Hồi 23 kể rằng bốn thầy trò Đường Tăng tới Mạc gia trang. Bấy giờ Lê Sơn lão mẫu cùng ba vị Bồ tát Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền hóa thân thành bốn mẹ con kén rể. Câu truyện lý thú không gợn chút yêu khí, và dĩ nhiên cũng ẩn chứa nhiều thông tin không dễ giải đáp. Ta hãy cùng lướt sơ qua vài điểm.
1. Mật ngữ từ những cái tên
Đầu tiên, người đàn bà xưng mình họ Giả, lấy chồng họ Mạc. Giả là không thật, Mạc là không phải, cả hai cái họ đều để lộ ra rằng đây chỉ là vở kịch. Vở kịch ấy nhắm vào ai, ta sẽ nói bên dưới sau. Ba người con gái lần lượt Chân Chân, Ái Ái, Liên Liên, vì người cha họ Mạc nên ba cô lần lượt là Mạc Chân (Không thực), Mạc Ái (Không yêu), Mạc Liên (Không thương). Đây là ba vị Đại Bồ tát Tây Phương, giáng phàm lại đóng vai con gái của Lê Sơn lão mẫu. Hẳn Lê Sơn phải là nhân vật ghê gớm hơn nữa. Quả vậy, Lê Sơn lão mẫu còn gọi là Ly Sơn thánh mẫu, một tên gọi của Nữ Oa nương nương. Vậy là Thái Thượng Lão Quân đã hóa thân để tham gia vào cuộc thử lòng lần này*.
Việc Thái Thượng Lão Quân hóa thân thành Nữ Oa, xem bài Đi tìm cha của Ngộ Không.
2. Ẩn nghĩa của những con số
Việc trai gái kết hôn, thì không lẽ nào lại báo bát tự của người mẹ. Cho nên việc này thực đáng ngờ, chắc chắn nó mang thông điệp ngầm của tác giả.
Đập vào mắt là con số ngày tháng. Ngày mùng 3 tháng Ba còn gọi là tiết Thượng ty, có địa phương tổ chức lễ Đạp thanh vào ngày này, gọi là Tiểu thanh minh. Nhưng từ thời Xuân Thu, có một lễ hội được tổ chức vào ngày này: hội Cuồng hoan. Trong ngày này, nam nữ tha hồ tự do ước hẹn và tự tình. Cũng trong ngày này, dân chúng làm lễ tế thần Hôn nhân và phồn thực, đó là Nữ Oa (có nơi tế cả Nữ Oa và Phục Hy, hai anh em theo truyền thuyết Trung Hoa đã kết hôn với nhau mà tạo ra loài người). Đây cũng là một ám chỉ rất rõ thân phận của Nữ Oa, tức Lê Sơn lão mẫu, và màn kịch dựng nên ở đây là việc hôn nhân.
Người mẹ lại cho biết mình “năm Đinh Hợi. Nhà tôi hơn tôi ba tuổi, tôi năm nay bốn mươi nhăm.” Án theo đầu truyện nói việc thỉnh kinh diễn ra vào năm Trinh Quán thứ 13, tức năm Kỷ Hợi [639], thì khi xảy ra việc này là khoảng năm 640 hoặc 641. Ngược về trước sẽ có hai năm Đinh Hợi là 567 và 627. Nếu sinh năm 567 thì thời điểm ấy người mẹ đã ngoài 70, nếu sinh năm 627 thì bà chỉ 13, 14. Cả hai trường hợp này đều không thể khớp được với số tuổi chừng ngoài bốn mươi của người mẹ. Do đó, thông số “năm Đinh Hợi” chỉ là một mật ngữ dành cho một ẩn dụ nào đó của tác giả. Trùng hợp là, năm Đinh Hợi 1407, Tam bảo Thái giám Trịnh Hòa bắt đầu khởi hành cuộc viễn du Tây phương thứ hai, tới Xiêm La, Ấn Độ, Tích Lan thỉnh xá lợi răng Phật.
Bà này lại cho biết “Nhà tôi hơn tôi ba tuổi”, như vậy Mạc lão gia sinh năm Giáp Thân. Trùng hợp là năm Giáp Thân 1404, Minh Thành tổ sai Trịnh Hòa dẫn mười vạn thủy sư Lâu Thuyền xuất dương tới Nhật Bản, cuộc viễn du này được gọi là Trịnh Hòa hạ Đông dương.
Hai dữ kiện này là tình cờ trùng hợp hay mang tính ám chỉ của Ngô Thừa Ân với việc thỉnh kinh, độc giả tự có kết luận cho riêng mình.
3. Kén rể nhắm vào ai?
Nếu đơn giản là thử lòng bốn thầy trò thì Lê Sơn lão mẫu không nhất thiết phải đưa ra nhiều thông tin như vậy trong cuộc trò truyện. Khi bà mẹ đưa ra thông tin ngày sinh nhật là mùng 3 tháng Ba, trong bốn thầy trò có hai người giật mình đánh thót một cái. Đó là Tôn Ngộ Không và Sa Ngộ Tĩnh. Mùng 3 tháng Ba cũng là ngày đản sinh của Tây Vương Mẫu, hàng năm lấy ngày này mà mở Hội Bàn Đào. Ngộ Không và Sa Tăng đều gặp họa ở hội này, một người phá hội mà bị giam dưới núi năm trăm năm, một người “sẩy tay đánh vỡ chén lưu ly ở Hội Bàn Đào” mà bị đày xuống sông Lưu Sa làm quỷ, “cứ bảy ngày một lần, cho ngọn phi kiếm đâm vào ngực con hơn trăm nhát”. Rõ ràng Lê Sơn lão mẫu nhắc tới cái ngày kinh khủng ấy là đã gạt luôn lão Tôn và lão Sa ra khỏi cuộc thử thách.
Với lão Trư, rõ ràng là đích ngắm của tứ thánh, hai chữ “Đinh Hợi” cũng ám chỉ sẽ kén chàng (Đinh) Heo (Hợi) rồi. Nhưng với Bát Giới thì chỉ cần khoe “các cháu đều có chút nhan sắc. Việc nữ công thêu thùa, các cháu thạo cả” là anh chàng đã nóng hết cả người rồi. Thế thì cái việc khoe mẹ góa, nhà không có con trai, cơ nghiệp chẳng biết trao cho ai, rồi lại “ba trăm khoảnh ruộng cấy và hơn ba trăm khoảnh ruộng màu, trại trồng hoa quả hơn ba trăm khoảnh, trâu bò hơn một nghìn con, lừa ngựa từng bầy, lợn dê vô số. Trang trại, đồng cỏ cộng tới sáu bảy mươi nơi. Thóc trong lẫm ăn tám chín năm không hết; lụa là mặc mấy chục năm vẫn còn; tiền bạc tiêu xài cả đời thừa thãi, chẳng thiếu gì trướng gấm chăn là, thôi đủ hết kiềng vàng xuyến bạc…” là nhằm vào ai? Trong cả câu chuyện, rõ ràng bà mẹ chăm chăm nói cùng Đường Tam Tạng chứ không phải ai khác. Nên tác giả tinh tế miêu tả Đường Tăng nghe về gia cảnh họ Mạc thì “vờ câm giả điếc, nhắm chặt mắt lại, im lặng không đáp”; khi nghe về gia sản giàu có thì “chỉ như ngây như dại, chẳng nói nửa lời”, khi nghe về nhan sắc ba cô gái thì lại “chẳng khác gì trẻ con kinh sấm sét, cò bợ phải trời mưa, sợ rúm cả người lại, lơ mơ cặp mắt ngoảnh lại nhìn đằng sau”. Tại sao ban đầu chỉ ngây ngốc lặng thinh, mà sau lại sợ hãi như chuột gặp mèo? Phải chăng lòng phàm đã có chút động? Biết đâu đấy!