Chương này chỉ dành bàn riêng về Thuyết âm mưu, bất kể có trúng ý tác giả hay độc giả hay không, thì mong độc giả cũng coi như câu chuyện vui lúc trà dư tửu hậu của những người mê giải mật và thích bàn về thế sự.
Trong chương Vấn đề Quốc giáo và vở kịch Thái tông hoàn dương, chúng ta đã thấy một đại âm mưu của Thiên đình (đại diện cho triều đình) và Tây phương (đại diện cho Phật giáo), mà nhắm tới mục đích cuối cùng là quy tụ lòng dân, để tiện bề cai trị. Trong âm mưu này, Thiên đình có hai phe, một là Ngọc Hoàng Thượng Đế (ám chỉ Hoàng đế), hai là Thái Thượng Lão Quân (chỉ người lãnh đạo tôn giáo trong triều). Bởi tôn giáo cũ (Đạo giáo) bất lực nên Ngọc Đế cần một thứ tôn giáo mới để thay thế. Việc này nhìn qua thì có vẻ ảnh hưởng tới quyền lợi đang có của Lão Quân. Nhưng chính trị không phải thứ đơn giản bày ra trước mặt. Tôn giáo cũ không còn phù hợp thì địa vị của Lão Quân lung lay. Nếu không có cách khắc phục thì chẳng thà ủng hộ tôn giáo mới xâm nhập, qua đó kiếm chác quyền lợi cho mình. Tôn Ngộ Không chính là phần quyền lợi mà Lão Quân mong được hưởng trong đại âm mưu này. Phật giáo chiếm lĩnh Đông thổ, con trai của Lão Quân thành Phật. Mà bản thân Lão Quân xưa kia cũng từng “hóa Hồ thành Phật” nên Phật giáo thành công thì Lão Quân vẫn có phần không nhỏ.
Nói về việc thỉnh kinh này, cái đích cuối cùng không phải đem được kinh Phật về Đại Đường, bởi như vậy chỉ cần một vị Kim Cương hay La Hán cưỡi mây đem tới là được. Mục đích tối thượng của nó là hành trình thỉnh kinh, để người dân và các lực lượng tôn giáo nhìn vào. Hành trình vượt qua càng gian khó thì thành quả đem lại càng vẻ vang. Tương tự như vậy, công sức các thành viên trong đoàn càng nhiều, thì quả vị càng lớn. Bởi nguyên nhân ấy, mà các thế lực hưởng thành quả thỉnh kinh như Ngọc Đế, Lão Quân, Tây phương đều tích cực cắt cử các lực lượng của mình xuống hạ giới giả làm yêu quái để cản trở đoàn thỉnh kinh. Cản trở mà cũng là để tạo công lao, đem lại tiếng tăm huy hoàng cho hành trình.
Tuy nhiên với nội bộ Đạo giáo, Lão Quân là thượng quan chủ quản trên cao, việc Phật giáo vào Đông Thổ có thể không ảnh hưởng nhiều tới ngài, nhưng các thế lực phía dưới thì chắc chắn không còn được thờ phụng hương khói nhiều như trước, các thế lực đạo sĩ không mong muốn chuyến thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng thành công, nhưng e sợ sự trừng phạt của Lão Quân nên chỉ dám cản phá ngấm ngầm.
Yêu quái thì kẻ muốn gia nhập đội, kẻ lại muốn giết chết Đường Tăng để phá hoại triệt để. Câu chuyện đấu đá phe phái được thể hiện xuyên suốt từ khi Tôn Ngộ Không và các thành viên khác của đoàn thỉnh kinh lần lượt xuất hiện.
1. Các thế lực giao dịch quyền lợi
Đường Tăng là hóa thân của Kim Thiền Tử, được đích thân Quan Âm tuyển chọn, đương nhiên ông ta đại diện cho quyền lợi của phe Phật giáo.
Tôn Ngộ Không là con trai của Thái Thượng Lão Quân, đại diện cho quyền lợi của ngài. Nếu không có Tôn Ngộ Không tham gia, chắc chắn Lão Quân sẽ ra sức cản phá. Bởi vậy nên ta thấy Quan Âm khi được trao trọng trách thành lập đoàn thỉnh kinh, người chủ động tới tìm Ngộ Không chứ không giống như trường hợp Bát Giới và Sa Tăng tự thân tiến cử. Hồi 7 kể rằng:
Đi được một lát, bỗng thấy muôn đạo hào quang, nghìn tia khí đẹp phóng ra. Mộc Xoa nói:
- Sư phụ ạ, chỗ hào quang phát ra kia là núi Ngũ Hành, Như Lai có dán một đạo bùa yểm ở đấy.
Bồ tát nói:
- Tề Thiên Đại thánh quấy rối hội Bàn Đào, đại náo thiên cung ngày xưa, nay bị giam giữ ở đấy đấy.
Mộc Xoa nói:
- Thế ạ, thế ạ!
Thầy trò bèn cùng nhau trèo lên đỉnh núi ngắm nghía đạo bùa, thấy trên đạo bùa có sáu chữ “úm-ma-ni-bát-mê- hồng”, cứ lưu luyến mãi không thôi, rồi làm một bài thơ.
Thơ rằng:
Trái đạo công, buồn cho khỉ quái,
Cứ hung hăng cậy giỏi làm càn.
Hội đào phá phách nát tan,
Nơi cung Đâu Suất linh đan ăn liều.
Mười vạn binh không sao dẹp nổi
Chín tầng trời tiếng nức gần xa.
Từ khi bị Phật nhất cho
Tấm thân biết đến bao giờ lập công?
Hai thầy trò, trò chuyện, làm kinh động đến Đại thánh.
Quan Âm Bồ tát và Huệ Ngạn đã bỏ ra quá nhiều công sức và thời gian để đánh động tới Tôn Ngộ Không đang bị giam dưới núi Ngũ Hành. Một lời gợi ý “Tấm thân biết đến bao giờ lập công” rất trực tiếp được gửi tới phe Lão Quân, đương nhiên thiện ý ấy được nhiệt tình tiếp nhận.
Trư Bát Giới và Sa Tăng là hai cựu thiên tướng của Ngọc Đế bị đày xuống trần. Năng lực của hai người khá tầm thường họ được cử tham gia cho đầy đủ thành phần, làm những công việc tay chân. Cùng với Ngũ phương Yết đế, Tứ trị Công tào, Lục đinh lục giáp… đó là những bảo chứng cho sự ủng hộ của Ngọc Đế đối với công cuộc thỉnh kinh.
Không thể bỏ qua sự tham gia của Bạch Long. Nó đại diện cho quyền lợi của các Long vương. Mặc dù Long vương chỉ là tiểu thần tiên, nhưng họ giàu có và thường xuyên được dân chúng cầu xin mỗi khi xảy ra hạn hán. Thế lực Long vương đã hi sinh cho đại âm mưu một Long vương Kính Hà để đổi lấy một suất trong đoàn thỉnh kinh.
Bởi cùng chung một mục đích, nhưng quyền lợi phải xẻ chia, nên giữa các phe phái đôi khi cũng xảy ra những hiềm khích, những mâu thuẫn nho nhỏ. Những chiêu trò vặt vãnh để đấu đá nội bộ cũng không hiếm lần xảy ra.
2. Quan Âm viện, Ngộ Không trả đũa
Vừa gia nhập đoàn thỉnh kinh, Ngộ Không đã giận dỗi sau khi bị Đường Tăng trách mắng vì lạm sát. Đây là Đường Tăng muốn phân định rõ ngôi thứ trong đội. Ngộ Không chẳng phục nên hắn phá đoàn bỏ đi, nhưng không về núi hay lên trời, mà tìm
tới một đồng minh là Đông Hải Long vương. Vì lợi ích chung Long vương thuyết phục Ngộ Không quay lại (thu phục Bạch Long ở ngay hồi kế tiếp chính là muốn liên hệ hai sự việc với nhau).
Ngộ Không quay về thì bị sư phụ lừa đội vòng Khẩn cô nhi. Đây là chiêu của Quan Âm Bồ tát để đưa thế lực của Lão Quân vào dưới sự kiểm soát của thế lực phe Phật giáo. Ngộ Không ghi hận trong lòng và rắp tâm trả đũa.
Vừa tới Quan Âm viện, lợi dụng đám sư sãi phóng hỏa, Ngộ Không liền “niệm thần chú, quay về phương đông nam, hít một hơi rồi thổi ra. Một trận gió nổi lên khiến ngọn lửa bốc cao cuồn cuộn.” Để bảo vệ cho sư phụ trong trận hỏa tai phàm trần này thì không thiếu gì cách, nhưng con khỉ thù dai ấy đã chọn phương pháp thô thiển nhất, đốt sạch sẽ tòa đại viện, nơi dừng chân của Quan Âm Bồ tát. Mối hận bị chụp Khẩn cô nhi hẳn đã giải tỏa được phần lớn.
Nói về cái tính thù dai của Ngộ Không, thì có thể kể luôn tới kiếp nạn ở nước Bảo Tượng. Trước đó Bát Giới xúc xiểm Ngộ Không giết người vô tội (Bạch Cốt phu nhân) khiến sư phụ trục xuất Ngộ Không; ngay khi trở lại, con khỉ liền trả thù bằng cách bắt Bát Giới, Sa Tăng ném tan xương nát thịt hai đứa con của công chúa Bách Hoa Tu với Hoàng Bào quái.
3. Khe Ưng Sầu, Đại thánh mất uy
Vừa quay lại với sư phụ, Tôn Ngộ Không đã gặp phải một trở ngại không nhỏ, đó là đối đầu với Bạch Long. Con rồng nhỏ này được Quan Âm Bồ tát dạy rằng núp trong khe Ưng Sầu, chờ người thỉnh kinh tới. Thế nhưng “Hai thầy trò đang ngắm nghía, bỗng nghe đánh ầm một tiếng ở giữa lòng khe, một con rồng nhô ra, đạp sóng rẽ nước, trườn lên sườn núi về trưởng lão. Hành Giả hốt hoảng vứt hành lý, ôm Đường Tăng xuống ngựa, cắm đầu chạy miết. Con rồng đuổi không kịp, trở lại nuốt chửng con ngựa bạch lẫn yên cương, rồi lặn xuống nước mất tăm.”
Rõ ràng chủ ý của Bạch Long là về Đường Tăng, chẳng nhẽ nó không nhận ra đây là một nhà sư đang đi về phía tây ư? Tại sao không chút nghi ngờ rằng đó là người mình đang chờ, mà trước về người sau nuốt ngựa? Hẳn là Bạch Long muốn làm khó Ngộ Không, khiến cho vị Tề Thiên Đại thánh phải trổ hết tài phép nghiêng sông lật biển. Rốt cuộc không làm gì được Bạch Long phải cậy nhờ tới Quan Âm Bồ tát. Đây là lần đầu tiên Quan Âm tới cứu viện đoàn thỉnh kinh, Ngộ Không mất mặt nên đổ cho sự yếu kém của mình là bởi “phải hộ vệ nhà sư phàm tục này”.
Kiếp nạn tiếp theo ở núi Hắc Phong, Ngộ Không cũng bất lực trong việc đòi lại áo Phật cho sư phụ, lại phải cậy tới Quan Âm Bồ tát. Vị thế của đại diện phe Lão Quân bỗng nhiên tụt dốc chưa từng thấy.
4. Núi Hắc Phong, Mao Toại tự tiến
Hắc Hùng tinh là một trường hợp khá đặc biệt trong số các yêu quái. Ở nó có sự văn nhã của bậc tu đạo, thể hiện qua khung cảnh thoát tục của núi Hắc Phong mà Quan Âm Bồ tát mới nhìn còn phải khen: “Yêu quái chiếm động núi này cũng có chút sùng đạo đây”.
Cửa động lại dán cả câu đối khiến Ngộ Không tự nhủ: “Tên này cũng là yêu quái vào hạng thoát tục hiểu đời đây.”
Lời lẽ trong tờ thiếp gửi Kim Trì trưởng lão mời dự Hội áo Phật cũng có phong thái khác thường, trang phục đón khách cũng thật nho nhã: “mặc chiếc áo lụa nõn màu xanh sẫm, phủ ngoài chiếc áo hoa mầu xanh cổ vịt, đầu đội khăn thắm, chân đi đôi giày da hươu”.
Bạn bè mà nó giao du, dẫu là yêu quái cũng không đề cập tới việc xấu mà lũ yêu quái thường làm như ăn thịt người, phá hoại. Chúng chỉ bàn việc tu đạo, luyện đan.
Thế thì chủ định của Hắc Hùng Tinh là gì khi công nhiên mở Hội áo Phật? Cứ cho rằng nó không biết tin Kim Trì đã chết, nhưng áo cà sa là ăn trộm trong phòng riêng của Kim Trì, tức là đoạt trong tay Kim Trì. Mà Ngộ Không từ Quan Âm viện đã tới tận núi Hắc Phong đòi trả áo. Nay nó lại phát thiếp mời Kim Trì tới dự lễ là ý làm sao? Theo thuyết ấm mưu thì tấm thiếp ấy chủ định gửi tới tay thầy trò Đường Tăng. Bản thân cái tên “Hội áo Phật” đã nói lên sự hâm mộ của Hắc Hùng Tinh với Phật giáo, nó muốn được khoác lên mình tấm áo Phật. Hắc Hùng Tinh biết Đạo giáo đã suy, Phật giáo sắp hưng, nó đã bày tỏ mong muốn của mình. Nếu độc giả tinh ý thì sẽ thấy bộ ba Hắc Hùng, thì Lăng Hư Tử mặc áo đạo sĩ, con bạch xà hóa thân là Bạch y tú sĩ. Một bộ ba đầy đủ tam giáo Thích, Đạo, Nho, mà cuối cùng Đạo và Nho đều bị tiêu diệt, duy còn Hắc Hùng Tinh theo chân Quan Âm Bồ tát.
Thỉnh nguyện của Hắc Hùng Tinh đã thấu tới Quan Âm, nhưng để đoàn thỉnh kinh có thể hoạt động hiệu quả, nó không được ban cho một suất. Hắc Hùng Tinh tài nghĩ xấp xỉ Tôn Ngộ Không, nếu cùng lên đường thì không tránh khỏi tình cảnh một núi hai hổ. Nếu chẳng may công lao Hắc Hùng vượt qua lão Tôn thì biết ăn nói thế nào với Lão Quân? Cái vòng Cấm cô nhi chụp lên đầu Hắc Hùng Tinh phải chăng là để dập tắt sự bất mãn khi nó biết không được thành Phật hay Bồ tát mà phải là thần giữ núi Lạc Già?
5. Hoàng Phong lĩnh, thả chuột về đồng
Sau khi thu phục Bát Giới, đoàn thỉnh kinh đi tới núi Hoàng Phong, nơi có yêu quái chuột lông vàng. Sự xuất hiện của nó khá dễ đoán, nên ở đây chỉ lướt qua mà thôi. Hoàng Phong Đại vốn là “con chuột đắc đạo ở chân núi Linh Sơn, vì ăn trộm dầu trong chén lưu ly làm đèn tối mờ”, bị Phật tổ giao cho Linh Cát Bồ tát trấn áp. Bản thân phép thuật của con chuột này là Tam muội thần phong cũng mang ý nghĩa Phật giáo rồi. Linh Cát Bồ tát thả nó ở núi Hoàng Phong, cách núi Tu Di của Bồ tát tận ba ngàn dặm. Giả như không có Ngộ Không tới cầu cứu, liệu Linh Cát Bồ tát có biết yêu quái mình thả ra đang làm những gì không?
Một loạt các sự xuất hiện đúng lúc của Hộ pháp Già lam (tặng thuốc), Thái Bạch Kim Tinh (chỉ đường), đủ để thấy kiếp nạn này vốn được sắp đặt, chủ định làm tăng độ khó cho hành trình thỉnh kinh.
6. Ngũ Trang quán, nhị đào tam sĩ
Thầy trò Đường Tăng tới Vạn Thọ Sơn - Ngũ Trang Quán. Quán chủ là Trấn Nguyên Tử đi vắng, bèn dặn hai đồ đệ là Thanh Phong, Minh Nguyệt trảy xuống hai quả nhân sâm để mời Đường Tăng. Tích xưa Nhị đào sát tam sĩ vậy là được mang lên sân khấu.
Thời Xuân Thu, nước Tề có ba tráng sĩ là Cổ Dã Tử, Điền Khai Cương, Công Tôn Tiếp thờ Tề Cảnh Công. Ba người này cậy sức mạnh nên ngạo mạn vô lễ, Tướng quốc là Án Anh xin Cảnh Công dùng mẹo trừ đi. Tề Cảnh Công thuận theo, liền ban cho ba tráng sĩ hai trái đào tiên, sai họ kể công, hễ ai công lớn thì được ăn đào. Công Tôn Tiếp kể công giết hổ cứu giá, Cổ Dã Tử kể công giết con giải lớn, hai người được ban đào ăn, Tới phiên Điền Khai Cương kể công đánh dẹp quân xâm lăng, thì lại chẳng còn đào. Điền Khai Cương vừa uất vừa thẹn mà tự sát. Công Tôn Tiếp và Cổ Dã Tử xấu hổ mà tự sát theo. Đó là điển tích Nhị đào sát tam sĩ.
Trở lại với cây nhân sâm ở Vạn Thọ Sơn: “Giống cây này ba nghìn năm mới nở hoa, ba nghìn năm mới kết quả, lại ba nghìn năm nữa mới chín. Tính ra phải một vạn năm mới được ăn. Và trong một vạn năm ấy chỉ kết được ba mươi quả. Hình dáng quả này tựa đứa bé mới sinh chưa đầy ba ngày, tứ chi hoàn toàn, ngũ quan đủ cả. Ai có duyên được ngửi quả này một lần, thì sống lâu ba trăm sáu mươi tuổi; ăn một quả, sống mãi bốn vạn bảy nghìn năm.”
Loại quả này được mô tả hầu như giống với bàn đào của Vương Mẫu: “Một nghìn hai trăm cây ở phía sau, vỏ vân tím hột vàng lợt, chín nghìn năm mới chín, người ăn vào thọ ngang trời đất, sánh cùng nhật nguyệt.”
Có thể thấy tác giả đã dùng hai quả nhân sâm để ám chỉ tích nhị đào, Trấn Nguyên Tử bày ra độc kế để chia rẽ ba huynh đệ Tôn, Trư, Sa.
Quả nhân sâm vốn vô cùng trân quý, ăn một quả sống bốn vạn bảy nghìn năm, cho nên không việc gì phải mời Đường Tăng ăn tới hai quả. Sau này khi Quan Âm Bồ tát cứu cây nhân sâm bị Ngộ Không quật đổ, Trấn Nguyên Tử cũng chỉ mời mỗi người một quả mà thôi. Chủ ý của Trấn Nguyên Tử là Đường Tăng ăn một quả, còn dư một quả để các đồ đệ tranh nhau. Xét về ba huynh đệ thì Tôn Ngộ Không là đại ca, hiển nhiên sẽ dành phần này. Trư lão nhị tính tham ăn lại hay ganh tỵ tất sẽ không bỏ qua và kéo theo Sa lão tam là người cũng không được ăn về phe mình. Quả vậy, khi lão Trư phát hiện lão Tôn trảy cả thảy bốn quả, lập tức làm ầm lên: “A Di Đà Phật, lấy những bốn quả mà sao mang về có ba quả để chia nhau, thì ra anh đã biển thủ một quả rồi!”
Tại sao Trấn Nguyên Tử lại tìm cách chia rẽ đoàn thỉnh kinh? Bởi Trấn Nguyên Tử là ông tổ của Địa tiên, tức là đại biểu cho thế lực Đạo giáo trong dân gian. Nếu Phật giáo xâm nhập và chiếm lĩnh không gian của Đạo giáo, thì Trấn Nguyên Tử là người chịu thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất.
Đường Tăng không ăn quả nhân sâm, nên hai gã tiểu đồng đành tự ăn trái quý, bởi nếu đưa cả hai trái cho ba gã đồ đệ như tích Nhị đào sát tam sĩ, thì với bản tính ù lì lười biếng, lại mới gia nhập đội thỉnh kinh, Sa Tăng dẫu không có phần cũng chẳng dám một mình gây xích mích với hai vị huynh trưởng.
Tây Du Ký viết “Hai người [Thanh Phong, Minh Nguyệt] vào phòng trong, ngồi xuống mép giường đành chia nhau mỗi người ăn một quả”, tình cờ “Căn phòng ấy ở liền sát tường căn bếp, bên này nói khẽ, bên kia cũng nghe thấy.”
Nhưng nếu hai vị tiên đồng chỉ lẳng lặng ăn với nhau thì làm sao lão Trư ở phòng bên biết được “Đường Tăng không biết quả nhân sâm, họ đành mang vào phòng ăn với nhau.” Hay phải chăng họ vừa ăn vừa khúc khích cười đùa như trong phim Tây Du Ký 1986 đã dựng? Tôi nghiêng về giả thuyết hai tiên đồng cố ý để lọt thông tin về quả nhân sâm, để ngầm kích động bản tính của lão Tôn, bởi con khỉ ấy đến bàn đào cũng chẳng tha mà ăn trộm gần sạch.
Diễn biến tiếp theo của câu chuyện là một đoạn vòng vo, Trấn Nguyên Tử tìm mọi cách gây khó dễ. Theo Tây Du Ký mô tả thì khi hay tin Ngộ Không quật đổ cây nhân sâm, biểu hiện của Trấn Nguyên Tử khá bình tĩnh:
Minh Nguyệt đáp:
- Không, chỉ quật đổ cây nhân sâm của chúng ta thôi.
Đại tiên nghe thế vẫn không tỏ ra giận dữ, nói:
- Đừng khóc nữa. Các con không biết, người họ Tôn ấy cũng là một vị Thái Ất tiên tán đi, đã từng đại náo thiên cung, thần thông quảng đại nay lại quật đổ cây báu của ta. Các con còn nhớ mặt bọn chúng không?
Phía Ngộ Không thì sao? Con khỉ ấy biết thừa tâm cơ của vị ông tổ Địa tiên này, nên trong khi mọi người chạy trốn hết hơi lăn ra ngủ, thì “Riêng Tôn Đại thánh còn khỏe, nhảy lên cành cây đu nghịch.”
Ngộ Không đang chờ đợi điều gì? Rõ ràng đang chờ Trấn Nguyên Tử tới bắt gọn cả đám, chứ không nghĩ rằng đã trốn thoát. Bởi biết rõ ý nghĩa đích thực của hành trình thỉnh kinh, nên Tôn Ngộ Không cực kỳ thoải mái ứng phó với trò chơi của Trấn Nguyên Tử. Thậm chí trong màn kịch này, Ngộ Không còn nhân dịp thể hiện cho Đường Tăng thấy ai mới xứng là trò cưng của sư phụ.
Quả vậy, ngoại trừ một mình thu phục Bát Giới, các kiếp nạn tiếp theo mà đoàn thỉnh kinh gặp phải như khe Ưng Sầu, núi Hắc Phong, núi Hoàng Phong, sông Lưu Sa, Ngộ Không luôn phải viện tới các thế lực khác giúp đỡ. Với sự gia nhập của Sa Tăng thì trong con mắt Đường Tăng, vai trò của Tôn Ngộ Không không còn lớn lao như khi mới thâu nạp ở núi Lưỡng Giới. Vấn đề này thể hiện qua việc đuổi thẳng cổ Ngộ Không khỏi đoàn sau kiếp nạn Bạch Cốt, đồng thời Đường Tăng nhận định: “Con khỉ kia chớ có vô lễ! Cứ tưởng chỉ có nhà ngươi là người giỏi thôi à? Còn Ngộ Năng, Ngộ Tĩnh không giỏi chắc?”
Nếu chỉ cần người tùy tùng, hễ gặp nạn thì mời viện binh, trong con mắt Đường Tăng, Trư Sa nhị lão có khác gì lão Tôn? Hẳn chúng ta còn nhớ lần đầu tiên cầu viện Quan Âm, không phải do Ngộ Không tự thân mà do Kim đầu Yết đế đi thay.
Ngộ Không cần chứng tỏ tầm quan trọng của bản thân, nên trong màn kịch ở Ngũ Trang Quán, khi Trấn Nguyên Tử hai lần đòi đem roi da rồng tới quất Đường Tăng, Ngộ Không liền hai phen đem thân ra chịu thay thầy.
Về phần Trấn Nguyên Tử, ông ta thừa biết Đường Tăng là hóa thân của Kim Thiền Tử, đồ đệ của Phật tổ Như Lai, nhưng vẫn dám bắt giữ, thậm chí dọa ném vào vạc dầu sôi, ấy là bởi muốn ép Quan Âm phải ra mặt như một sự thỏa hiệp giữa Phật giáo với thế lực Đạo giáo dưới tay mình. Tôn Ngộ Không quật đổ cây nhân sâm, cũng như cắt đứt hương khói của nhân loại cung phụng Địa tiên; Quan Âm Bồ tát khôi phục lại cây nhân sâm, cũng mang ý nghĩa sẽ cùng nhau chia sẻ lợi ích thu từ nhân loại. Cuối cùng Trấn Nguyên Tử kết bái huynh đệ với vị Phật tương lai Tôn Ngộ Không.
Tác giả đã khéo chọn cái tên “nhân sâm” để ám chỉ lòng người. Vừa hay ám hợp giữa nhân sâm, trường thọ và xương khô.
7. Bạch Hổ lĩnh tam cố thảo lư
Nếu nhìn lại để so sánh chặng đường đã qua và chặng đường sắp tới, thì từ núi Lưỡng Giới tới sông Lưu Sa là địa phận chịu ảnh hưởng của Phật giáo với núi Ngũ Hành mà Phật tổ đè Ngộ Không, núi Xà Bàn mà Quan Âm thả Bạch Long, Quan Âm viện của Quan Âm Bồ tát, núi Phúc Lăng mà Trư Bát Giới trú ngụ, núi Hoàng Phong mà Linh Cát Bồ tát thả chuột vàng sông Lưu Sa mà Quan Âm thả Sa Tăng. Phải tới Ngũ Trang Quán mới là bắt đầu địa giới mà Đạo giáo thống lĩnh, vươn trải tới tận nước Ô Kê là nơi Văn Thù Bồ tát sai Thanh Sư xuống quấy nhiễu.
Sau khi Trấn Nguyên Tử kết nghĩa anh em với Tôn Ngộ Không, “lại tiệc tùng khoản đãi liên tục năm, sáu hôm”, phải tới khi Đường Tăng “chẳng chịu dùng dằng ở thêm, chủ nhân bất đắc dĩ đành để họ lên đường”. Có thực họ quyến luyến nhau đến vậy, hay Trấn Nguyên Tử cần thời gian để bố trí việc khuất tất nào đó đằng sau?
Vừa rời Ngũ Trang Quán, “chẳng mấy chốc thấy một ngọn núi cao” tức là Bạch Hổ Lĩnh của Bạch Cốt phu nhân. Tự nhiên câu chuyện Kim Thiền Tử hóa thân lại được nhắc tới “Lão vốn là Kim Thiền Tử hóa thân, tu hành mười đời, ăn được một miếng thịt của lão sẽ sống lâu mãi mãi”. Trên con đường họ đã trải qua, Hoàng Phong đại vương không hề biết lai lịch Đường Tăng, Lưu Sa quái (tức Sa Tăng sau này) dù đã ăn thịt chín hóa thân trước của Kim Thiền Tử nhưng cũng không hay biết rằng “ăn được một miếng thịt của lão sẽ sống lâu mãi mãi”. Thế thì ai đã nói cho Bạch Cốt phu nhân hay? Phải chăng chính là ông hàng xóm Trấn Nguyên Tử?
Trong cả ba lần đùa giỡn, Bạch Cốt phu nhân chưa từng thực sự có cơ hội ám hại Đường Tăng. Nhưng nó đã làm được việc mà Trấn Nguyên Tử thất bại: chia rẽ đoàn thỉnh kinh. Thành công này của Bạch Cốt, là cách mà tác giả ngầm khẳng định ý đồ chia rẽ của Trấn Nguyên Tử đã bàn ở phần trên.
8. Trư Bát Giới cũng có tâm cơ
Trong con mắt của độc giả Tây Du Ký, Trư Bát Giới là một gã ngốc tham ăn, lười biếng và ngu si. Nhưng nếu sử dụng góc nhìn như vậy, chúng ta sẽ không thể lý giải được việc Bát Giới năm lần bảy lượt xúc xiểm để Đường Tăng trục xuất Ngộ Không, cũng không thể lý giải được việc Bát Giới hăng hái xung phong giải cứu công chúa Bách Hoa Tu.
Lão Trư vốn tham, nhưng tham chứ không ngu. Gã dư biết rằng trong hành trình thỉnh kinh, công lao càng lớn thì quả vị càng to. Bởi gia nhập đoàn thỉnh kinh muộn hơn Ngộ Không, lại tài phép không bằng, nên đành tạm chịu ngồi dưới. Trong thâm tâm gã chưa lúc nào thôi nghĩ cách lật lão đại để cướp vị trí đầu.
Tôn Ngộ Không có một tật rất xấu, đó là ăn nói văng mạng. Đối với bề trên là sư phụ, con khỉ ấy nói năng cực kỳ vô phép, không có thứ bậc. Ngược lại Bát Giới lẻo mép, luôn luôn giả vờ ngu mà đứng sau lưng sư phụ. Điển hình như ở rừng Hắc Tùng khi Đường Tăng kêu đói, gã vỗ ngực: “Không lo, con đi chuyến này dù có khó khăn đến đâu cũng mang kì được cơm chay về cho sư phụ.” (thực tế là chui vào bụi cây đánh một giấc).
Khi tới Hoàng cung nước Bảo Tượng, được vua ban ngự tửu, gã nói ngay:
- Thưa sư phụ, lẽ ra chén rượu này để mời sư phụ. Nhưng quốc vương đã ban cho con, con không dám trái ý, xin uống trước để lấy khí thế bắt yêu quái.
Chú ngốc uống một hơi hết sạch, đoạn rót một chén dâng sư phụ.
Với kẻ biết nói lời ngon ngọt thế này, sư phụ nào có thể ghét bỏ mà đi bênh gã cục súc suốt ngày chê trách thầy.
Được sư phụ thiên vị chưa đủ, mục đích của Bát Giới là đuổi Tôn Ngộ Không đi, còn mình lên làm Đại sư huynh. Độc giả có thể băn khoăn rằng liệu Trư Bát Giới có biết tự lượng sức mình không? Dẫu làm Đại sư huynh mà không thể hàng yêu phục quái thì cái danh suông ấy có đáng gì? Trư Bát Giới đã quan sát rất kỹ việc làm của Ngộ Không từ núi Hoàng Phong cho tới núi Vạn Thọ, và rút ra kết luận rằng: Con khỉ kia chẳng tự thân làm nên trò trống gì cả.
Quả vậy, ở núi Hoàng Phong, giết Hổ tiên phong là công của Bát Giới. Ngược lại, Ngộ Không đánh nhau với Hoàng Phong đại vương bị thua, lập tức có Hộ pháp Già Lam tự động tới cho thuốc, rồi có Thái Bạch Kim Tinh tự động tới chỉ lối tìm Linh Cát Bồ tát để hàng phục yêu quái.
Ở sông Lưu Sa, đại chiến với Sa Tăng vẫn là Bát Giới, còn Ngộ Không đứng trên bờ hộ vệ sư phụ và tìm cách đánh lén, nhưng không thành. Cuối cùng Ngộ Không phải tới Nam Hải thỉnh Quan Âm Bồ tát thu phục yêu quái.
Ở núi Vạn Thọ, Ngộ Không là con khỉ gây họa, đánh nhau với Trấn Nguyên Tử thua thiệt cả hai phen, cuối cùng phải đi mời Quan Âm Bồ tát tới giải quyết.
Vậy là một chặng từ Cao Lão Trang tới Bạch Hổ Lĩnh, ngoại trừ cậy khỏe ăn hiếp Bát Giới ra thì Ngộ Không chưa thể hiện được bản lĩnh hơn đời. Nếu cứ gặp yêu quái hay trắc trở, lập tức có thần tiên, Bồ tát giáng hạ ra tay xử lý, thì lão Trư cũng làm được Đại sư huynh, bất quá mất chút công sức và miệng lưỡi thỉnh cầu mà thôi. Việc ấy Trư Bát Giới tin là mình giỏi hơn Tôn Ngộ Không.
Rốt cuộc tại Bạch Hổ Lĩnh, Bát Giới lập quyết tâm trở mặt với Đại sư huynh, Tôn Ngộ Không chủ quan mà lật thuyền trong máng. Nhưng Bát Giới không biết một điều rằng bạn phải là ai, bạn đại diện cho ai, thì chín phương trời mười phương Phật mới sẵn lòng ra mặt.
9. Nước Bảo Tượng, Thiên đình lên tiếng
Đường Tăng vì vô tri mà trục xuất Ngộ Không, phá hỏng quy hoạch của các phe nhóm lợi ích. Thiên đình đành phải ra mặt để dàn xếp sự cố này. Hoàng Bào quái chính là Khuê Mộc Lang trong Nhị thập bát tú trên trời đã sớm được cắt cử xuống hạ giới. Về thời điểm hạ trần của vị sao này, trong Tây Du Ký nói rằng đã từ 13 năm trước, mục đích để xe duyên với công chúa Bách Hoa Tu, nhưng điều này không mâu thuẫn với mệnh lệnh mà yêu quái nhận được. Hoàng Bào quái bắt được Đường Tăng, rồi Bách Hoa Tu - một vị cựu Ngọc nữ dâng hương ở điện Phi Hương của Thiên đình - đem thả. Đường Tăng chạy được tới Hoàng cung nước Bảo Tượng, Hoàng Bào quái đuổi theo và biến Đường Tăng thành hổ giam trong cũi. Hoàng Bào quái biết rằng ăn thịt Đường Tăng thì trường sinh bất lão, nhưng lúc thèm thịt người thì nó “túm lấy một cô gái đánh đàn tỳ bà, lôi tuột vào lòng, ngoạm một miếng mất đầu, nhai gau gáu” chứ quyết không hại tính mệnh Đường Tăng. Một trong Nhị thập bát tú trên trời mà uống rượu hạ giới tới mức say mèm, mất cả lý trí. Điều này không quá hợp lý. Tôi cho rằng gã đang cố dây dưa làm to chuyện để ép đoàn thỉnh kinh phải triệu hồi Tôn Ngộ Không. Sau khi Bát Giới tới Hoa Quả Sơn mời Ngộ Không quay lại, nhiệm vụ của Khuê Mộc Lang đã hoàn thành, được trở về Thiên đình. Kết thúc màn kịch ở nước Bảo Tượng, Ngộ Không làm màu giả bộ đòi bỏ đi, ép Đường Tăng và Sa Tăng phải xuống nước. Không phải vô tình mà Đường Tăng phải cam kết: “Chuyến đi này, sớm sang được Tây phương, khi nào trở về phương Đông, thầy sẽ tâu hết công lao số một của con với vua Đường.” Đường Tăng không nói đến tình nghĩa mà nhắc tới ghi công. Tôn Ngộ Không đã nhận được sự đảm bảo của sư phụ về vị trí “công lao số một” của mình trong hành trình thỉnh kinh.
Về số phận của Khuê Mộc Lang sau khi trở về Thiên đình, Tây Du Ký viết: “Ngọc Hoàng nghe nói, thu lấy kim bài, đày Khuê Tinh sang cung Đâu Suất đốt lò cho Thái Thượng Lão Quân, chừng nào có công sẽ phục chức, không có công sẽ trị tội nặng hơn.” Đốt lò thì làm sao có công được để mà phục chức? Vậy mà khi truy tìm tung tích Độc Giác Tỷ thì điểm danh ở cung Đẩu Ngưu đã thấy có mặt sao Khuê rồi. Phạt sao Khuê chẳng qua chỉ để biểu thị sự ủng hộ của Ngọc Đế đối với những gì Ngộ Không
làm. Mà hẳn là việc Khuê Mộc Lang tới cung Đâu Suất chỉ là một chuyến sang báo cáo tình hình cho Lão Quân mà thôi. Không phải tự nhiên mà kiếp nạn tiếp theo là hai tiểu đồng của Lão Quân hạ phàm.
10. Từ Bình Đính tới nước Ô Kê
Kế tiếp rừng Hắc Tùng là tới núi Bình Đính. Vừa trở lại, được Đường Tăng hậu thuẫn “chúng ta đây còn có Bát Giới, Sa Tăng đều là đồ đệ cả, tùy con sai khiến sử dụng, chúng có thể giúp đỡ con một tay, hiệp sức đồng lòng, dọn quang đường núi đưa ta qua thì lẽ nào lại không thành chính quả được sao?”, Tôn Ngộ Không đã thị uy bằng cách sai Bát Giới đi tiền trạm. Đầu tiên bóc mẽ để sư phụ biết lão Trư là kẻ hay nói dối, sau lại khiến Bát Giới bị yêu quái túm sống.
Trư Bát Giới biết mình bị chơi xỏ nên khi Ngộ Không hai lần biến hóa (thành Cửu Vỹ Hồ và thành tiểu yêu sau khi thoát khỏi sợi dây kim tuyến) nhằm cứu mọi người, gã đã không ngần ngại nói toạc hết ra, phá hỏng mưu kế của Đại sư huynh. Đằng nào Đường Tăng cũng không chết được, thì quyết không để Ngộ Không một mình lập công. Rất may là Ngộ Không ở hồi này cơ trí, đã tự giải quyết được tai kiếp mà giết yêu cứu thầy.
Sự xuất hiện của Thái Thượng Lão Quân khi mọi sự đã xong xuôi, lấy lại bảo bối và cứu đồng tử, cũng giống hết với việc Thiên đình lên tiếng ở rừng Hắc Tùng hay Văn Thù Bồ tát ở nước Ô Kê. Trong ba kiếp nạn liên tiếp, Ngộ Không đều chứng tỏ được bản lĩnh một mình giải quyết được yêu quái, rồi ba thế lực ủng hộ đoàn thỉnh kinh đều lần lượt lộ diện, như để khẳng định vai trò đầu tàu của Tôn Ngộ Không trong hành trình thỉnh kinh
Từ đó về sau, Trư Bát Giới triệt bỏ toàn bộ tâm cơ muốn thay thế vị trí mà Tôn Ngộ Không xứng đáng được hưởng.