Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phụ Lục

❊ ❊ ❊

1. Bốn kiện tướng khỉ

Tây Du Ký hồi 3 viết:

“Hầu vương phong bốn con khỉ già làm kiện tướng: hai con khỉ già đỏ đít làm nguyên soái họ Mã, họ Lưu; hai con vượn trắng lưng làm tướng quân họ Băng, họ Ba.”

Nhưng trước đó, khi Ngộ Không mới học đạo trở về có khoe với bầy khỉ: “Ta nay họ Tôn, pháp danh là Ngộ Không.”

Bầy khỉ liền hoan hỉ: “Đại vương là lão Tôn, chúng tôi là Tôn hai, Tôn ba, Tôn lớn, Tôn bé, một nhà họ Tôn, một nước họ Tôn, một ổ họ Tôn!

Nếu cả bầy khỉ đều mang họ Tôn thì họ Mã, họ Lưu, họ Băng, họ Ba là từ đâu ra? Thực ra đây là trò chơi chữ mà tác giả muốn đùa giỡn độc giả mà thôi.

Mã, Lưu nhị soái: Hai chữ Mã Lưu (Hời) chính là một cách gọi loài khỉ. Bản thảo cương mục liệt kê các tên gọi loài Di hầu bao gồm: Mộc hầu, Vi hầu, Hồ tôn, Vương tôn, Mã lưu…

Băng, Ba nhị tướng: Hai chữ này xuất phát từ chữ Bandar trong tiếng Ấn Độ, cũng có nghĩa là con khỉ.

2. Âm phủ

Bàn về thế giới người chết của Trung Quốc thì có rất nhiều thuyết, độ khác biệt cũng cực kỳ lớn theo các thời đại khác nhau. Chỉ riêng các danh từ chỉ thế giới của người chết đã có thể liệt kê ra một loạt, đơn cử như Cõi âm, Minh giới, Hoàng tuyền, Âm tào địa phủ (gọi tắt là âm phủ), Địa ngục, Cửu u, U minh… Theo như cách hiểu ngày nay, chúng ta có một thế giới “bên dưới”, có địa ngục (nơi giam và hành hạ quỷ hồn), địa phủ (nơi xét xử quy hồn), có thành quách, có sông, có núi… Lại có thần minh cai quản như Thập điện Diêm vương, Địa tạng Bồ tát, Hắc Bạch Vô thường, Ngưu đầu mã diện (quỷ đầu trâu mặt ngựa)… Đó là một thế giới được vận hành bằng lục đạo luân hồi, hồn người/vật sau khi chết xuống cõi âm, rồi Diêm vương căn cứ vào hành trạng khi còn sống mà đưa vào một trong sáu đường luân hồi.

Tuy nhiên, đó là một cõi âm rất khác biệt so với thế giới người chết cổ sơ của Trung Quốc.

Thoạt tiên phải nói luôn Luân hồi là một khái niệm ngoại lai và xuất hiện muộn ở Trung Hoa. Đó là tư tưởng của Ấn giáo và đạo Phật. Trước khi đạo Phật truyền vào Trung Quốc thì tín ngưỡng dân gian coi người chết đi linh hồn quy tụ ở một miền miên viễn, tương tự như nhiều dân tộc khác trên thế giới, tuyệt không có chuyện luân hồi chuyển kiếp.

Thời nhà Thương, người ta cho rằng khi con người chết đi thì phần hồn hóa thành tinh tú trên trời, có thể ban phúc giáng họa, do đó họ cực kỳ kính sợ tổ tiên.

Sang thời nhà Chu thì xuất hiện khái niệm Hoàng tuyền - suối vàng. Hoàng tuyền được sử sách ghi chép lại từ rất sớm, trễ nhất là thời Xuân Thu với câu chuyện Trịnh Trang Công đào suối vàng gặp mẹ. Nó được hiểu như con suối nước màu vàng chảy ngầm sâu và lan rộng dưới lòng đất*. Bởi người chết được táng dưới đất, thịt da dần tiêu tán nên người Trung Quốc tưởng tượng ra một mạng lưới liên thông những linh hồn ấy lại với nhau, trở thành một thế giới của người chết. Có vẻ như Hoàng tuyền ban sơ vốn không có người cai quản, chỉ là một cõi tập trung linh hồn người chết.

Có lẽ liên quan tới lưu vực sông Hoàng Hà, nước màu vàng do dòng sông mang nhiều vật liệu có nguồn gốc từ đất vàng. Khi đào sâu xuống dưới đất thì người ta bắt gặp mạch nước có màu bùn vàng, mà gọi tên là Hoàng tuyền chăng? 

Sang thời Tần Hán, dân gian có câu “Người sống ở tây Trường An, người chết ở đông Thái Sơn”. Núi Thái Sơn ở khoảng nước Tề, nước Lỗ, là nơi tập trung của nền văn minh Hoa Hạ. Nhà Tần thống nhất thiên hạ, Thủy Hoàng nhiều lần làm lễ Phong Thiện ở Thái Sơn, từ đó Thái Sơn trở thành địa điểm kết nối giữa cõi người và cõi trời. Khái niệm Thái Sơn phủ được ra đời, là cơ quan chủ quản cõi âm sớm nhất.

Người Trung Quốc tin rằng linh hồn người chết tụ tập cả ở phía tây núi Thái Sơn, ở đó có một vị thần cai quản gọi là Thái Sơn Phủ quân (bởi Thái Sơn là Đông Nhạc trong Ngũ Nhạc của Trung Hoa nên ngài còn mang danh hiệu Đông Nhạc đại đế). Đây là vị thần trị vì thế giới người chết cổ sơ nhất của tín ngưỡng dân gian. Bấy giờ các vị Địa tạng Bồ tát, Diêm vương còn chưa được du nhập vào Trung Quốc nên Thái Sơn Phủ quân là vị thần duy nhất cai quản ma, quỷ, hồn, và được Đạo giáo thu nạp thành một vị thần của tôn giáo mình.

Dần dà vì cái danh hiệu Thái Sơn phủ quân có vẻ quá chật chội và quá tập trung tới địa phận Thái Sơn so với cả một quốc gia rộng lớn ngày càng phát triển về phương nam, nên người Trung Quốc cần một vị thần vĩ đại hơn với trị sở cũng to lớn hơn đơn vị một phủ. Họ liền thay Thái Sơn phủ bằng Phong Đô và tôn lập nên một Phong Đô Đại đế. Phong Đô Đại đế trị nhậm ở Phong Đô, dưới có lục cung, quản việc quỷ hồn xuất nhập. Ban đầu Phong Đô được coi là ở phụ cận Thái Sơn. Thế rồi e ngại việc lẫn lộn Phong Đô Đại đế với Đông Nhạc đại đế, nên dân gian dịch chuyển Phong Đô tới Tứ Xuyên. Dưới quyền Phong Đô Đại đế là một dàn thuộc hạ hùng hậu, đứng đầu là Ngũ phương Quỷ đế, họ cai quản trật tự chốn âm ty, chia làm năm phương đông tây nam bắc và trung.

Khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa, cũng giống như các trường hợp thần tiên của Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian được đồng hóa với các vị thần trong Phật giáo, thì cõi âm cổ xưa của Trung Hoa cũng được đồng hóa với cõi âm của Phật giáo. Xét về một phương diện nào đó, thì dân gian thích thú với việc được tái sinh (luân hồi) vào các cõi trời, người, vật, quỷ, hơn là việc chết đi rồi mãi mãi trở thành một thứ âm hồn ở một cõi xa khuất nào đó. Do vậy thuyết Luân hồi nhanh chóng được dân gian chấp nhận. Dĩ nhiên để phán xét “ai luân hồi theo đường nào”, thì một bộ máy pháp ty cồng kềnh hơn cũng được dựng nên, kèm theo đó là mười tám tầng địa ngục của Phật giáo. Thế là Thập điện Diêm vương được chính thức đưa vào hệ thống tín ngưỡng của cả dân gian và Đạo giáo.

Khoảng thời Đường, bộ kinh Thập vương bắt đầu được truyền bá ở Trung Quốc với các tên gọi Phật thuyết Thập vương kinh, Địa tạng Thập vương kinh… trong đó danh hiệu và chức trách của Thập điện Diêm vương cùng mười tám tầng địa ngục được viết ra cụ thể. Đặc sắc hơn, Thập vương kinh còn đồng hóa luôn vị Thái Sơn Phủ quân tối cổ kia trở thành một vị thần trong Phật giáo: vị Diêm vương ở Thất điện, mang tên Thái Sơn vương. Thậm chí ngài còn được tặng cho một lai lịch cụ thể: là Thái tử của Viêm ma vương

Mười vị Diêm vương lần lượt là Tần Quảng vương, Sở Giang vương, Tống Đế vương, Ngũ Quan vương, Diêm La vương, Biện Thành vương, Thái Sơn vương, Bình Đẳng vương, Đô Thị vương, Ngũ Đạo Chuyển Luân vương. Khi người chết đi, hồn xuống cõi âm phải trải qua đủ Thập điện Diêm vương xét xử căn cứ vào hành trạng lúc sinh thời (thiện nghiệp và ác nghiệp). Cụ thể thì hồn mới tới cõi âm thì nhập nhất điện, do Tần Quảng vương xử. Hết nhị thất (14 ngày) thì qua cầu Nại Hà, tới nhị điện; hết kỳ thất thất (49 ngày) thì tới thất điện của Thái Sơn vương xét xử. Tới kỳ bách nhật (100 ngày) thì chuyển qua bát điện, hết một năm thì tới cửu điện, hết ba năm thì tới thập điện và đưa vào lục đạo luân hồi. Từ kỳ ngũ thất (35 ngày) trở về sau, thân quyến có thể dùng công đức, thiện nghiệp tại dương thế để hộ trì vong người chết, giúp hồn bớt phải chịu hành hạ đồng thời có được đường luân hồi tốt hơn*.

Có lẽ đó là lý do mà người ta hay làm lễ đưa vong lên chùa ở kỳ ngũ thất. 

Quan hệ giữa Thập điện Diêm vương với Địa tạng vương Bồ tát khá phức tạp. Xét tổng thể thì Diêm vương quản lý công việc địa phủ, địa ngục và tất cả các công việc liên quan tới quỷ, hồn ở cõi âm. Còn Địa Tạng vương Bồ tát tuy có danh hiệu U Minh giáo chủ, nhưng chỉ làm công việc độ hóa chúng sinh, bao gồm cả độ hóa Diêm vương. Như vậy không ai quản ai cả.

Bởi sự ưu việt của hệ thống cõi âm có luân hồi và Diêm vương mà Phật giáo mở ra ở Trung Quốc, Đạo giáo không thể nhắm mắt làm ngơ. Các đạo sĩ liền tiếp nhận Thập điện Diêm vương vào hệ thống thần tiên của mình, trở thành thuộc hạ của Phong Đô đại đế.

Không chỉ các vị Diêm vương mà tiểu quỷ của âm ty cũng là sự đan xen giữa tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo và Phật giáo. Hắc Bạch Vô Thường là hai sứ giả câu hồn - sản phẩm của tín ngưỡng dân gian và Đạo giáo. Tồn tại song song với Hắc Bạch Vô Thường là quỷ Ngưu đầu Mã diện xuất phát từ Phật giáo, cũng thuộc lớp quỷ câu hồn.

Một lớp thần khác thuộc hệ thống cõi âm mà chúng ta ít ngờ tới là Thành Hoàng. Vị thần này có xuất xứ dân gian và Đạo giáo chứ không liên quan tới Phật giáo. Ban đầu là vị thần bảo hộ thành trì, rồi được quy vào hệ thống cõi âm, chủ quản vong linh con người, thưởng thiện phạt ác.

Trong Tây Du Ký, hệ thống âm tào địa phủ được xây dựng với Địa Tạng vương Bồ tát đứng đầu, còn Thập điện Diêm vương là các vị thần xử lý sự tình bên dưới. Đó là một hệ thống thuần túy Phật giáo.

3. Thất Đại thánh

Sáu người anh em kết nghĩa của Mỹ Hầu vương là Ngưu ma vương, Giao ma vương, Bằng ma vương, Sư Đà vương, Di Hầu vương và Ngẫu Nhung vương. Vậy là bảy cái tên chia làm hai nhóm: Nhóm một mang kết cấu Tên một chữ + ma vương; nhóm hai mang kết cấu Tên hai chữ + vương.

Hai nhóm này ứng với cách phong vương của các triều đại phong kiến Trung Quốc gồm Nhất tự vương và Nhị tự vương trong đó Nhất tự vương là phong hiệu cao quý hơn Nhị tự vương. Nhóm Thất Đại thánh này lấy Ngưu ma vương cầm đầu yêu ma dạng thú chạy, Giao ma vương cầm đầu yêu ma dạng cá bơi và Bằng ma vương cầm đầu yêu ma dạng chim bay. Bốn Đại thánh còn lại là Sư Đà vương, Di Hầu vương, Ngẫu Nhung vương và Mỹ Hầu vương ở vị trí thấp hơn.

4. Trần Ngạc tự Quang Nhị

Tây Du Ký hồi 9 giới thiệu về cha của Trần Huyền Trang: “Bảng này về đến vùng Hải Châu, có một người họ Trần, tên Ngạc, tự là Quang Nhị…”

Ở chương Ai là cha của Trần Huyền Trang, chúng ta đã nói khá rõ về việc Trần Ngạc không thể là bố của Huyền Trang mà cách đặt tên và tự mà tác giả gán cho vị Trần Ngạc này lại càng ám chỉ rõ điều ấy.

Chữ Ngạc (萼) nghĩa là đài hoa, mà chữ Nhị (蕊) là nhị hoa, xem ra rất tương đồng về ý nghĩa, hợp phép đặt tên tự. Từ đài hoa phát triển ra bông, bông nở thì phát lộ nhị, ý cảnh từ Ngạc tới Quang Nhị rất đẹp và hoa mỹ.

Nhưng xét về phương diện khác thì Nhị còn là cơ quan sinh sản của hoa, trong tiếng Việt phân ra nhị là cơ quan sinh sản đực và nhụy là cơ quan sinh sản cái, trong tiếng Trung Quốc gọi là “hùng nhị” và “thư nhị”. Quang (光) lại có nghĩa là sạch trơn. Ngạc đi cùng với Quang Nhị, ví như đài hoa phát triển ra bông hoa mà không có khả năng tạo phấn hoa, không thể sinh sản. Cách tác giả đổi cái tên gốc Trần Tuệ sang Trần Ngạc tự Quang Nhị mang tính giễu nhại thật chua cay.

5. Phi long bảo trượng

Phi long bảo trượng là bảo bối của Linh Cát Bồ tát dùng để thu phục Hoàng Phong đại vương. Tây Du Ký hồi 21 chép: “Linh Cát Bồ tát đứng trên không, miệng đọc thần chú rồi phóng cây gậy phi long xuống. Cây gậy biến thành một con rồng vàng tám vuốt, giơ hai vuốt quặp chặt lấy yêu quái, xách đầu dập xuống sườn núi ba lần, yêu quái hiện nguyên hình là một con chuột lông vàng.”

Hình ảnh rồng vàng tám vuốt (bát trảo kim long) khá đặc biệt bởi thông thường ta chỉ hay nghe tới “ngũ trảo kim long” thôi. Hóa ra “bát trảo kim long” là một cái tên gắn với dã sử triều Minh. Tương truyền Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương lên ngôi, định đô ở Nam Kinh. Một hôm Hoàng đế thấy trên tường cấm cung có hình ảnh dao động, hóa ra một đôi “bát trảo kim long” đang tranh giành đánh nhau. Hoàng đế nhủ thầm, chẳng lẽ ấy là điềm còn một con kim long tranh thiên hạ với mình nữa? Thế rồi lệnh cho Lưu Bá Ôn trấn yểm bằng bảy mươi hai cái giếng, tượng trưng cho việc đóng bảy mươi hai cái đinh, ghim kim long xuống đất, lại đào thêm cái giếng sâu trăm trượng đặt tên là Tỏa long tỉnh (giếng nhốt rồng).

Ngô Thừa Ân đã mượn truyền thuyết này để ngầm chửi Thái tổ nhà Minh trong tiểu thuyết của mình, đem ví Hoàng đế như Hoàng Phong Đại vương, để Phi long trượng hóa thành “chân bát trảo kim long” tóm cổ “giả bát trảo kim long” là con chuột lông vàng.

6. Ba hoa chín hạt

Cao ba hoa chính hạt (tam hoa cửu tử cao) là loại thuốc cao mà Hộ pháp Già lam đã dùng để chữa mắt cho Tôn Ngộ Không ở núi Hoàng Phong. Đây là cái tên thuốc mà tác giả đã hư cấu, kết hợp giữa hai loại thuốc đều chữa mắt, một là Tam hoa ngũ tử hoàn (ba hoa năm hạt), một là cửu tử hoàn (chín hạt).

7. Lục kiện tướng

Hồng Hài Nhi có sáu kiện tướng tên là Vân Lý Vụ, Vụ Lý Vân, Cấp Như Hỏa, Khoái Như Phong, Hứng Hồng Hân, Hân Hồng Hứng. Sáu cái tên này đều mang ý nghĩa chỉ bản thể Hồng Hài Nhi.

Vân Lý Vụ, Vụ Lý Vân là ám chỉ thành ngữ “vân lý vụ lý - trong mây trong sương”, chỉ người mê muội, hồ đồ.

Cấp Như Hỏa, Khoái Như Phong - gấp như lửa, nhanh như gió, ám chỉ người vội vàng bộp chộp.

Hứng Hồng Hân, Hân Hồng Hứng chỉ việc phun lửa của Hồng Hài Nhi.

Tựu chung, Hồng Hài Nhi là đứa bé biết phun lửa nhưng hồ đồ, bộp chộp, ứng với chữ Si đã nói ở chương Ba chiếc vòng kim cô.

8. Linh Cảm đại vương

Một trong các danh hiệu của Quan Âm Bồ tát là Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ tát. Con cá của Quan Âm trốn xuống sông Thông Thiên, dùng lại danh hiệu Linh Cảm này chính là để lộ quá rõ nguồn gốc của nó.

9. Nhất Xứng Kim

Tây Du Ký giải thích cái tên Nhất Xứng Kim của con gái ông lão Trần Trừng như sau: “Tính đến năm sinh cháu vừa đúng cúng hết ba mươi cân vàng ròng, ba mươi cân là một xứng, nên mới đặt tên cháu là Nhất Xứng Kim.”

Thực ra đây là một ẩn ý của tác giả ám chỉ Hoàng đế Gia Tĩnh. Sách Giang Tây tỉnh đại chí của Vương Tông Mộc ghi chép lại đồ sứ niên hiệu Gia Tĩnh, trên có vẽ hình trẻ con, gọi là “Nhất xứng kim oa oa”.

10. Đà Long sông Hắc Thủy

Bản thân chữ Đà trong tên của yêu quái đã mang nghĩa là cá sấu. Với các miêu tả trong truyện:

Mình quàng thiết giáp hoa thêu lộn,
Đầu đội kim khôi ngọc nạm lồng.
Roi sắt tay cầm coi có vẻ,
Chân đi sầm sập tựa cuồng phong…
(Bản Thụy Đình dịch)

Giáp sắt thêu hoa tròn (nguyên văn “đoàn hoa”) chỉ lớp da dày có điểm hoa cà, tay cầm roi sắt đốt trúc (nguyên văn “trúc tiết cương tiên”) chỉ cái đuôi gai, đây rõ ràng là hình ảnh của một con cá sấu.

11. Huyền ti chẩn mạch

Tây Du Ký hồi 68 miêu tả Tôn Ngộ Không bắt mạch cho Quốc vương nước Chu Tử:

Bọn hoạn quan theo đúng lời dặn bảo ấy, mời quốc vương ngồi lên long sàng, lấy mỗi đầu dây kim tuyến buộc vào đúng ba bộ thốn, quan, xích, còn một đầu luồn ra ngoài cửa sổ.
Hành Giả đỡ lấy đầu sợi tơ, để lên đầu ngón tay trỏ bên tay phải đè lấy, thế là xem xong mạch thốn; thứ hai lấy ngón tay giữa đè lên ngón tay cái, thế là xem xong mạch quan; lại lấy ngón tay cái đè lên ngón tay không tên, thế là xem xong mạch xích. Xong điều tính theo sự hô hấp của mình, chia rõ bốn khí, năm uất, bảy biểu, tám lý, chín hậu; phù ở trong trầm, trầm ở trong phù, biện rõ nguyên do hư thực; rồi lại bảo cởi tay phải ra, theo đúng các bộ vị như trước buộc sang tay trái.

Phép chẩn mạch này gọi là “Huyền ty chẩn mạch”, theo truyền thuyết được các thầy lang dùng trong việc bắt mạch cho hậu cung của vua hoặc các nhà đại quyền quý. Các thư tịch Trung Hoa ghi nhận rằng Tôn Tư Mạc thời Đường là người đầu tiên sử dụng phương pháp này để chẩn mạch cho hậu cung của Đường Thái tông.

12. Đại hoàng, Ba đậu

Đây là hai vị thuốc mà Sa Tăng và Bát Giới bàn về công dụng:

Sa Tăng liền nói:
- Đại hoàng vị đắng, tính lạnh, không độc, tính nó trầm mà không phù, công dụng đi mà không giữ lại, khai mọi uất mà không ủng trệ, dẹp hỏa loạn mà dựng thái bình, gọi tên là “tương quân”. Cái vị thuốc ấy chỉ có thế này, nhưng sợ ốm lâu đã hư nhược, không thể dùng được.
...
Bát Giới nói:
- Ba đậu vị cay, tính nóng, có độc, tiêu tính độc, khua chúng trầm hàn trong phế phủ, thông được bế tắc, lợi cả đường đại tiểu tiện, là tướng cướp ải phá cửa, không nên khinh thường.

Nội dung trên lấy trong Thần Nông bản thảo kinh hội thông, một cuốn y thư của Đằng Hoằng viết đời Vạn Lịch nhà Minh.

13. Nhọ nồi

Ngộ Không nói:
- Nhọ nồi (Oa để hôi) tên là Bách thảo sương có thể điều hòa trăm chứng bệnh, chú không biết đấy.

Một chi tiết gây cười cũng trong câu chuyện ở nước Chu Tử, nhưng thực ra nội dung của nó được lấy trong Bản thảo cương mục của danh y Lý Thời Trân đời Minh. Bản thảo cương mục viết: “Bách thảo sương còn gọi là nhọ nồi, là khói nhọ ở bếp hoặc lò, do rất mịn nên gọi là sương. Vị cay, ôn, không độc, chủ trị ứ trệ tiêu hóa, có thể dùng trộn trong đồ ăn hoặc thuốc.”

Ở đây rõ ràng Tôn Ngộ Không đã dùng thuốc rất chuẩn.

14. Nước đái ngựa

Lại một chi tiết gây cười khác cũng trong hoạt cảnh nước Chu Tử, nhưng thực ra lại mang tính y học tinh chuẩn.

Hành Giả cầm lấy cái chén, đưa cho y và nói:
- Chú lại đi lấy cho tôi nửa chén nước đái con ngựa của chúng ta.
Bát Giới nói:
- Lấy để làm gì?
Hành Giả nói:
- Dùng để hoàn thuốc.
Sa Tăng lại cười nói:
- Anh cả ạ, việc này không phải chuyện chơi. Nước đái ngựa tanh hôi, sao lại đem hoàn thuốc? Tôi chỉ thấy người ta dùng cháo bột nếp hoàn thuốc, cháo gạo lâu năm làm hoàn, thắng mật làm hoàn, hoặc lấy nước trong làm hoàn, chưa từng thấy lấy nước đái ngựa làm hoàn. Thức ấy tanh hội, người đã tì hư, ngửi thấy mửa ngay, lại uống đại hoàng, ba đậu, làm cho người ta thượng thổ hạ tả, có phải trò chơi không?

Nước đái ngựa - tức Mã niệu, trong y học gọi là Bạch mã nịch. Sách Bản thảo cương mục viết: “Bạch mã nịch vị cay, hơi hàn, có độc tính. Chủ trị tiêu khát, đầy bụng, táo bón.”

Tôn Ngộ Không tiếp tục dùng thuốc rất chuẩn.

15. Nước không rễ

Hành Giả nói:
- Dùng nước không rễ tống xuống.
Các quan nói:
- Cái đó thì dễ thôi.
Hành Giả nói:
- Sao lại biết là dễ?
Các quan nói:
- Phong tục chúng tôi ở đây, muốn dùng nước không rễ lấy một cái bát, ra ngoài giếng, hoặc ngoài sông, trở về ngay, không để nhỏ xuống đất, cũng không ngoảnh đầu lại, đem về nhà cho người ốm uống nước. Như thế đấy.
Hành Giả nói:
- Nước ở dưới giếng, dưới sông đều có rễ cả. Nước không rễ của tôi, không phải như thế, tức là ở trên trời rơi xuống, không chạm đến đất, thế mới gọi là nước không rễ.

Nước không rễ theo lời Ngộ Không là nước mưa hứng thẳng từ trên trời, còn như cách hiểu của bá quan chính là một tri thức rút trong y thư mà ra. Bản thảo cương mục có viết về “vô căn thủy” tức “thủy tuyền tỉnh” là loại nước tiết trong mạch nguồn ra chưa chảy xuống lòng giếng, gọi là nước không rễ. Thứ nước này có gì khác với nước giếng thường? Có lẽ là khoáng chất trong nước suối vẫn còn giữ được nguyên, nếu nước này chảy xuống giếng rồi thì các khoáng chất sẽ lắng xuống đáy chứ không còn trong nước nữa.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.