Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18: Vô Tự Chân Kinh

❊ ❊ ❊

 Bất kỳ độc giả nào đọc hết bộ tiểu thuyết Tây Du Ký cũng đều vương vấn câu hỏi trong lòng, rốt cuộc các bộ kinh có chữ mà Đường Tăng đem về Đông Thổ là chân kinh, hay các bộ kinh không chữ mà Ca Diếp và A Nan đưa cho bốn thầy trò lúc đầu mới là chân kinh?

Như thường lệ, một cố sự trong Tây Du Ký luôn gồm ít nhất ba tầng ý nghĩa: Câu chuyện bề nổi, ý nghĩa ẩn sau và thâm ý của tác giả. Vấn đề duy nhất là chúng ta có bóc được các tầng ý nghĩa đó ra hay không mà thôi.

1. Vô tự - Hữu tự

Về bề nổi, Vô tự chân kinh là một câu chuyện có thể tóm tắt rằng thầy trò Đường Tăng tới gác báu chứa kinh, Ca Diếp và A Nan đòi ăn lễ bất thành, liền lừa đưa cho đoàn thỉnh kinh các bộ kinh không chữ. Nhiên Đăng Cổ Phật hay biết liền sai Bạch Hùng tôn giả dùng phép thuật xé tung gói đựng kinh thư. Thầy trò Đường Tăng biết bị lừa, liền quay lại Lôi Âm mách Phật tổ Như Lai. Phật tổ không trừng phạt hai vị đệ tử mà chỉ truyền cho họ lấy kinh có chữ đưa cho Đường Tăng. Sau khi phải đem chiếc bát vàng mà Đường Thái tông ban cho lúc mới lên đường hiến Ca

Diếp, A Nan, thầy trò Đường Tăng mới được nhận 35 bộ, 5.048 quyển kinh có chữ để đem về Đông Thổ.

Căn cứ theo lời Phật tổ: “Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi.”, thì hiển nhiên vô tự kinh cũng là chân kinh và đó mới là thứ kinh phù hợp với người Đông Thổ.

Chiếc bát vàng mà Đường Tăng hiến cho Ca Diếp, A Nan là vật tùy thân mà nhà tu hành dùng để khất thực trên đường. Ý nghĩa của việc dâng hiến thứ ấy đổi lấy chân kinh có thể được giải nghĩa rằng người tu hành sẵn sàng hi sinh mọi của cải vật chất (vật bằng vàng) lẫn tính mạng (đồ khất thực) để truy cầu chân lý, thể nghiệm đại đạo.

2. Kết tập kinh điển

Bởi trong hồi này liên quan tới vô tự chân kinh, Phật tổ và Ca Diếp, A Nan, nên nhiều người giải mật liên tưởng tới tích Niêm hoa vi tiếu của Thiền tông. Đức Phật giơ cành hoa, Ca Diếp mỉm cười, Đức Phật liền tuyên bố: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay ta phó chúc cho Ma ha Ca Diếp.” “Vô tự chân kinh” khá tương đồng với yếu chỉ “bất lập văn tự”, “dĩ tâm truyền tâm” của Thiền tông nên giải mật Vô tự chân kinh theo hướng này cũng có phần logic.

Tuy nhiên nếu như vậy thì Hữu tự chân kinh lại thành giả kinh, hệ quả là quá trình thỉnh kinh trở thành một cuộc lừa đời dối người vĩ đại, mà những gì Đường Tăng đem về Đông Thổ liệu có xứng để lưu truyền cho hậu thế? Nên chăng chúng ta hãy thử suy nghĩ theo hướng khác, đi theo một con đường đã xuyên suốt trong quá trình giải mật ở cuốn sách này. Như đã nói ở mục Đấu Chiến Thắng Phật chương Lão Tôn - Những cái tên - Những khoảnh đời, sau khi giúp Ngọc Đế thu phục Tôn Ngộ Không, Phật tổ Như Lai trở về Tây Thiên và nhập Niết Bàn. Năm trăm năm sau đó là thời điểm bắt đầu thiết lập hành trình thỉnh kinh của Đường Tăng. Trong lịch sử, khoảng thời gian Đức Phật Thích Ca bắt đầu truyền giáo cho tới sau khi ngài nhập Niết bàn 500 năm thì mọi kinh điển của Phật giáo đều tồn tại ở dạng truyền khẩu. Đó chính là ý nghĩa của Vô tự chân kinh, cũng giống như cách Ô Sào Thiền sư truyền Đa tâm kinh cho Đường Tăng trước đó.

Trong lần kết tập thứ tư tại Tích Lan (Sri Lanka) vào khoảng năm 20 TTL, vua Vattagamani triệu tập Đại hội Tăng Già gồm năm trăm vị tỳ kheo tại Aluhivihara để kết tập lại các phần Kinh, Luật, Luận. Ba tạng kinh điển được cho chép lại trên lá bối*. Từ đó Tam Tạng Kinh, Luật, Luận bằng tiếng Pali được thành hình. Năm 20 TTL chính là khoảng 500 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn, mà Đường Tăng tại thời điểm 500 năm sau khi Phật tổ Như Lai nhập Niết bàn tới nhận Hữu tự chân kinh chính là muốn ám chỉ lần Kết tập kinh điển và chép lên giấy này.

Có ba chủ thuyết về lần kết tập kinh thứ 4, địa điểm khác nhau (Kasmira / Sri Lanka); người khởi xướng và người chủ tọa cũng khác nhau. Khoảng thời gian cũng có chênh lệch, đại để được cho là khoảng từ 400-500 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Nhưng tựu trung đều coi đó là lần đầu tiên tam tạng kinh điển được chép lại bằng văn tự. 

Cũng bởi người Đông Thổ không biết tiếng Pali nên Như Lai mới nói họ hợp với chân kinh truyền khẩu: “Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi.”

3. Vô tự bi

Nếu chỉ dừng ở hai tầng ý nghĩa trên thì Tây Du Ký chưa xứng để đứng đầu Tứ đại kỳ thư văn học cổ điển Trung Quốc. Bên cạnh một câu chuyện bề nổi và một ám chỉ lịch sử Phật giáo, câu chuyện này còn được tác giả sử dụng để giễu cợt Hoàng đế Gia Tĩnh. Đó là dùng Vô tự chân kinh để ám chỉ Vô tự bi (bia không chữ).

Thông thường khi một vị Hoàng đế băng, thì bất kể sinh thời hành trạng ra sao, triều đình cũng sẽ dựng bia, đề văn với những lời lẽ hoa mĩ để ca tụng ân đức. Nhưng Minh Thái tổ lại là một vị Hoàng để kỳ lạ. Ngài răn dạy con cháu rằng: “Bài ký trên bia dựng ở Hoàng lăng, vốn đều câu chữ tô son trát phấn của đám đại thần, vô ích trong việc giáo dục con cháu hậu thế.”

Vì một câu ấy mà từ đó đó trở đi, văn võ đại thần trong triều không một ai dám viết văn bia cho Hoàng đế, mà đều do Hoàng đế kế lập đảm nhiệm. Bia của Minh Thái tổ là do Thành tổ lập ở Minh Hiếu lăng - Nam Kinh. Từ đời Thành tổ trở về sau, do Thành tổ tìm được khu đất phong thủy tốt ở Hoàng Thổ Sơn (sau đổi tên thành Thiên Thọ Sơn) nên nhiều lăng mộ các Hoàng đế đều được quy tụ ở đó. Bia Thành tổ do con trai là Nhân tông lập có đề bia văn ba ngàn chữ, nhưng từ các Hoàng lăng thứ hai trở về sau đều không lập nhà bia và bia (bao gồm 1. Hiến lăng của Nhân tông, 2. Cảnh lăng của Tuyên tông, 3. Dụ lăng của Anh tông, 4. Cảnh Thái lăng của Đại tông. 5. Mậu lăng của Hiến tông, 6. Thái lăng của Hiếu tông, 7. Khang lăng của Vũ tông).

Tới đời Gia Tĩnh, vị Hoàng đế thứ 12 của triều Minh này trong quá trình xây cất Vĩnh lăng cho bản thân mình, đã sai lập một tấm bia đá, muốn đời sau viết văn bia ca tụng công đức của mình. Nhưng đứng trước các Hoàng lăng tổ tiên chưa được lập bia thì làm vậy cũng không ổn. Ông ta liền cho lập bia đá và nhà bia cho tất cả các lăng. Cuối cùng là vấn đề văn bia. Dựa trên Thái tổ danh huấn, không đại thần nào dám cầm bút đề bia cả, mà tất cả chỉ trông chờ vào đích thân Gia Tĩnh đế. Tuy nhiên vị Hoàng đế này chỉ thích tu đạo, luyện đan cho nên các tấm bia đá đành phải để trống đến ngàn thu. Đó là câu chuyện kỳ lạ về thắng cảnh Minh thập tam lăng, mười hai tấm bia cao sừng sững không có lấy một chữ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.