển chết), tương truyền người vật tiến vào sa mạc, chỉ có vào mà không có ra nên Tây Du dùng câu “Lông ngỗng không nổi được, hoa lau cũng phải chìm” để mô tả.

3. Một vài địa danh khác

Sẽ là quá khó khăn nếu ta muốn giải mật toàn bộ chặng đường sang tây thỉnh kinh tương ứng với những địa danh thực nào. Cho nên trong khả năng nhỏ nhoi của mình, tôi chỉ dám phán đoán vài địa điểm.

Nước Ô Kê: Theo Đại Đường Tây Vực ký thì trong lịch sử, Tam Tạng pháp sư có đi qua một nước gọi là Ô Kỳ thuộc Tây Vực. Nước này được biết đến nhiều hơn với tên gọi An Kỳ, có ghi chép trong Hán thư - Tây Vực truyện: “Nước An Kỳ, trị sở ở thành Viên Kỳ, cách Trường An bảy ngàn ba trăm dặm”. Nước An Kỳ nay là huyện An Kỳ thuộc Tân Cương. Đây có lẽ là nguyên danh của nước Ô Kê.

Núi Bình Đính, động Liên Hoa: Đây là sào huyệt của anh em Kim Giác, Ngân Giác. Cái tên Bình Đính chính là dịch từ chữ Pamir trong tiếng Ba Tư, tác giả muốn ám chỉ Cao nguyên Pamir.

Nước Xa Trì: Đây là nơi thầy trò Đường Tăng đấu pháp với tam yêu Hổ Lực, Lộc Lực, Dương Lực. Theo Đại Đường Tây Vực ký thì Tam Tạng pháp sư có đi qua một địa danh mang tên Xa Sư, nay cũng thuộc Tân Cương. Có lẽ Xa Trì quốc chính là muốn ám chỉ thành Xa Sư trong lịch sử.

Tây Lương Nữ quốc: Nhắc đến vương quốc này, người đọc dễ liên tưởng tới vùng đất của các nữ chiến binh Amazon trong Thần thoại Hy Lạp. Tuy nhiên, sách Văn hiến thông khảo - quyển 339 có nhắc tới một nước tên Tây Nữ quốc ở về phía tây Thông Lĩnh, lập phụ nữ làm Quân trưởng, hàng năm tuyển đàn ông tới giao hợp. Tục nước ấy sinh con trai thì bỏ không nuôi. Thông Lĩnh chính là cao nguyên Pamir, hợp với con đường sang tây của thầy trò Đường Tăng.

Hỏa Diệm Sơn: Vùng đất lão Ngưu nay là địa danh nổi tiếng thuộc Tân Cương, thời nhà Đường thuộc Thổ Phồn, từng được gọi với các cái tên Hồng Sơn, Hỏa Sơn. Tác giả miêu tả chân thân của Ngưu Ma vương là con bò trắng hẳn là muốn ám chỉ loài bò yak Tây Tạng.

Nước Tế Trại: Nơi thầy trò Đường Tăng giúp Quốc vương lấy đòi lại Xá lợi và cỏ linh chi. Theo mô tả của Tây Du Ký thì “thành này tên gọi nước Tế Trại, là nơi đường chính sang phương tây. Trước đây có bốn nước rợ triều cống. Phía nam nước Nguyệt Đài, phía bắc: nước Cao Xương, phía đông: nước Tây Lương, phía tây: nước Bản Bát.” Các địa danh Tế Trại, Nguyệt Đài, Bản Bát không rõ là ở đâu, nhưng Cao Xương và Tây Lương đều là các tiểu quốc có thật. Có thể nói Tế Trại cũng thuộc về khoảng Tân Cương ngày nay.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.